Quản lý nhà nước về tôn giáo ở việt nam từ năm 1975 đến nay - Pdf 17

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Các kết luận khoa học của luận án chưa công bố trên bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả
Bùi Hữu Dược
MỤC LỤC
Trang
:
Lời cam đoan 02
2
Mục lục 03
Các chữ viết tắt sử dụng trong luận án 04
Danh mục các bảng trong luận án 05
Danh mục các Biểu đồ trong luận án 06
MỞ ĐẦU 07
Chương 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1. Tổng quan tài liệu 11
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 17
1.3. Lý thuyết nghiên cứu 22
1.4. Một số khái niệm được sử dụng trong luận án 24
Chương 2:
CƠ SỞ CHO QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO Ở
VIỆT NAM
30
2.1. Cơ sở lý luận 30
2.2. Cơ sở thực tiễn 45
2.3. Nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ Nhà nước và tôn giáo ở
Việt Nam

Chủ nghĩa xã hội : CNXH
Giáo hội Phật giáo Việt Nam : GHPGVN
Khoa học xã hội : KHXH
Nhà xuất bản : Nxb
Trang : tr
Quản lý nhà nước : QLNN
Quản lý nhà nước về tôn giáo : QLNN về TG
Xã hội chủ nghĩa : XHCN
Xã hội học : XHH
Ủy ban nhân dân : UBND
4
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
STT BẢNG TÊN BẢNG TRANG

1
2.1
Các văn kiện quốc tế Việt Nam đã tham gia bảo
đảm quyền con người.
46
2
3.2
Tốc độ gia tăng tín đồ Công giáo ở Tây Nguyên 112
5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
STT BẢNG TÊN BẢNG TRANG
1 2.1
Số lượng các tổ chức tôn giáo đã được Nhà
nước công nhận qua từng giai đoạn.
62
2

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
6
Việt Nam là đất nước có nhiều tôn giáo, các tôn giáo có nguồn gốc, lịch
sử, đặc trưng và quá trình phát triển khác nhau, nhưng có nhiều điểm tương đồng.
Điểm chung đáng quý nhất của các tôn giáo ở Việt Nam là sự tôn trọng và chung
sống hài hòa giữa các tôn giáo trong một đất nước đa dân tộc, đa tín ngưỡng.
Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn của lịch sử, do tác động và ảnh hưởng
từ nhiều mặt của đời sống xã hội, hoạt động tôn giáo đã bộc lộ theo những
chiều hướng khác nhau. Cùng với các tôn giáo hoạt động thuần túy tôn giáo,
còn có tôn giáo bị chính trị lợi dụng đã từng nảy sinh không ít phức tạp, làm
ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội ở nước ta.
Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn
quan tâm chăm lo tới đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, thực hiện
đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc để cùng nhau bảo vệ và
xây dựng đất nước.
Sau năm 1975, kết thúc cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược,
giành độc lập dân tộc nhưng Việt Nam phải giải quyết rất nhiều những vấn đề
do hậu quả chiến tranh để lại, trong đó có vấn đề tôn giáo. Tiếp đến trong bối
cảnh quốc tế hóa, dân chủ được đề cao, các thế lực thù địch với Chủ nghĩa xã
hội đã lợi dụng chiêu bài tự do tôn giáo, lôi kéo, xúi giục, kích động một số
phần tử cực đoan trong nước và nước ngoài, tổ chức những hoạt động xuyên
tạc, chống đối chính quyền, dựng nên các sự kiện liên quan tới tôn giáo, vu
cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền về tôn giáo, tạo ra những trở ngại làm ảnh
hưởng tới công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đặt Việt Nam
đứng trước hàng loạt vấn đề mâu thuẫn liên quan tới tôn giáo cần giải quyết.
Đó là mâu thuẫn giữa việc đáp ứng nhu cầu tự do tôn giáo của người có đạo
thực hiện hoạt động tôn giáo bình thường với việc ngăn chặn sự xâm lấn của
các trào lưu tôn giáo cực đoan, tôn giáo bị chính trị phản động lợi dụng. Ở
góc độ văn hóa, đạo đức, mâu thuẫn của việc giữ gìn bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa, giá trị đạo đức của dân tộc trong các truyền thống tôn giáo với

