Hai vụ ném bom xuống Hirôsima và Nagasaki có cần
thiết để kết thúc một cuộc chiến.
Là sự kiện hai quả bom ngun tử được Qn đội Hoa Kỳ, theo lệnh của Tổng
thống Harry S Truman, sử dụng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai vào những ngày
gần cuối của Đệ nhị thế chiến tại Nhật Bản. Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom
ngun tử thứ nhất mang tên "Little Boy" đã được thả xuống thành phố Hiroshima,
Nhật Bản. Sau đó 3 hơm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên "Fat
Man" đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki.
Có nhiều ngun nhân khiến con số chính xác người thiệt mạng khơng thống
nhất. Các số liệu khác nhau bởi được thống kê vào các thời điểm khác nhau. Rất nhiều
nạn nhân chết sau nhiều tháng, thậm chí nhiều năm bởi hậu quả của phóng xạ. Cũng
có những áp lực làm con số bị phóng đại hoặc giảm thiểu vì lý do tun truyền chính
trị. Theo ước tính, 140.000 người dân Hiroshima đã chết bởi vụ nổ cũng như bởi hậu
quả của nó. Số người thiệt mạng ở Nagasaki là 74.000. Ở cả hai thành phố, phần lớn
người chết là thường dân.
Vai trò của hai vụ nổ đối với việc nước Nhật đầu hàng, cũng như hậu quả và các
giải thích cho việc thả bom vẫn là chủ đề còn bàn cãi. Ở Mỹ, quan điểm đa số cho rằng
hai quả bom đã chấm dứt chiến tranh sớm hơn nhiều tháng và hạn chế thiệt hại sinh
mạng các bên tham chiến. Với nước Nhật, dư luận cho rằng chúng là khơng cần thiết
và hành vi chống lại dân thường là vơ đạo đức.
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản đầu hàng vơ điều kiện Khối Đồng
minh và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính thức chấm dứt Thế
chiến thứ hai.
Thế nhưng sau khi cuộc chiến tranh kết thúc, người ta lại đặt ra một vấn đề đó
là việc Mó thả hai quả bom xuống Nhật Bản có phải là hành động để buộc Nhật
đầu hàng vốn nước này chẳng còn gì để chống tra, khi mà quân Nhật lần lượt phải
chòu những thất bại nặng nề sau các cuộc phản công của phe chống phatxit lúc mà
cả phatxit Đức và phatxit Ý đã đầu hàng. Mặt khác là để biểu dương sức mạnh
quân sự của mình trước Liên Xô. Thế nhưng ta cũng không thể phủ nhận được rằng
Nhật bản vốn là quân phiệt hiếu chiến thà chết chứ không chòu đầu hàng và liệu
nếu Mó không đánh bom Nhật thì liệu phatxit nhật có chòu đầu hàng sớm như vậy
mất sự ủng hộ của công chúng trên toàn thế giới, khích động chạy đua vũ trang và
ngăn cản khả năng đạt được thỏa thuận quốc tế về kiểm soát loại vũ khí này trong
tương lai."
Năm 1946, trong một bản báo cáo của Tổ chức nhà thờ liên bang với tên
Chiến tranh nguyên tử và niềm tin Thiên chúa có một đoạn như sau: "Là những người
Thiên chúa Hoa Kỳ, chúng ta hối tiếc về sự lạm dụng thiếu trách nhiệm vũ khí nguyên
tử. Chúng ta đều đồng cảm rằng, trên nguyên tắc, dù là sự nhìn nhận của bất kỳ người
nào đối với chiến tranh, việc ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki là
không thể biện hộ được về mặt đạo đức."
Năm 1963, hành vi ném bom nguyên tử là đối tượng xem xét của phán
quyết tại Tòa án Hiến pháp trong vụ xử Ryuichi Shimoda et al. v. The State. Trong
đúng ngày tròn 22 năm sự kiện tấn công Trân Châu Cảng, tòa án hạt Tokyo đã từ chối
xét xử tính hợp pháp nói chung của việc sử dụng vũ khí hạt nhân, nhưng phán quyết
rằng "vụ tấn công Hiroshima và Nagasaki đã gây ra những thiệt hại nặng nề và không
phân biệt quân đội và dân thường, theo nghĩa đó chúng đã vi phạm những nguyên tắc
cơ bản nhất khi tiến hành chiến tranh".
Cũng theo một ý kiến của tòa, hành vi ném bom nguyên tử vào các thành phố
được điều tiết bởi luật pháp quốc tế tại Công ước Hague về chiến tranh trên bộ năm
1907 và Dự thảo công ước Hague về chiến tranh đường không năm 1922-1923 và theo
đó là không hợp pháp.
