Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội - Chương 6 - Pdf 17

Đo lường tác động môi trường …

Chương 6 Đo lường tác động
môi trường của tăng trưởng
kinh tế vùng bằng mô hình cân đối
liên ngành liên vùng
Lê Hà Thanh
1
Diễn đàn Phát triển Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Bùi Trinh & Dương Mạnh Hùng
Tổng cục Thống kê

Trong những năm qua, Hà Nội đã có nhiều đổi mới về chính sách phát triển
kinh tế. Những thành tự cơ bản đạt được bao gồm mức tăng trưởng GDP bình
quân hàng năm trên 11%, tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nâng cao
chất lượng đời sống cho nhân dân. Tuy nhiên cùng với nhịp độ tăng trường
kinh tế cao và quá trình công nghiệp hoá đang diễn ra sâu rộng, cũng như cả
nước, Hà Nội đã và đang phải đối đầu với với các vấn đề môi trường nghiêm
trọng như ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí từ các nhà máy, các hộ gia đình,
lạm dụng thuốc trừ sâu và phân hoá học.
Để đảm bảo phát triển bền vững, Hà Nội cần nhanh chóng giải quyết các vấn
đề môi trường thông qua nhiều giải pháp như pháp luật, công nghệ, chính
sách kinh tế và môi trường, nâng cao nhận thức của các tầng lớp trong xã hội,
và lôi kéo sự tham gia của quần chúng. Chiến lược phát triển bền vững cần
được xây dựng trên cơ sở hiểu biết toàn diện về mối quan hệ giữa phát triển
kinh tế và chất lượng môi trường. Các chính sách về môi trường và kinh tế

1
Các tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn đối với Hiệp hội nghiên cứu Kinh tế môi trường và
kinh tế lượng – AREES vì đã cho phép sử dụng một phần kết quả nghiên cứu. Các tác
giả xin chân thành cảm ơn TS. Kim Kwang Moon (Đại học công nghệ Toyohashi,

gia, trong đó có Việt Nam.
Tại Việt Nam, từ năm 1996 việc lượng hoá các ảnh hưởng môi trường của
tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng thông qua mô hình I-O đã
được thực hiện. Vào năm 2000 mô hình tương tự đã được áp dụng cho tp. Hồ
194
Đo lường tác động môi trường …
Chí Minh. Mặc dù mục tiêu, giới hạn nghiên cứu của các công trình trên có
nhiều khác biệt song về cơ bản các nghiên cứu đều sự dụng chung 1 phương
pháp luận. Việc áp dụng mô hình I-O liên vùng có nhiều lợi ích. Thứ nhất,
mô hình này cho phép xem xét ảnh hưởng về mặt không gian của một hoạt
động kinh tế cụ thể. Thứ hai, mô hình này là công cụ hữu hiệu trong việc xem
xét tác động qua lại giữa các vùng trong cả nước. Thứ ba, mô hình này cho
phép tiến hành các dự báo trong dài hạn.
Mặc dù có nhiều ưu điểm song mô hình I-O liên vùng cũng có nhiều khiếm
khuyết. So sánh với mô hình I-O quốc gia, mô hình I-O liên vùng đòi hỏi
nhiều số liệu về việc luân chuyển các dòng hàng hoá và dich vụ giữa các
ngành và các vùng. Trên thực tế có rất nhiều hoạt động không dễ phân định
cho một vùng cụ thể nào đó, như việc cung cấp các dịch vụ công của nhà
nước. Vấn đề tiếp nữa là rất nhiều công ty có chi nhánh tại nhiều địa phương
nhưng trụ sở chính lại đặt tại một địa phương khác. Mặc dù còn nhiều hạn
chế, việc áp dụng mô hình I-O liên vùng hỗ trợ cho quá trình ra quyết định
một cách chính xác hơn, bởi lẽ nó không chỉ mô tả các quan hệ một cách
chuẩn xác mà còn định lượng các quan hệ đó.
Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu này là giới thiệu mô hình đo lường tác động
liên ngành và liên vùng của các hoạt động kinh tế cũng như các tác động môi
trường tiềm ẩn của các hoạt động này. Nghiên cứu này sẽ tập trung chủ yếu
tại Hà Nội. Ô nhiễm nước được xem là vấn đề bức xúc nhất của thành phố.
Chỉ tiêu được sử dụng để phản ánh mức độ ô nhiễm là nhu cầu oxi sinh hoá
(BOD). Đặc biệt nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phân rã nhân tử liên
vùng do Miyazawa (1976) đề xuất nhằm xác định ảnh hưởng môi trưởng của

sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu.
Với vị trí địa lý tương đối thuận lợi, Hà Nội là không chỉ là thủ đô của cả
nước mà còn là đầu mỗi giao thương đường bộ, đường sắt và đường hàng
không. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Hà Nội vào khoảng
11%/năm kể từ 1990. GDP bình quân đầu người của Hà Nội năm 2004 đạt
khoảng 18,2 triệu đồng theo giá hiện hành. Quá trình công nghiệp hóa và đô
thị hóa nhanh chóng đã giúp Hà Nội trở thành trung tâm thương mại của cả
nước. Hệ thống nhà hàng, khách sạn và văn phòng đại diện đã và đang được
xây dựng và hoàn thiện.
Kinh tế tăng trưởng nhanh luôn gắn liền với những ảnh hưởng tiêu cực về
môi trường. Ô nhiễm nguồn nước, không khí, lạm dụng phân hoá học và
thuốc trừ sâu là những ví dụ cụ thể về những hệ quả không mong muốn từ
phát triển kinh tế của Hà Nội, trong đó, ô nhiễm nguồn nước đã và đang là
vấn đề nghiêm trọng nhất. Trên thực tế, chất lượng nước mặt của các sông và
hồ quanh Hà Nội đã và đang xuống cấp nghiêm trọng. Nồng độ BOD
5
, NH
4
+
và COD trong nước mặt cao hơn gấp từ 2 tới 10 lần nồng độ tối đa cho phép.
Nồng độ NO
3
, TSS, tổng coliform, photpho cũng cao hơn tiêu chuẩn cho
196
Đo lường tác động môi trường …
phép từ 2-20 lần. Sông Nhuệ và 4 con sông nhỏ khác đã và đang được xem
xét cải tạo do tình trạng ô nhiễm quá cao.
Hệ thống thoát nước ở Hà Nội là một hệ thống phức tạp, kết hợp nước thải
sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước mưa hoạt động theo cơ chế tự chảy.
Nước thải từ Hà Nội được dẫn vào những con sông nhỏ và hòa vào dòng

Nguồn: Hà Nội DOSTE, Hiện trạng và đánh giá tác động môi trường Hà Nội
Hàng ngày, khoảng 500.000m
3
nước thải chưa qua xử lý được thải trực tiếp
vào hệ thống thoát nước của Hà Nội trong đó hơn 100.000 m
3
là nước thải
của các nhà máy. Phần còn lại là nước thải sinh hoạt và nước thải bệnh viện.
Hệ thống thoát nước của Hà Nội yếu kém vốn chỉ phù hợp với chức năng
thoát nước mưa đã góp phần làm cho mức độ ô nhiễm ngày một gia tăng.
197
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội
Nước thải sinh hoạt
Dân số Hà Nội đang tăng lên nhanh chóng. Hiện tại, Hà Nội có khoảng 3,12
triệu dân trong đó có 1,95 triệu người sinh sống trong khu vực nội thành. Bên
cạnh đó, hàng ngày có hơn 12 ngàn du khách và hàng ngàn công nhân từ các
tỉnh thành lân cận tới Hà Nội kiếm việc làm. Khối lượng nước thải sinh hoạt
của Hà Nội khoảng 350.000 m
3
ngày đêm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng
nước thải của thành phố. Nước từ rác thải, các nhà vệ sinh không đúng qui cách
là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu. Khối lượng chất thải trung bình trên đầu người
là 6-12g nitơ, 2-3g photpho và hơn 400 loại vi khuẩn khác trong đó có hàng
trăm loại có khả năng gây hại cho sức khỏe con người. Nước thải sinh hoạt có
nồng độ nitơ, photpho, vi khuẩn đặc biệt là coliform rất cao. Nước thải, nước
đọng và nước cống là nơi trú ngụ lý tưởng cho các loại vi khuẩn, muỗi và côn
trùng gây hại có khả năng gây ra bệnh dịch trên diện rộng.
Nước thải công nghiệp
Nước thải công nghiệp là tác nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước ở Hà Nội.
Khoảng 274 nhà máy lớn tọa lạc trong thành phố trong đó có 68 nhà máy gây