giáo ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích nghiên cứu, nhằm làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những
vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về tôn giáo (QLNN về TG) ở Việt Nam;
từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực của QLNN về TG
giáo ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ của luận án:
Thứ nhất, hệ thống hóa quan điểm của Đảng và sự pháp điển hóa quan
điểm ấy đối với QLNN về TG
Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về TG ở Việt Nam
Thứ ba, đánh giá, phân tích thực trạng kết quả QLNN về TG ở Việt
Nam từ năm 1975 đến nay
Thứ tư, khái quát về những vấn đề đặt ra, dự báo và khuyến nghị đối
với QLNN về TG ở Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của Luận án
Về đối tượng, luận án nghiên cứu QLNN về TG ở Việt Nam theo
chuyên ngành tôn giáo học, luận án nghiên cứu sâu về chủ thể quản lý và các
yếu tố để thực hiện quản lý mà không đi sâu về đối tượng quản lý.
Về phạm vi, chủ thể quản lý, bao gồm cơ quan nhà nước các cấp thực
hiện QLNN về TG, thông qua chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước
đối với tôn giáo, trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.
Thời gian nghiên cứu từ năm 1975 cho đến nay (năm 2013).
4. Phương pháp nghiên cứu của Luận án
Luận án vận dụng những nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng phương pháp
nghiên cứu chuyên ngành Tôn giáo học và các phương pháp nghiên cứu liên
9
ngành, như Quản lý học, Luật học, Chính trị học, Sử học… và vận dụng các
phương pháp cụ thể: khảo sát, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,
v.v Đối với đề tài do tính nhạy cảm của tôn giáo và những quy định trong

điểm lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo như: Ăngghen, (1886),
Lút - vích phoi - ơ - bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức; C. Mác,
(1844), Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C. Mác -
Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb. Sự thật, Hà Nội 1994; Thái độ của người
cộng sản với tôn giáo, V.I. Lê nin, Toàn tập, tập 17, Nxb. Tiến bộ, Matxcva,
1979; Nguyễn Đức Sự, (2001), Mác, Ăngghen, Lênin bàn về tôn giáo, (tuyển
chọn và biên soạn), Nxb tôn giáo;
1.1.2. Tài liệu của Hồ Chí Minh về tôn giáo và ứng xử của Nhà nước
với tôn giáo.
Hồ Chí Minh đã để lại cho thế hệ sau nhiều di sản quý giá, trong số đó có
tư tưởng về tôn giáo. Với tư cách là học trò của C. Mác - Lênin, Hồ Chí Minh
không chỉ tiếp thu mà còn vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận tôn giáo của chủ
nghĩa Mác - Lênin vào giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời còn bổ
sung vào tư tưởng, lý luận ấy những tư tưởng mới qua thực tiễn cách mạng và
xử lý vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam. Tài liệu về tư tưởng Hồ Chí
Minh với tôn giáo được tập hợp trong các cuốn sách Hồ Chí Minh toàn tập, do
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản. Trong các tài liệu nghiên cứu, biên
soạn của các tác giả: GS.TS. Lê Hữu Nghĩa và PGS.TS. Nguyễn Đức Lữ (đồng
chủ biên), (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb
tôn giáo; Hoàng Minh Đô, (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn
giáo và sự vận dụng để giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện
11
nay, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 9; Lê Bá Trình, (2012), Quan điểm của Hồ
Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng quan điểm đó vào việc xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ;…
1.1.3. Tài liệu do các cơ quan Đảng, Nhà nước ban hành liên quan
tới chính sách tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo
Đây là nguồn tài liệu quan trọng, làm cơ sở cho xây dựng các văn bản
quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ Nhà nước với tôn giáo, đó là:
1.1.3.1.Tài liệu là các văn bản của Đảng cộng sản Việt Nam về chủ

