Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
- - - - - -
Tiểu Luận
Phong Trào Nông Dân Tây
Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
1
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
Mục Lục
Mục Lục 2
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG MỘT 4
TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA 4
ĐÀNG TRONG VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XVIII 4
1.1. Sự thối nát của chính quyền phong kiến họ Nguyễn 4
1.2. Kinh tế suy thoái, đời sống nhân dân cùng cực ở Đàng Trong 7
1.3. Phong trào nông dân bùng lên rầm rộ 9
CHƯƠNG HAI 12
PHONG TRÀO TÂY SƠN 12
BÙNG NỔ VÀ THẮNG LỢI 12
2.1. Vài nét về phong trào Tây Sơn và căn cứ Tây Sơn 12
2.1.1. Anh em Tây Sơn 12
2.1.2. Căn cứ Tây Sơn 14
2.1.3. Những ngày đầu khởi nghĩa 15
2.2. Lật đổ ách thống trị của họ Nguyễn, đánh tan quân Xiêm 16
2.2.1. Tạm hòa hoãn với quân Trịnh 16
2.2.2. Đánh đuổi chúa Nguyễn, giành chủ quyền đất nước ở đàng trong 19
2.2.2.1. Chiến thắng Phú Yên 19
đánh nhau để giành địa vị, đất nước bị chia năm xẻ bảy, cuộc sống nhân dân khốn
cùng. Chính lúc đấy, các cuộc khởi nghĩa nông dân lại bùng nổ, rầm rộ và mạn hơn
bao giờ hết.
Chính trong hoàn cảnh do đã xuất hiện phong trào nông dân Tây Sơn. Phong
trào nông dân Tây Sơn có một ý nghĩa và vai trò lịch sử vô cùng to lớn trong lịch sử
dân tộc. Đã vươn lên làm cả hai nhiệm vụ dân tộc và giai cấp. Hoàn thành cả hai
nhiệm vụ do một cách xuất sắc.
Mặt dù phong trào Tây Sơn đã không thể đi đến tháng lợi cuối cùng nhưng
những thành quả của Tây Sơn để lại cho vương triều Nguyễn sau này cũng như cả
dân tộc ta là vô cùng quý báu. Nó định dạng được hình hài đất nước từ Lạng Sơn
đến mũi Cà Mau, một Việt Nam hoàn thiện hình chữ S.
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
3
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
CHƯƠNG MỘT
TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA
ĐÀNG TRONG VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XVIII
1.1. Sự thối nát của chính quyền phong
kiến họ Nguyễn
Thế kỷ XVI – XVIII là giai đoạn diễn ra nhiều biến đổi trong đời sống chính
trị, kinh tế - xã hội trong lịch sử dân tộc. Sự tha hóa của bộ mày nhà nước đã làm
cho tình hình xã hội thêm rối ren. Các thế lực địa phương nổi lên. Đất nước bước
vào thời kỳ loạn lạc. Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Sự xuất hiện
của nhà Mạc làm cho tình hình thêm phức tạp, tạo nên cục diện Nam – Bắc triều.
Trong khi chiến tranh Nam – Bắc triều chưa kết thúc thì cuộc nội chiến Trịnh –
Nguyễn phân tranh lại diễn ra, đưa đất nước vào cảnh huynh đệ tương tàn, đất nước
bị chia làm hai miền.
Ở Đàng Ngoài, triều Lê Trung hưng không còn đủ khả năng lập lại một chính
Trên cơ sở bóc lột nhân dân trong nước và gây ra các cuộc chiến tranh cướp
bóc các nước láng giềng phương Nam, giai cấp thống trị họ Nguyễn trở nên rất giàu
có. Từ chúa Nguyễn đến các tầng lớp quý tộc, quan lại, địa chủ ở khắp nơi đua nhau
ăn chơi rất xa xỉ trên nồ hôi và nước mắt của quần chúng lao động nghèo khổ.
