Nguyên tố hóa học Đồng
29
niken ← đồng → kẽm
[[ | ]]
↑
Cu
↓
Ag
Bảng đầy đủTổng quát
Tên, Ký hiệu, Số đồng, Cu, 29
Phân loại kim loại chuyển tiếp
Nhóm, Chu kỳ, Khối 11, 4, d
Khối lượng riêng, Độ cứng
8920 kg/m³, 3,0
Bề ngoài kim loại màu đồng sáng
Tính chất nguyên tử
Khối lượng nguyên tử 63,546 đ.v.C
Bán kính nguyên tử (calc.)
135 (145) pm
Bán kính cộng hoá trị 138 pm
Bán kính van der Waals 140 pm
Cấu hình electron [Ar]3d
3. 3.555 kJ/mol
4. 5.536 kJ/mol
5. 7.700 kJ/mol
6. 9.900 kJ/mol
7. 13.400 kJ/mol
8. 16.000 kJ/mol
9. 19.200 kJ/mol
10. 22.400 kJ/mol
11. 25.600 kJ/mol
12. 35.600 kJ/mol
13. 38.700 kJ/mol
14. 42.000 kJ/mol
15. 46.700 kJ/mol
16. 50.200 kJ/mol
17. 53.700 kJ/mol
18. 61.100 kJ/mol
19. 64.702 kJ/mol
20. 163.700 kJ/mol
21. 174.100 kJ/mol
22. 184.900 kJ/mol
23. 198.800 kJ/mol
24. 210.500 kJ/mol
25. 222.700 kJ/mol
26. 239.100 kJ/mol
27. 249.660 kJ/mol
28. 1.067.358 kJ/mol
29. 1.116.105 kJ/mol
Chất đồng vị ổn định nhất
hiện vào khoảng 4.000 năm TCN.
Người ta còn tìm thấy các đồ vật bằng đồng nguyên chất và đồng đỏ ở các thành
phố Sumeria có niên đại 3.000 năm TCN, và các đồ vật cổ đại của người Ai Cập
bằng đồng và hợp kim của đồng với thiếc cũng có niên đại tương tự. Trong một
kim tự tháp, một hệ thống hàn đồng đã được tìm thấy có niên đại 5.000 năm.
Người Ai Cập đã phát hiện ra rằng nếu thêm một lượng nhỏ thiếc vào sẽ làm cho
kim loại trở nên dễ đúc hơn, vì thế các hợp kim đồng đỏ đã được tìm thấy ở Ai
Cập gần như là đồng thời cùng với đồng. Việc sử dụng đồng ở Trung Hoa cổ đại
có niên đại ít nhất là 2.000 năm TCN. Vào khoảng 1200 năm TCN những đồ đồng
đỏ hoàn hảo đã được sản xuất ở Trung Quốc. Cũng lưu ý rằng các số liệu ngày,
tháng này chịu ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh do đồng rất dễ nấu chảy và
được tái sử dụng. Tại châu Âu, Oetzi the Iceman, thi thể một người đàn ông được
bảo quản tốt có niên đại 3.200 TCN, đã được tìm thấy với chiếc rìu bịt đồng có độ
tinh khiết của đồng là 99,7%. Nồng độ cao của asen trong tóc của ông ta có lẽ là
do ông đã tham gia vào việc nấu đồng.
Một khối đồng trong quặng tự nhiên.
Việc sử dụng đồng đỏ đã phát triển trong thời đại của các nền văn minh được đặt
tên là thời đại đồ đồng hay thời đại đồng đỏ. Thời kỳ quá độ trong các khu vực
nhất định giữa thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ sắt được đặt tên là thời kỳ đồ đồng,
với một số công cụ bằng đồng có độ tinh khiết cao được sử dụng song song với
các công cụ bằng đá.
Đồng thau, một hợp kim của đồng với kẽm, được biết đến từ thời kỳ Hy Lạp
nhưng chỉ được sử dụng rộng rãi bởi người La Mã.