tích
(ha)
Số
giường
Hàng
ngày
(m
3
/ngày)
Hệ thống
xử lý
1 Bệnh viện Bạch Mai 14,00 1.000 450 Không có
2 Bệnh viện Saint Paul 1,92 500 300 Không có
3 Bệnh viện Đống Đa 2,00 300 160 Không có
4
Bệnh viện y học dân
tộc
250 100 Không có
5 Viện K 150 30 Không có
6 Bệnh viện Hữu Nghị 2,00 350 700 Có
7 Viện Nhi 450 600 Có
8 Bệnh viện Phụ sản 2,20 200 120 Không có
9 Viện Mắt TW 0,25 220 148 Không có
10 Viện 108 10,00 600 350 Có
11 Viện Lao 3,30 375 200 Có
12 Bệnh viện Việt Đức 3,00 600 300 Có
13
Bệnh viện Hai Bà
Trưng
375 Có

Đo lường tác động môi trường …
Sự quan tâm của Chính phủ
Vấn đề môi trường lần đầu tiên được chính thức đề cập ở cấp độ nhà nước
vào những năm 1990 trước việc suy giảm chất lượng môi trường nghiêm
trọng do các hoạt động kinh tế ở Việt Nam. Mặc dù trên thức tế những suy
tính về vấn đề môi trường đã được nhắc tới vào khoảng những năm 1960,
song quyền được hưởng chất lượng môi trường trong sạch chỉ được bổ sung
vào Hiến pháp năm 1992. Tiếp sau đó, hàng loại các văn bản pháp luật liên
quan tới môi trường được ban hành và các cơ quan quản lý được thành lập.
Năm 1993, Ban quản lý môi trường trực thuộc Thủ tướng Chính phủ được
nâng cấp thành Bộ Khoa Học Công nghệ môi trường (MOSTE). Năm 1992,
Luật môi trường chính thức được thông qua với các điều khoản cụ thể liên
quan tới chất lượng nước, không khí, chất thải rắn v.v
Tuy nhiên sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đó có lẽ vẫn chưa thật đầy đủ.
Chỉ lấy đơn cử 1 trong số rất nhiều vấn đề của quản lý nhà nước về môi
trường là hệ thống tổ chức quản lý trong lĩnh vực bảo về môi trường để minh
chứng.
Theo thống kê sơ bộ, hiện nay cả nước đã có hơn 300 đơn vị, tổ chức kinh tế
xã hội đang hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến công tác bảo
vệ môi trường. Hệ thống tổ chức quản lý ở Trung ương đã được hình thành
tương đối đồng bộ từ Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường trước đây, nay
là Bộ Tài nguyên và môi trường đến các Cục, Vụ, Viện nghiên cứu ở các bộ,
tổng cục ở địa phương. 64 tỉnh thành trong cả nước đều có các đơn vị Sở, Chi
cục, Công ty hoặc đơn vị tương đương quản lý và thực thi nhiệm vụ làm sạch
môi trường. Các đơn vị này là lực lượng nòng cốt cho công tác bảo vệ môi
trường ở địa phương. Tuy nhiên hệ thống quản lý môi trường còn nhiều bất
cập, cơ cấu tổ chức quản lý còn chưa tương xứng với nhiệm vụ đặt ra. Một
điều thật đáng ngạc nhiên là số lượng cán bộ của Cục Môi trường chỉ có
khoảng 70 người, số cán bộ quản lý ở các tỉnh trung bình là 2-4 người. Tính
chung trên cả nước tỷ lệ cán bộ quản lý môi trường là 4 người rên 1 triệu dân,

