Vũ Trụ Nhân Linh - II. Hòa Thời Trước Khoa Lượng Tử Và Quy Nhất Thuyết - Phần 2 - Pdf 17



Vũ Trụ Nhân Linh
II. Hòa Thời Trước Khoa Lượng Tử Và
Quy Nhất Thuyết
Phần 2 Tượng hình của thời gian
Sau khi định nghĩa thời không là Vũ trụ thì nói đến tượng hình trở
thành dung dị hơn, vì hình đó không chi khác hơn là hai hình vuông, tròn
vậy. Vuông tròn lại chính là Âm Dương đã được bước thêm một bước nữa.
Nếu ở đợt âm dương là một hai thì còn quá đơn sơ nên phải tiến thêm một
bước nữa thành ra ba bốn mới đủ khía cạnh để hiện hình, dù chỉ là mập mờ.
Do đó sau âm dương đến tứ tượng. Tứ tượng là tiếng trừu tượng để chỉ bốn
mùa, bốn phương, biểu thị cho bốn khía cạnh cần thiết cho bất cứ vật nào để
hiện ra trước là tượng, rồi sau là hình. Hễ đã thành hình thì trước tiên phải có
góc, có biên dù chỉ là thấp thoáng. Vì thế, trong triết Đông, tứ tượng là yếu
tố sơ khởi trên quá trình cá biệt hóa (individualisation). Tiến trình đó bắt đầu
từ tứ tượng: vuông bốn góc tức là Vũ; còn Trụ là tròn đầy viên mãn không
đầu không cuối. "Vô bản phiêu giả" nên biểu thị bằng vòng tròn. Nếu vũ trụ
đã đúc lại một thì tròn vuông đều lồng lên nhau, làm thành hình kép: tròn
ngoài vuông trong. Với Tây phương, cái vòng có chất vuông là điều không
thể quan niệm được, vì suy tư theo đối đáp mâu thuẫn: đã tròn thì thôi
vuông, đã vuông thì đồng thời hết tròn.
Với Đông phương, quan niệm theo nguyên lý Hòa cũng gọi là đồng
thời diễn tả bằng công thức "Âm trung hữu dương, dương trung hữu âm", thì
vòng tròn mà lại có bốn góc đã thành sự thực và truyền bá đến đại chúng

mà sự tựu thành viên mãn xảy ra ở đợt thứ bảy.
Lục Tượng Sơn nói: "thất trùng thiết thành, tư tâm dã. Tư Tâm sở
cách, tuy tư phi chính". "Bảy tầng bao quanh bằng sắt là chỉ tư tâm vậy. Nếu
tâm đã bị ngăn cách thì có suy tư cũng không đi vào chính lộ được". Ông có
ý nói là cái linh thức bị bảy tầng tư dục bao phủ thì không sao thấy được đạo
(Kim b.187). Còn rất nhiều câu hoặc sự tích, ở đây chỉ kể sơ cho biết có lẽ là
tuần bảy ngày xuất phát do tuần trăng. Vì tháng trăng có 28 ngày (4*7=28).
Nhưng không rõ từ đâu xuất hiện, chúng ta chỉ biết rằng bên Viễn Đông đã
có từ lâu đời, người ta tìm ra dấu vết ít nhất từ thế kỷ 27 trước dương lịch,
trong cách chia vòng trời là bốn cung, mỗi cung có bảy độ như nêu rõ trong
bảng "nhị thập bát tú" mà lối xếp thành bốn cung, mỗi cung có bảy sao, xếp
theo từng bộ 2, 3, 2 cộng lại là 7 sao, rồi lại đến bộ 2, 3, 2 khác… Ngày xưa,
tuần bảy ngày không rõ rệt và phổ cập như nay do thể chế ngày chủ nhật,
nhưng gốc tích đã có từ truyền thống rất xa xưa. Dân Sémite trước theo tuần
8 ngày, cũng như Roma mới nhận tuần 7 ngày từ năm 45 trước dương lịch
(lúc sửa lịch Julien) rồi truyền bá ra vùng Địa Trung Hải (xem Grandeur et
décadence de la civilisation, S.B.Gloug, Payot. Paris, 1954, p.131). Hy lạp
trước theo tuần 10 ngày.
Tóm lại, thể chế tuần 7 ngày thuộc truyền thống nhân loại, phát sinh
từ lúc nào không rõ nhưng hầu chắc là từ Đông Nam truyền đi theo đường
của nhị thập bát tú, hoặc của Yoga từ Đông Nam qua Ấn Độ, rồi đến Ả Rập
truyền qua Cận Đông, sau cùng đến Âu Châu và trở thành thể chế phổ quát
đến độ quên hẳn lò đúc 3 với 4 thành 7, nên cũng quên luôn ý nghĩa huyền
niệm của nó: "ngày thứ bảy Chúa nghỉ". Nghỉ là an vi, tức là cách hành động
để đắc đạo. Nhưng chúng ta đã mất ý thức điều này, vì số của triết Đông
không phải để đo khối chất đếm số lượng nhưng để biểu thị phẩm tính nên
nó rất uyển chuyển, lưu linh. Nếu 3 chỉ thiên, 4 chỉ địa, thì 1,5,7,9 cũng đều
chỉ thiên và 2,6,8 cũng đều chỉ địa, vì thiên với địa ở đây hiểu theo đợt căn
cơ là âm dương: chẵn lẻ hoặc cơ ngẫu. Vì chỗ biểu tượng uyển chuyển đó
nên nó mặc rất nhiều hình thức và khi tới những số lớn thì biến dạng bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status