hội. Tôn giáo và đời sống hiện đại, (1995), tập 1 và tập 2, Thông tin chuyên
đề. Lưu hành nội bộ.
GS. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), (1996), Về tôn giáo tín ngưỡng Việt
Nam hiện nay, Nxb KHXH; (chủ biên), (1996), Hồ Chí Minh với vấn đề tôn
giáo, tín ngưỡng, Nxb KHXH; (1998), “Tôn giáo và đời sống tôn giáo Tây
Nguyên”, Tạp chí Dân vận, Số Xuân Mậu Dần; (1998), Những vấn đề lý luận
và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam, Nxb KHXH.
PGS.TS. Nguyễn Chí Mỳ, (1997), "Tôn giáo và hiện thực - Một số vấn
đề đặt ra hiện nay", Tạp chí Triết học, Số 2.
GS.TS. Nguyễn Tài Thư, (1997), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và
tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia.
Viện Thông tin Khoa học, Bộ môn Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn
giáo, (1997), Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam,
Thông tin chuyên đề, Lưu hành nội bộ.
PGS.TS. Ngô Hữu Thảo chủ biên, (1998), Mối quan hệ giữa chính trị
và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị
13
trường theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, Đề tài cấp bộ, Trung tâm
Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Lưu hành nội bộ.
Trần Minh Thư, (1999), Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật
đối với hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam, Luận án thạc sĩ tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Nhiều tác giả, (2001), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Chương trình chuyên đề dùng cho cán bộ, Đảng
viên ở cơ sở, Tái bản lần thứ 1, Nxb Giáo dục.
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2004), Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia.
GS. Đặng Nghiêm Vạn, (2005). Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn
giáo ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia.

giáo, giúp cho việc đánh giá QLNN về TG sát thực hơn.
1.1.6. Tư liệu thực tế qua điền dã
Đó là các cuộc phỏng vấn sâu nhân sĩ, chức sắc tôn giáo, để biết ý kiến
của họ về vấn đề luận án quan tâm đồng thời có đối chứng so sánh, từ đó có
thêm cơ sở để đánh giá khách quan những vấn đề luận án nghiên cứu. [Xem
phụ lục, kết quả xử lý phiếu điều tra XHH ]
1.1.7. Tài liệu quốc tế, luật pháp, mô hình quản lý nhà nước về tôn
giáo ở một số nước trên thế giới
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, đây là những tài liệu quan trọng để đối
chiếu, so sánh quan hệ Nhà nước và tôn giáo của Việt Nam với một số nước
khác. Trong đó, những tài liệu quốc tế quan trọng như: Tuyên ngôn toàn thế
giới về nhân quyền (1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị (1966); Tuyên ngôn Viena và chương trình hành động (1993); Đối với
các nước có: Luật liên bang Nga về tự do tín ngưỡng và hiệp hội tôn giáo
15
(1997); Thỏa ước năm 1801 giữa Tòa thánh và chính phủ Pháp; Luật tách
rời nhà thờ và nhà nước của Cộng hòa Pháp (1905); Bộ luật chống tà giáo
của Cộng hòa Pháp (2001); Bộ luật duy trì hòa hợp tôn giáo của Singapor
(1991);
Viết về vấn đề luận án quan tâm có:
Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, (1997), Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, Nxb
Chính trị Quốc gia; (1998), Văn kiện quốc tế về Quyền con người; Nxb Chính
trị Quốc gia.
Trung tâm nghiên cứu quyền con người và Viện thông tin khoa học
thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, (2000), Văn kiện Quốc tế về
Quyền con người, Nxb Chính trị Quốc gia.
Viện nghiên cứu quyền con người thuộc học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, (2002), Tuyên ngôn thế giới và Hai công ước 1966 về quyền con
người, Lưu hành nội bộ.