Tên gọi
Trong thời của nền văn minh Hy Lạp, kim loại này được biết với tên gọi chalkos.
Trong thời kỳ La Mã, nó được biết với tên aes Cyprium (aes là thuật ngữ Latinh
chung để chỉ các hợp kim của đồng như đồng đỏ và các kim loại khác, và bởi vì nó
được khai thác nhiều ở Síp). Từ những yếu tố lịch sử này, tên gọi của nó được đơn
giản hóa thành Cuprum là tên gọi Latinh của đồng.
Các hợp chất, chẳng hạn như dung dịch Fehling, có ứng dụng trong phân
tích hóa học.
Đồng (II) Sulfat được sử dụng như là thuốc bảo vệ thực vật và chất làm
sạch nước.
Vai trò sinh học
Đồng là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động, thực vật bậc cao. Đồng
được tìm thấy trong một số loại enzym, bao gồm nhân đồng của cytochrom c
oxidas, enzym chứa Cu-Zn superoxid dismutas, và nó là kim loại trung tâm của
chất chuyên chở ôxy hemocyanin. Máu của cua móng ngựa (cua vua) Limulus
polyphemus sử dụng đồng thay vì sắt để chuyên chở ôxy.
Theo tiêu chuẩn RDA của Mỹ về đồng đối với người lớn khỏe mạnh là 0,9
mg/ngày.
Đồng được vận chuyển chủ yếu trong máu bởi protein trong huyết tương gọi là
ceruloplasmin. Đồng được hấp thụ trong ruột non và được vận chuyển tới gan
bằng liên kết với albumin.
Một bệnh gọi là bệnh Wilson sinh ra bởi các cơ thể mà đồng bị giữ lại, mà không
tiết ra bởi gan vào trong mật. Căn bệnh này, nếu không được điều trị, có thể dẫn
tới các tổn thương não và gan.
Người ta cho rằng kẽm và đồng là cạnh tranh về phương diện hấp thụ trong bộ
máy tiêu hóa vì thế việc ăn uống dư thừa một chất này sẽ làm thiếu hụt chất kia.
Các nghiên cứu cũng cho thấy một số người mắc bệnh về thần kinh như bệnh
schizophrenia có nồng độ đồng cao hơn trong cơ thể. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ
mối liên quan của đồng với bệnh này như thế nào (là do cơ thể cố gắng tích lũy
đồng để chống lại bệnh hay nồng độ cao của đồng là do căn bệnh này gây ra).
Trong tự nhiên
Quặng đồng.
Đồng có thể tìm thấy như là đồng tự nhiên hoặc trong dạng khoáng chất. Các
khoáng chất chẳng hạn như cacbonat azurit (2CuCO
3
+1
;
và trạng thái ổn định hơn đồng(II), Cu
+2
, chúng tạo thành các muối có màu lam
hoặc lục-lam. Dưới các điều kiện không bình thường, trạng thái Cu
+3
có thể được
tạo ra.
Cacbonat đồng (II) là một chất màu xanh lục, nó được hình thành trên các mái che
phủ bằng đồng hay các mái vòm của một số công trình. Sulfat đồng (II) tạo thành
các tinh thể ngậm nước có màu xanh lam CuSO
4
.5H
2
O có lẽ là hóa chất thông
dụng nhất của đồng trong các phòng thí nghiệm. Khi hổn hợp với Ca(OH)2, nó
được sử dụng như thuốc diệt nấm, được biết đến với tên gọi hỗn hợp Boóc đô
(Bordeaux mixture).
Có hai ôxít đồng ổn định là ôxít đồng (II) (CuO) và ôxít đồng (I) (Cu
2
O). Các ôxít
đồng được sử dụng để tạo ra ôxít yttri bari đồng (YBa
2
Cu
3
O
7
-δ) hay YBCO, nó là
cơ sở cho rất nhiều chất siêu dẫn dị thường.