Nguồn: MONRE, Cục Môi trường
Một bất cập khác của công tác quản lý môi trường tại Hà Nội là đặt ra những
mục tiêu môi trường quá kì vọng. Gần đây, UBND Thành phố Hà Nội đã phê
duyệt “Chương trình hành động về bảo vệ môi trường của Thủ đô”. Theo đó,
đến năm 2010, 20-25% tổng số nước thải của Hà Nội sẽ được xử lý hoàn
toàn, 80% số KCN sẽ phải lắp đặt hệ thống xử lý nước thải. Tuy nhiên trên
thực tế, tồn tại một khoảng cách quá lớn giữa khả năng và nhiệm vụ. Theo số
liệu của Sở tài nguyên môi trường Hà Nội, mỗi ngày có khoảng 500.000 m
3

nước thải được thải vào hệ thống cống của Thủ đô, trong đó có 100.000 m
3

nước thải công nghiệp. Con số này sẽ đạt mức 700.000 m
3
đến năm 2020.
Phần lớn các nhà máy đều thải trực tiếp không qua xử lý. Có hơn 40 nhà máy
lắp đặt hệ thống xử lý nước thải nhưng không vận hành. Kết quả điều tra của
202
Đo lường tác động môi trường …
Sở tài nguyên môi trường Hà Nội trong năm 2004 cho thấy, 90% cơ sở công
nghiệp hoạt động trên địa bàn Hà Nội không có hệ thống xử lý nước thải.
Toàn thành phố mới chỉ có 3 nhà máy xử lý nước thải tập trung với công suất
hạn chế và phần lớn đang trong giai đoạn thi công. Có thể nói, bất cứ kế
hoạch nào nếu bỏ qua yếu tố này khó trở thành hiện thực.
Có thể nói, vấn đề môi trường ở Hà Nội mới chỉ dừng lại ở chủ trương, chính
sách, định hướng mà chưa tạo nên một sự quan tâm đích thực từ phía các nhà
hoạch định chính sách.
Nhận thức môi trường của các doanh nghiệp
Mặc dù phát triển bền vững không chỉ thuộc trách nhiệm của riêng một ai,

nguồn nước mặt gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Ngay cả những doanh
nghiệp tiêu biểu về môi trường việc tuân thủ 100% các qui định vẫn là câu
hỏi lớn
2
.
Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước
vẫn chưa thoát khỏi thói quen bao cấp. Đại đa số các doanh nghiệp vẫn cho
rằng, bảo vệ môi trường là công việc của nhà nước. Chương trình “Sản xuất
sạch hơn” là một ví dụ điển hình.
Chương trình sản xuất sạch hơn (SXSH) được đưa vào Việt Nam từ năm 1996.
Chương trình này thực sự phổ biến rộng rãi và áp dụng trình diễn kỹ thuật từ
năm 1998 trong các ngành công nghiệp khác nhau. SXSH cho phép nâng cao
hiệu suất sản xuất và giảm rủi ro đối với con người và môi trường. Đối với quá
trình sản xuất, SXSH bao gồm giảm tiêu thụ nguyên liệu, năng lượng cho một
đơn vị sảm phẩm, loại bỏ tối đa các vật liệu độc hại, giảm lượng và mức độ độc
hại của tất cả các dòng chất thải trước khi ra khỏi quá trình. Đối với sản phẩm,
SXSH tập trung vào việc làm giảm các tác động tới môi trường trong suốt vòng
đời của sản phẩm kể từ khi khai thác nguyên vật liệu thô đến khi thải bỏ cuối
cùng. Tiềm năng của SXSH được thể hiện trong Bảng 4.
Lợi ích từ SXSH là to lớn. Nó cho phép giảm thiểu các vấn đề môi trường
trong bối cảnh trình độ công nghệ thấp, nguồn lực đầu tư cho môi trường còn
hạn chế. Tuy nhiên sau gần 7 năm áp dụng và triển khai trong công nghiệp,
cho đến nay mới có 130 doanh nghiệp thuộc 28 tỉnh và thành phố tham gia