Các chúa Nguyễn không ngừng tăng cường xây dựng các lâu đài ở kinh đô
mới. Từ năm 1687, Nguyễn Phúc Trăn cho dời kinh đô từ Ái Tử (Quảng Trị) về Phú
Xuân (Huế). Kinh đô Huế được xây dựng không chỉ lớn mạnh về quy mô mà công
nhiều công trình chùa chiền, miếu mạo.
Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) tự cho mình là sùng đạo Phật, lấy hiệu
là Thiên Túng nhân đạo để xây dựng nhiều chùa tháp. Năm 1714, Nguyễn Phúc Chu
sai trùng tu và mở rộng chùa Thiên Mụ, bắt hàng ngàn người phục vụ trong cả năm
trời. Y còn sai người sang Triết Giang (Trung Quốc) mua Kinh Đại Tạng cùng với
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
5
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
các thứ luật lệ, mua trên 1000 bộ về đặt trong chùa. Nhưng đời sống của riêng ông ta
thì rất xa hoa, trụy lạc, một mình có 146 người con.
Năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, cho xây dựng kinh đô ở Phú
Xuân (Huế). Quan lại cấp cao đua nhau xây dựng dinh thự, tiêu phí vô cùng tốn kém
cho việc ăn chơi, tổ chức yến tiệc linh đình. Họ “coi vàng bạc như cát, thóc gạo như
bùn, xa xỉ hết mực”. Tiền của cung ứng cho cuộc sống xa hoa của nhà Nguyễn đều
bổ vào đầu dân. Trong vòng 7 năm (1746 – 1752), chúa Nguyễn thu vào 5.768
lượng vàng, 45.404 lượng bạc, 2 triệu quan tiền. Số dân phải đóng góp còn gấp 2, 3
lần số đó vì “về nhà nước được một phần thì kẻ trưng thu lấy 2 phần”. Theo nhận
xét của Lê Qúy Đôn: “hàng năm có hàng trăm thứ thuế mà trưng thu thì phiền phức,
gian lận, nhân dân khổ vì nởi một cổ hai tròng”.
Đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765 – 1777), chính quyền họ Nguyễn
ngày càng thêm thối nát hơn. Thần quyền Trương Thúc Loan đã phế truất Hoàng
cùng cực ở Đàng Trong
Trong thời Trịnh – Nguyễn phân tranh và sau đó là giai đoạn đất nước bị chia
cắt, kinh tế Đàng Trong có sự phát triển hơn Đàng Ngoài. Với ưu thế đó thì những
dấu hiệu suy thoái kinh tế ở vùng đất phía nam cũng đến chậm hơn.
Đầu tiên là ngoại thương sa sút: lúc này tàu buôn phương tây hầu như không
đến nữa, tàu buôn nước ngoài tham gia vào hoạt động ngoại thương ở Đàng Trong
chỉ có thương nhân Hoa Kiều. Năm 1773, toàn bộ số tàu đến Hội An chỉ có 8 chiếc.
Đàng trong không có mỏ đồng nên thứ nguyên liệu này phải nhập khẩu hoàn
toàn. Khi ngoại thương suy giảm, đồng để đức tiền củng không đủ. Họ Nguyễn cho
phép tư nhân được đúc tiền tự do để thu lợi. Kết cục đã gây ra tình tạng rối loạn nội
tệ, mà sử học gọi là “nạn tiền hoang”. Trong khi tình hình ngoại thương suy thoái
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế hàng hóa thì sự rối loạn tiền tệ đã dẫn đến
tình trạng đầu cơ tích trữ, làm ngưng truệ mọi hoạt động lưu thông. Các đô thị mới
đều hưng thịnh như Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn dần dần lụi tàn.