Với việc sử dụng vũ khí hạt nhân đầu tiên, việc ném bom xuống hai thành phố
Hiroshima và Nagasaki thể hiện sự vi phạm những cấm cản tối thiểu, Peter Kurznick,
giám đốc viện Nghiên cứu hạt nhân tại Đại học Châu Mỹ tại Washington viết về Tổng
thống Truman: "Ông ta biết rằng ông ta đã bắt đầu một quá trình hủy diệt sự sống. Đó
không chỉ là tội ác chiến tranh; đó là tội ác chống lại loài người."
Kurznick là một trong các nhà quan sát tin rằng động lực khiến Hoa Kỳ thực
hiện việc ném bom là ý muốn thể hiện quyền năng của loại vũ khí mới trước Liên Xô.
Trang 2
Nhà sử học Mark Selden của Đại học Cornell cho rằng "gây ấn tượng với người Nga
bom nguyên tử xuống Nhật. Tôi là một trong những người cảm thấy rằng có những lý
do vững vàng để nghi vấn sự sáng suốt của hành động đó. Trong khi ông ta kể về
những sự việc liên quan, tôi cảm thấy buồn chán và đã nói với ông ta về những sự hoài
nghi của tôi, thứ nhất, tôi tin rằng Nhật Bản thực sự đã bị đánh bại và việc ném bom là
không hoàn toàn cần thiết, và thứ hai, tôi cho rằng việc sử dụng vũ khí đó là không bắt
buộc nhằm hạn chế thương vong cho lính Mỹ bởi đất nước chúng ta nên tránh một ý
tưởng làm thế giới rung chuyển bằng cách sử dụng vũ khí đó."
Các tướng lĩnh khác của quân đội Hoa Kỳ không đồng ý với sự cần thiết của
việc ném bom gồm Đại tướng Douglas MacAthur (tướng lĩnh cao cấp nhất của Chiến
trường Thái Bình Dương), Đô đốc Hạm đội William D. Leahy (quan chức cao cấp
nhất của văn phòng điều hành của Tổng thống), Đại tướng Carl Spaatz (tư lệnh không
quân chiến lược Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương), Trung tướng Carter Clarke (sỹ quan
tình báo quân sự), và một số người khác. "Nhật Bản trước đó đã đề nghị hòa bình. Từ
quan điểm quân sự thuần túy, bom nguyên tử không có vai trò quyết định đánh bại
nước Nhật" theo lời Đô đốc hạm đội Chester W. Nimitz, tư lệnh Hạm đội Thái Bình
Dương.
Trang 3
"Việc sử dụng bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki không hỗ trợ về mặt
vật chất cho cuộc chiến của chúng ta với nước Nhật. Người Nhật đã thực sự bại trận và
sẵn sàng đầu hàng" ý kiến của Đô đốc Hạm đội William D. Leahy.
Cuộc nghiên cứu về ném bom chiến lược Hoa Kỳ, đã phỏng vấn hàng trăm
lãnh đạo dân sự và quân sự Nhật Bản sau khi nước Nhật đầu hàng, báo cáo: "Dựa trên
cuộc điều tra chi tiết thực tế, và với lời khai của các quan chức Nhật bản liên quan, ý
kiến tin chắc rằng nước Nhật sẽ đầu hàng trước ngày 31 tháng 12 và có khả năng trước
ngày 1 tháng 11 năm 1945 mà không cần đến nổ bom nguyên tử, thậm chí là không
cần Liên Xô tham chiến, và cũng không cần một cuộc đổ bộ nào."
Nghiên cứu cũng cho rằng những đợt ném bom thông thường vẫn cần thiết để
buộc Nhật Bản đầu hàng.
Nhiều người, trong đó có Đại tướng MacAthur đồng ý rằng Nhật Bản sẽ đầu
thổ Nhật do đó việc Liên Xô đánh bại 1 triệu quân Nhật ở Mãn Châu cũng không có ý
nghĩa gì đáng kể
Giới quân sự Nhật thống nhất chống lại bất kỳ nhượng bộ nào trước khi bom
nguyên tử được sử dụng. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật thức tỉnh cùng cuộc Đại khủng
hoảng đã thủ tiêu rất nhiều nhà cải cách, những người tìm cách kiểm soát quyền lực
Trang 4
của giới quân sự, tiêu biểu trong số này là Takahashi Korekiyo, Saito Makoto và
Inukai Tsuyoshi, tạo ra một môi trường mà bất kỳ sự phản đối chiến tranh nào đều
đồng nghĩa với sự đe dọa tính mạng.
Trong khi giới lãnh đạo dân sự sử dụng những kênh ngoại giao bí mật cho nỗ
lực đàm phán hòa bình, họ không thể đàm phán đầu hàng hoặc chỉ là ngừng bắn. Đế
quốc Nhật Bản, quốc gia quân chủ lập hiến, chỉ tiến hành đàm phán khi có sự thống
nhất của toàn bộ nội các. Vào mùa hè 1945, Hội đồng chiến tranh tối cao Nhật Bản,
bao gồm các đại diện của lục quân và hải quân cùng chính phủ dân sự, đã không có
được số đông ủng hộ để công việc thoả hiệp được bắt đầu.