2
Tháng 7/2006 Sở tài nguyên môi trường Hà Nội đã tiến hành thanh tra 9 nhà máy
thải nước thải trực tiếp ra sông Nhuệ và sông Đáy. Trong số 9 nhà máy có duy nhất 1
nhà máy đạt chuẩn cho phép.
204
Đo lường tác động môi trường …

trên địa bàn Hà Nội. Các tiêu chí được sử dụng để phân hạng thể hiện trong
Bảng 5.
205
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội
Bảng 5: Tiêu chí phân hạng doanh nghiệp
Tiêu chí Nội dung
Tiêu chí 1

Tiêu chí 2
Tiêu chí 3
Tiêu chí 4
Tiêu chí 5
Tiêu chí 6
Tiêu chí 7
Tiêu chí 8
Tiêu chí 9
Tuân thủ TCVN 5945-1995 đối với BOD, COD, TSS, độ màu và
độ pH
Sự khiếu tố của cộng đồng
Sự cố môi trường do cơ sở gây ra
Có lắp đặt hệ thống xử lý nước thải
Thực hiện tự quan trắc môi trường và hệ thống thông tin
Khối lượng nước sử dụng
Sự hợp tác của doanh nghiệp
Áp dụng chương trình sản xuất sạch hơn
Có chứng chỉ ISO 14000 về môi trường
Nguồn: Sở Khoa học Công nghệ môi trường Hà Nội
Các doanh nghiệp được xếp hạng theo 5 loại : Xuất sắc, khá, đạt, chưa đạt,
kém.
Kết quả thu được trong quá trình khảo sát thật đáng quan ngại. Trong số các

Ý thức về môi trường của người dân
Một trong những vấn đề được sự đồng thuận cao là người dân phải được đặt
vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển và việc bảo vệ môi trường cần
phải trở thành ý thức hệ của mọi người. Đó chính là lý do tại sao nâng cao ý
thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường là vấn đề trọng tâm thường thấy
trong nhiều dự án quốc tế và chính phủ ở Hà Nội. Từ khi Luật Bảo vệ Môi
trường có hiệu lực, một số tiến bộ nhất định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
đã đạt được. Ở Hà Nội, thói quen của cộng đồng về bảo vệ môi trường đã
được cải thiện. Người dân thôi không vứt rác ra đường để tránh gây ô nhiễm,
bắt đầu thu rác làm phân xanh, và sẵn sàng áp dụng sản xuất công nghệ sạch.
Rất nhiều nơi ở Hà Nội, đặc biệt ở vùng ngoại thành, việc bảo vệ môi trường
được qui định tại các cụm dân cư. Người dân địa phương đóng vai trò quan
trọng nhất trong việc hoạch định và giám sát việc thực hiện các quy định đó.
Đáng tiếc là việc bảo vệ môi trường vẫn chưa được thấm nhuần trong tất cả
suy nghĩ và hành vi thường xuyên của tất cả mọi người.
207
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội
Một khảo sát nhỏ đã được tác giả tiến hành mùa hè 2005 tại Hà Nội dựa trên
phiếu điều tra. Phần đầu yêu cầu các đối tượng điều tra đánh dấu mức độ quan
trọng mà mọi người cho là phù hợp nhất đối với từng câu hỏi về các vấn đề môi
trường. Phần hai yêu cầu đối tượng mô tả tình trạng môi trường tại địa phương
mình đang sinh sống. Khảo sát được tiến hành tại 5 quận/huyện. 3 trong số đó
tại quận nội thành bao gồm quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân, và
hai huyện ngoại thành là Gia Lâm và Thanh Trì. Trong mỗi quận/huyện 15 hộ
gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên với tổng số mẫu là 75 hộ.
Phần lớn những người trong diện khảo sát (98%) nhất trí rằng ngày nay vấn
đề môi trường đang trở thành nguy cơ và cần phải được giải quyết. Đa số
(67%) cho rằng nếu phát triển bền vững không được thực hiện một cách đúng
đắn thì chất lượng môi trường sẽ trở nên tồi tệ hơn. Tuy nhiên mức độ
nghiêm trọng của vấn đề môi trường thay đối theo địa phương. Kết quả khảo