Đặng Mạnh Trung, (2011), Công tác vận động đồng bào Công giáo
của đảng bộ một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1986 đến năm 2006,
Luận án tiến sĩ Lịch sử.
1.2.2. Những công trình nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thực hiện
chính sách tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
Trần Hồng Liên, (1993), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở
Nam bộ Việt Nam (Từ thế kỷ XVII đến 1975), Luận án phó tiến sĩ khoa học.
Hồ Trọng Hoài, (1995), Vai trò xã hội của tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ.
17
PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương, (1999), Bước đường hội nhập văn hoá
dân tộc của Công giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1; (2002),
Nhà nước ta với Công giáo, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5; (2004), Tôn
giáo trong mối quan hệ văn hoá và phát triển ở Việt Nam, Nxb KHXH;
(2008), Kitô giáo ở Hà Nội, Nxb Tôn giáo; (2008), Công giáo Việt Nam một
số vấn đề nghiên cứu, Nxb Tôn giáo, đã cho thấy một phần khá cơ bản bức
tranh Công giáo Việt Nam và mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với
Công giáo trong giai đoạn đã qua; (2012), Quan điểm đường lối của Đảng về
tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc
gia; (2013), Cơ sở khoa học tiếp tục đổi mới chính sách tôn giáo trong quá
trình phát triển nhanh và bền vững đất nước giai đoạn 2011 - 2020, Đề tài
khoa học cấp Bộ, , là những tài liệu rất giá trị khi nghiên cứu về quan hệ
Nhà nước với các tôn giáo ở Việt Nam.
PGS.TS. Nguyễn Đức Lữ - GS.TS. Lê Hữu Nghĩa, (2003), Tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo, tập hợp căn bản
những bài viết quan trọng phản ánh tư tưởng sâu rộng của Hồ Chí Minh về
tôn giáo và đặt ra những yêu cầu vận dụng tư tưởng của Người vào công tác
tôn giáo ở Việt Nam.
Nguyễn Thanh Xuân, (2005), Một số chuyên đề về tôn giáo và chính
sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, phản ánh bức tranh khá toàn diện về

giáo với đời sống xã hội.
1.2.3. Những công trình nghiên cứu pháp luật về tôn giáo, kinh
nghiệm quản lý nhà nước về tôn giáo của các nước.
Từ góc độ tôn giáo học, một số cơ quan nghiên cứu hoặc các học giả đã
bàn đến tôn giáo, pháp luật về tôn giáo ở nước ngoài, như:
19
Francois Houtart (GS. Đại học Louvain - la - Neuve, Bỉ), (2005), Đối
thoại giữa các nền văn minh vai trò quyết định của các nhân tố xã hội, Tạp
chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2.
Lý Bình Hoa, (2005), Triển vọng phát triển của tôn giáo thế giới, Tạp
chí Nghiên cứu tôn giáo, số 6.
Lưu Bành (người Trung Quốc), (2009 ), “Tôn giáo Mỹ đương đại” (bản
dịch tiếng Việt của Trần Nghĩa Phương, do Nxb Tôn giáo phối hợp với Nxb
Từ điển bách khoa (đây là một trong 10 cuốn sách trong bộ sách “Nước Mỹ
đương đại tùng thư” do Viện KHXH Trung Quốc biên soạn). …
Ở trong nước, đã có một số bài viết về tôn giáo nước Mỹ, như:
Nghiêm Văn Thái, (2001), Tôn giáo ở Mỹ, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 3.
Ban Tôn giáo Chính phủ, (2002), Pháp luật về tôn giáo của một số
nước trên thế giới; Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (1948); Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966); Tuyên bố cuối cùng về hội
nghi nhân quyền châu Á,…, bản dịch, tài liệu nội bộ.
GS.TS. Đỗ Quang Hưng, (2003), Vài nhận biết về Tin Lành Mỹ, Tạp
chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1.
PGS.TS. Ngô Hữu Thảo, (2005), biên soạn môn học “kinh nghiệm
chính sách, pháp luật tôn giáo của một số quốc gia”, trong Tập bài giảng
chương trình Cao học tôn giáo, đã tiếp cận mô hình chính sách, pháp luật về
tôn giáo của các nước Pháp, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia,
Singapore và Ấn Độ. Đã phân tích đặc điểm của các mô hình nhà nước thần
quyền và nhà nước thế tục.
Barbara Cohen, (2006), Tôn giáo Mỹ thế kỉ XX, Tạp chí Nghiên cứu tôn