Bế tắc chính trị hình thành giữa giới lãnh đạo quân sự và lãnh đạo dân sự của
Nhật. Quân đội càng lúc càng nâng cao quyết tâm kháng cự bằng mọi giá trong khi
giới lãnh đạo dân sự tìm giải pháp thỏa hiệp kết thúc chiến tranh. Quyết định càng trở
nên phức tạp khi mà đại diện quân đội Thiên Hoàng phải có mặt trong thành phần
chính phủ. Điều này có nghĩa là giới quân sự có thể phản đối bất kỳ quyết định nào
bằng cách phế truất bộ trưởng chiến tranh, vì thế mà quân đội là thế lực lớn nhất trong
Hội đồng chiến tranh tối cao. Đầu tháng 8 năm 1945, trong nội các đã có tình hình khá
cân bằng giữa những người phản đối và những người ủng hộ việc đầu hàng. Phe chủ
chiến gồm Bộ trưởng chiến tranh - tướng Anami Korechika, tướng Umezu Yoshijiro
và Đô đốc Toyoda Teijiro, đứng đầu là Bộ trưởng Anami. Phe hoà bình gồm Thủ
tướng Suzuki Kantaro, Bộ trưởng Hải quân Yonai Mitsumasa và Bộ trưởng ngoại giao
Togo Shigenori, đứng đầu là Bộ trưởng Togo.
Phe chủ hòa, coi hai quả bom là biện minh cho sự đầu hàng. Kido Koichi, một
trong những cố vấn thân cận của Nhật hoàng Hirohito đưa ra "chúng ta, phe mong
chết trận trên tất cả các mặt trận trong gần bốn năm tham chiến là 292.000.
Bom ngun tử đưa Thế chiến thứ hai ở Châu Á nhanh chóng chấm dứt, giải
thốt hàng triệu con người trong những vùng bị chiếm đóng bao gồm nhiều ngàn
người phương Tây. Hơn nữa, qn đội Nhật đã tiến hàng giết người hàng loạt, con số
lên đến hàng triệu bằng vũ khí hóa học và vũ khí vi trùng. Chiến tranh sớm kết thúc
cũng có nghĩa là khơng còn những đổ máu tương tự.
Trong một mệnh lệnh của Bộ chiến tranh Nhật Bản ngày 1 tháng 8 năm 1944,
tất cả tù binh phe Đồng minh, lên đến hơn 100 ngàn người, sẽ bị hành quyết nếu chiến
sự xảy ra trên lãnh thổ Nhật Bản.
Những người ủng hộ vũ khí ngun tử lý luận tiếp, chính phủ Nhật Bản đã huy
động một cuộc chiến tranh tổng lực, thường dân gồm cả phụ nữ và trẻ em phải làm
việc trong các nhà máy, cơ sở qn sự và phải chiến đấu chống lại lực lượng đổ bộ.
Linh mục John A. Siemens, giáo sư triết học hiện đại ở Đại học Thiên chúa Tokyo và
là một nhân chứng của vụ nổ ngun tử ở Hiroshima viết:
"Chúng tơi đã tranh luận với nhau về tính đạo đức của việc sử dụng vũ khí
này. Một số người cho rằng nó cũng tương tự như sử dụng khí độc chống lại dân
thường. Một số khác có quan điểm rằng trong cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Nhật
thực hiện, khơng có khác biệt giữa dân thường và binh lính, và quả bom tự nó là cơng
cụ hiệu quả chấm dứt đổ máu, buộc nước Nhật đầu hàng và nhờ đó tránh được sự tàn
phá khủng khiếp. Điều đó có vẻ hợp lý theo tơi - người ủng hộ lý luận rằng về ngun
tắc, chiến tranh khơng thể coi là chống lại dân thường khi đó là chiến tranh tổng lực".
Một số người còn nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của Hiroshima là tổng
hành dinh của tư lệnh Tập đồn qn số 2, và Nagasaki - trung tâm sản xuất đạn được
chủ chốt.
Trong bài phát biểu trước nhân dân Nhật Bản về lý do đầu hàng, Thiên hồng
đặc biệt đề cập đến hai quả bom ngun tử, tun bố rằng tiếp tục chiến tranh chỉ
mang lại "sự tàn phá và sụp đổ hồn tồn của quốc gia Nhật Bản".
Nhà sử học của Mỹ Richard B Frank đưa ra trong cuốn sách Downfall phát
hành năm 1999. Ơng khẳng định: "Sẽ chỉ là ảo tưởng nếu cho rằng chiến tranh có thể
kết thúc trước khi Mỹ dùng tới bom ngun tử".