khác trong việc bảo vệ môi trường được đánh giá cao và khẳng định ở Hà
Nội kể cả nội và ngoại thành. Một ví dụ với tần số nhắc lại cao (90%) trong
phiếu điều tra của trường hợp tại xã Văn Điển. Trước sức ép của cộng đồng,
chính quyền và ban ngành địa phương đã bắt buộc những người gây ra ô
nhiễm phải tuân thủ luật pháp.
Căn cứ vào kết quả khảo sát, chúng tôi có thể kết luận rằng phần lớn mọi
người đều có ý thức về vấn đề môi trường nhưng kiến thức chưa thật sâu
rộng. Điều này phụ thuộc vào vị trí địa lý, trình độ học vấn và nhiều yếu tố
khác. 80% số người được khảo sát cho rằng bảo vệ môi trường là trách nhiệm
của chính phủ và chỉ có công nghệ hiện đại mới giải quyết được các vấn đề
môi trường. Mối quan hệ giữa Chính phủ - Doanh nghiệp và cộng đồng trong
công tác bảo vệ môi trường chưa được nhìn nhận và thực hành đầy đủ.
4. Khung phân tích tác động môi trường của tăng
trưởng kinh tế vùng
Phần này sẽ tập trung nghiên cứu khung phân tích tác động môi trường của
tăng trưởng kinh tế vùng dựa tên mô hình I-O liên vùng giữa Hà Nội, Tp.
HCM và ROV. Việc xây dựng mô hình I-O liên vùng giữa Hà Nội, Tp. HCM
209
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội
và ROV dựa trên mô hình do GS. Miyazawa đề xuất năm 1976, được phát
triển bởi Miller và Blair năm 1985, Sonis và Herwing năm 1993.
Mô hình I-O liên vùng sử dụng trong nghiên cứu này là một cách phát triển
mô hình I-O do AREES thực hiện năm 2005. Tác động liên vùng của các
hoạt động kinh tế có thể mô phỏng theo hình sau:
Hình 1. Tác động liên vùng trong mô hình I-O 3 vùng

Theo mô hình trên, hoạt động kinh tế của vùng 1 sẽ dẫn đến sự gia tăng nhu
cầu cuối cùng tại vùng 1. Việc gia tăng nhu cầu cuối cùng của vùng 1 dẫn
đến sự gia tăng đầu ra của vùng này. Điều này thúc đẩy các hoạt động thương
mại của vùng 2 và vùng 3. Tác động này gọi là tác động lan toả. Nhằm thoả




=
333231
232221
131211
AAA
AAA
AAA
A
(2)

Trong phương trình (2) mỗi phần tử là một ma trận cho bởi A
ij
với i là vùng
sản xuất và j là vùng tiêu thụ. Theo đó A
11
, A
22
và A
33
là ma trận nội tại của
Hà Nội, Tp. HCM và ROV, các ma trận còn lại là ma trận thương mại giữa
các vùng. Ví dụ, ma trận A
21
cho biết Hà Nội sử dụng các các sản phẩm của
Tp. HCM.
Tương tự như vậy, phương trình (1) có thể được viết lại dưới dạng ma trân
liên vùng như sau:









333231
232221
131211
1
333231
232221
131211
333231
232221
131211
YYY
YYY
YYY
A1AA
AA1A
AAA1
XXX
XXX
XXX
(3)

Trong trường hợp này, X

V

212
Đo lường tác động môi trường …










=
*
3
*
2
*
1
*
V00
0V0
00V
V
(4)

Với:
*

.
V
1
là ma trận tổng tác động của chất thải phát sinh tại vùng 1, V
2
là ma trận
tổng tác động của chất thải phát sinh tại vùng 2 và V
3
là ma trận tổng tác
động của chất thải phát sinh tại vùng 3.
Đối với mỗi vùng ma trận tác động liên vùng bao gồm 3 phần tử: tác động
bên trong, tác động lan tỏa và tác động ngược liên vùng.
213
Môi trường và chính sách kinh doanh của Hà Nội
V
n
= V
1
n
+ V
2
n
+ V
3
n
(6)
Với V
1
n
= V