TG, do vậy giải pháp đưa ra nhằm giải quyết những vấn đề QLNN về TG ở
Việt Nam hiện nay chưa thật sát và thiếu đồng bộ.
Đối với QLNN về TG ở nước ngoài, hiện đã có một số tác giả nghiên
cứu, nhưng nghiên cứu QLNN về TG ở nước ngoài dưới góc độ pháp lý ở
Việt Nam còn khá mới nên rất ít. Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay ở
21
Việt Nam chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu bao quát và
chuyên sâu QLNN về TG ở nước ngoài.
1.2.4.2. Vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu giải quyết.
Luận án hệ thống hóa quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và việc
pháp điển hóa quan điểm ấy đối với QLNN về TG.
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của QLNN về TG ở Việt Nam.
Đánh giá, phân tích thực trạng kết quả QLNN về TG ở Việt Nam từ
năm 1975 đến nay.
Khái quát những vấn đề đặt ra, dự báo và khuyến nghị đối với QLNN
về TG ở Việt Nam trong thời gian tới.
1.3. Lý thuyết nghiên cứu.
1.3.1. Câu hỏi nghiên cứu
Với đề tài luận án: Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm
1975 đến nay, đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Cơ sở cho QLNN về TG ở Việt Nam?
Câu hỏi 2: Đánh giá kết quả QLNN về TG ở Việt Nam từ 1975 đến nay?
Câu hỏi 3: Đóng góp của việc nghiên cứu đề tài cho QLNN về TG hiệu
quả hơn?.
1.3.2. Lý thuyết nghiên cứu
Để trả lời các câu hỏi trên và nhằm đến mục đích của đề tài luận án,
nghiên cứu sinh dựa vào những cơ sở lý thuyết như sau:
Thứ nhất: Cơ sở lý luận dựa trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta. Cơ sở thực tiễn là
kinh nghiệm ứng xử với tôn giáo của một số nước trên thế giới và kinh

Tôn giáo: Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở
tin và sùng bái những lực lượng siêu nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu
tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ,
tôn giáo nảy sinh rất sớm từ trong xã hội nguyên thủy. [183]
Tôn giáo “ religion”, có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên,
trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách để giúp con người sống và
tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người,
đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào
những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ
nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn
giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục. Trần tục là những
gì bình thường trong cuộc sống con người, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên,
thần thánh. Đứng trước sự thiêng liêng, con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ
sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo. Trong nghĩa tổng quát
nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời
để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về
mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế những tư tưởng tôn
giáo thường mang tính triết học. Tôn giáo trong đời sống xã hội từ xưa đến
nay rất nhiều. Tuy nhiên, ngày nay trên thế giới chỉ có một số tôn giáo lớn, có
số tín đồ đông như: Islam giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo,
Đôi khi từ tôn giáo cũng được dùng để chỉ tổ chức tôn giáo, một tổ
chức gồm nhiều cá nhân cùng chung tín ngưỡng và việc thờ phụng, thường tổ
chức tôn giáo có tư cách pháp nhân.
Trong tính đa dạng của tôn giáo hiện nay có nhiều quan niệm về tôn
giáo và những tiêu chí xác định tôn giáo cụ thể cũng rất khác nhau, theo
chúng tôi, tiêu chí để xác định một tôn giáo cụ thể phải đảm bảo năm yếu tố:
- Giáo chủ, người sinh ra tôn giáo hay người khai sáng.
24
- Giáo lý (lý thuyết tính thiêng), triết lý tôn giáo, mỗi tôn giáo có giáo
lý riêng.

Quyền tự do tôn giáo: nếu xét theo ngữ nghĩa và hiểu theo nghĩa đơn
giản, “tự do tôn giáo” là sự bảo đảm tính độc lập của tôn giáo đối với các thiết
chế quyền lực, bảo đảm tôn giáo thoát ly mọi sự cấm đoán, hạn chế, ràng
buộc. Nếu nhìn nhận dưới góc độ triết học thì khái niệm tự do phải được xem
xét trong mối quan hệ với tất yếu.
Điều 1 và 2 tại Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004) chỉ rõ: “Công
dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước
pháp luật”. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn
giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn
nhau. Chức sắc, nhà tu hành và công dân có tín ngưỡng, tôn giáo được hưởng
mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân. Chức sắc,
nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước,
thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật. [168]
Quản lý: là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi
của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với
quy luật khách quan.
Quản lý nhà nước: là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà
nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông
qua các văn bản quy phạm pháp luật.
26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status