Hoàng Dung
Chiến tranh Đông dương 3
Phần Kết
Sơ lược về một số sư đoàn bộ binh Việt nam
(Theo dõi về những đơn vị quân sự Việt nam là một điều khó khăn. Với
bản chất đa nghi, cùng với những yếu lố quân sự và chính trị, nên danh
hiệu các đơn vị của họ luôn được giấu kín hay thay đổi. Những trung đoàn
nằm trong các sư đoàn cũng luôn hoán chuyển. Vì thế, với khả năng hữu
hạn của tác giả, bảng sơ lược này đã không thể hoàn hảo như ý muốn).
¤ Sư đoàn 2: trước 1975, hoạt động tại Quảng Ngãi, đối đầu với sư đoàn 2
VNCH. Năm 1978, tăng phái quân đoàn 4 xâm lăng Campuchia.
¤ Sư đoàn 3: hay Sao Vàng, trước hoạt động tại Quy Nhơn, sau 1975 đổi
ra Bắc, giữ trách nhiệm phòng thủ Lạng Sơn trong trận chiến biên giới
Việt Hoa (thuộc quân đoàn 14). Sư đoàn 4: chủ lực quân khu IX (cùng với
các sư đoàn 8 và 330).
¤ Sư đoàn 5: từng hoạt động tại vùng Phước Tuy, sau 1975, là chủ lực
quân khu VII.
¤ Sư đoàn 6: Trước 1975, thuộc quân đoàn 4, sau đó không thấy nhắc đến,
có lẽ đã bị sư đoàn 18 VNCH đánh tan trong trận Xuân Lộc.
¤ Sư đoàn 7: tuy nói là được thành lập tại miền Nam trong chiến tranh
Đông dương II, nhưng đa số là quân của sư đoàn 312 Bắc Việt xâm nhập.
Sau 1975, được biên chế vào quân đoàn 4.
¤ Sư đoàn 8: chủ lực quân khu IX, tăng cường cho quân đoàn 2 xâm lăng
Campuchia, được thành lập đầu năm 1975.
¤ Sư đoàn 9: thuộc quân đoàn 4. Trước 1975, hoạt động ở Tây Ninh và
biên giới Việt Miên. Sư đoàn đầu tiên của Việt cộng. Sư đoàn lo: thuộc
quân đoàn 3. Trước 1975, hoạt động tại Pleiku, Kontum, còn gọi là F 10.
¤ Sư đoàn 302: trước là sư đoàn 2 Việt cộng, hoạt động trong vùng Hậu
Nghĩa, Tây Ninh (khác với sư đoàn 2 ở Quảng Ngãi). Sau 1975, là chủ lực
của quân khu VII. Sư đoàn 303: trước là sư đoàn 3 Việt cộng, hoạt động ở
Mậu Thân tại Huế. Thuộc quân đoàn 2. Sư đoàn 327: thuộc quân đoàn 14,
bị tràn ngập trong thị xã Lạng Sơn trong trận chiến Việt Hoa.
¤ Sư đoàn 330: Thành lập tại miền Nam rồi tập kết ra Bắc (lúc đó tư lệnh
Đồng Văn Cống). Sau 1975, là chủ lực quân khu IX
¤ Sư đoàn 335: Trong chiến tranh Đông dương I, được gọi sư đoàn Thái,
tuy nhiên sau này không thấy nhắc đến.
¤ Sư đoàn 337: sau 1975, thuộc quân khu IV ra tăng cường phòng thủ
Lạng Sơn, biên chế vào quân đoàn 14.
¤ Sư đoàn 338: cũng là một sư đoàn tập kết (tư lệnh Tô Ký). Năm 1975,
thuộc quân đoàn 1, tấn công Sài gòn. Năm 1979, biên chế vào quân đoàn
14, phòng thủ cầu Khánh Khê, Lạng Sơn.
¤ Sư đoàn 339: đơn vị chiếm Kompong Speu đầu năm 1979, sau giữ việc
phòng thủ Phnom Penh.
¤ Sư đoàn 341: thành lập tháng 7-1972 tại Nghệ An nhằm tăng cường mặt
trận Quảng Trị sau khi các sư đoàn 304, 308, 325 bị tổn thất nặng trong
mùa hè đỏ lửa. Năm 1975, được biên chế vào quân đoàn 4. Còn gọi là sư
đoàn Sông Lam.
¤ Sư đoàn 345: phòng thủ Lào Cai, thuộc quân khu II. Sư đoàn 347: thuộc
quân đoàn 14 phòng thủ Lạng Sơn.
¤ Sư đoàn 390: thuộc quân đoàn 1.
¤ Sư đoàn 411: được thành lập sau khi Hà nội tổng động viên.
¤ Sư đoàn 567: phòng thủ Cao Bằng trong chiến tranh biên giới.
¤ Sư đoàn 711: trong chiến tranh Đông dương II, hoạt động tại Quảng Tín,
Tam Kỳ.
¤ Sư đoàn 968: hoạt động tại Kontum, Pleiku trong trận chiến Đông
dương II. Sau 1975, trú đóng tại Lào.