liên vùng đặc biệt chú trọng tới Hà Nội.
Nhân tử môi trường nội vùng được thể hiện trong bảng 7. Bảng này được
chia thành nhiều cột gồm tác động nội vùng, tác động bên trong, tác động lan
toả. Ví dụ, tại cột tác động nội vùng của Hà Nội, hệ số đối với ngành Nguyên
liệu sản xuất là 0.000455. Điều này có nghĩa là cứ tạo ra 1 triệu đồng nhu cầu
cuối cùng của ngành này tại Hà Nội thì sẽ tạo ra đồng thời 0.000455 tấn BOD
trong đó 0.000387 tấn BOD thải ra tại Hà Nội và 0.000068 tấn còn lại thải ra
214
Đo lường tác động môi trường …
tại các địa phương khác. Số liệu tương tự của Tp. HCM và phần còn lại của
Việt Nam là 0.000538 và 0.010850, cho thấy cứ mỗi triệu đồng nhu cầu cuối
cùng về Nguyên liệu sản xuất của Tp. HCM và ROV sẽ tạo ra 0.000538 và
0.010850 tấn BOD. Đối với hầu hết các ngành nghiên cứu, nhân tử nội vùng
của ROV đều cao hơn Hà Nội và Tp. HCM.
Về tác động bên trong của mỗi vùng, rất dễ nhận thấy phần lớn các tác động
môi trường nảy sinh đều chủ yếu giới hạn trong phạm vi địa phương sản xuất.
Nhân tử bên trong cao hơn rất nhiều so với nhân tử lan toả. Tác động môi
trường nội vùng chiếm tới 54-84% tác động môi trường của Hà Nội, 63-86%
của Tp. HCM và 61-86% của ROV. Nếu xét trên góc độ địa lý, điều này hoàn
toàn hợp lý. Nguồn ô nhiễm càng gần, tác động môi trường càng lớn.
Tuy nhiên ngoài tác động bên trong do ô nhiễm gây ra, các hoạt động kinh tế
cũng có thể tạo ra nhiều vấn đề môi trường cho các địa phương khác. Sẽ rất
lý thú nếu so sánh giá trị của nhân tử bên trong với nhân tử nội vùng thể hiện
trong bảng 7. Như đã thấy, nhân tử nội vùng cao hơn nhân tử bên trong bởi
nhân tử nội vùng bao gồm cả nhân tử lan toả. Ví dụ, khi nhu cầu cuối cùng
của Hà Nội gia tăng, Hà nội sẽ cần thêm đầu vào từ các địa phương khác
ngoài Hà Nội. Theo đó, sản xuất của các địa phương này sẽ gia tăng theo.
Các tác động môi trường cũng diễn ra theo phương thức như vậy. Do đó bất
cứ sự thay đổi nào về nhu cầu cuối cùng của Hà Nội cũng có thể tạo ra áp
lực về môi trường cho các địa phương khác. Mặc dù tác động môi trường lan

Minh
ROV
1 Nông & ngư nghiệp 1.488 1.253 1.325
2 Lâm nghiệp 1.481 1.204 1.179
3 Khai khoáng 1.563 1.208 1.258
4
Chế biến thực phẩm, nước ngọt,
thuốc lá
1.569 1.825 2.028
5 Các hàng hoá tiêu dùng khác 1.562 1.536 1.902
6 Nguyên liệu sản xuất 1.530 1.340 1.492
7 Hàng hoá vốn 1.566 1.264 1.655
8 Xây dựng 1.594 1.307 1.495
9
Giao thông 1.533 1.267 1.357
10 Thương mại 1.580 1.249 1.382
11 Y tế, giáo dục, dịch vụ xã hội 1.496 1.200 1.272
12 Các dịch vụ khác 1.495 1.238 1.471
Theo như quan sát, ngành gây ô nhiễm nhất ở Hà Nội là Nguyên liệu sản xuất
và sản hàng tiêu dùng với chỉ số ô nhiễm dao động trong khoảng từ 0,000347
đến 0,000455. Tình hình tương tự cũng quan sát được tại Tp. HCM. Đối với
ROV, tình hình có sự khác biệt. Ngành gây ô nhiễm nhất là Chế biến thực
phẩm, sản xuất nước ngọt và thuốc lá với chỉ số ô nhiễm cao hơn 0,017.
217


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status