Sự suy thoái kinh tế thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, nhất là ở
vùng Thuận Quảng. Đây là nơi đất chật người đông, vậy mà từ giữa thế kỷ XVIII,
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
7
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
hiện tượng dân bỏ ruộng hoang ngày càng trở nên phổ biến. Huyện nào cũng có
ruộng đất bị bỏ hoang. Trong khi đó, những ruộng đất tốt lại bị “bọn nhà giàu xâm
chiếm khiến người nghèo không có mảnh đất cắm dùi, cho nên người giàu càng
giàu, người nghèo càng nghèo”. Các ngành thủ công nghiệp, khai thác lâm sản…
cũng sa sút.
Kinh tế Đàng Trong lâm vào tình trạng đình đốn, suy thoái nghiêm trọng.
Kinh tế suy thoái, thế nkháo nặng nề, quan lại tham nhũng đã làm cho đời sống nhân
dân Đàng Trong cơ cực, gây bất bình cho mọi tầng lớp nhân dân. Từ những năm 30,
thiên tai lụt lội xảy ra liên miên khiến cho những vùng đất trù phú nhất cũng lâm
càng làm cho nền kinh tế nông nghiệp bị suy sụp.
Như vậy, do sự thối nát của chính quyền phong kiến ở cả Đàng Trong lẫn
Đàng Ngoài, mà đời sống nhân dân trở nên khốn cùng. Mâu thuẫn xã hội giữa giai
cấp nông dân với địa chủ phong kiến ngày càng gay gắt, nông dân không còn con
đừơng nào khác là phải nổi dậy khởi nghĩa.
1.3. Phong trào nông dân bùng lên rầm rộ
Trong lịch sử dân tộc, thế kỷ XVIII được mệnh danh là “ thế kỷ chiến tranh
nông dân”. Cuộc khủng hoảngvề chính trị diễn ra ở cả hai miền, do vậy phong trào
nông dân diễn ra suốt chiều dài đất nước.
Chính quyền Lê – Trịnh tỏ ra hoàn toàn bất lực trước các vấn đề kinh tế - xã
hội. Triều đình mục nát, suy đồi. Các vùng nông thôn bị các thế lực cường hào, lý
dịch thao túng. Đất đai bị tranh chiếm, dân nghèo bị ức hiếp, nông dân bị đẩy ra
khỏi làng xã, trở thành lực lượng xã hội đông đảo, bất bình với chính quyền phong
kiến. Do vậy, hộ đã đứng dậy đấu tranh. Các phong trào phát triển sâu rộng ở cả
miền núi và miền xuôi, trong đó có cả những cuộc khởi nghĩa thu hút cả hàng vạn
người tham gia và kiên cường bền bỉ đứng dậy đấu tranh chống lại ách áp bức,
cường quyền hàng chục năm. Tiêu biểu như các cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật(1738
– 1770), Hoàng Công Chất(1739 – 1769), Nguyễn Hữu Cầu(1741 – 1751), Nguyễn
Danh Phương(1741 – 1751). Tuy nhiên, những phong trào này đến năm 1770 đều bị
dập tắt. Mặt yếu của các phong trào nông dân trong giai đoạn này là bế tắc về đường
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
9
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
lối. Các cuộc khởi nghĩa chỉ thể hiện sự phản kháng quyết liệt của những người bị trị
cùng khổ đối với chính quyền tham nhũng tàn bạo, họ không đưa ra được bất cứ một
chương trình cải cách tiến bộ nào và với bản chất nông dân họ không có được sự
liên kết thống nhất. Do vậy, sự thất bại trong các phong trào là không thể tránh khỏi.
Mặt dù thất bại, nhưng phong trào của nông dân Đàng Ngoài cũng đã buộc chính
(Quảng Trị) cũng nổi dậy gây cho họ Nguyễn nhiều lúng túng.
Như vậy, tình thế cách mạng sôi sục trong cả nước cùng với sự suy yếu cực
độ của các thế lực phong kiến và sự dạn dày chiến đấu của những người nông dân ở
thế kỷ XVIII đã là nhân tố hết sức quan trọng giúp cho phong trào nông dân ở cuối
thế kỷ XVIII có thể phát động thành một cuộc chiến tranh nông dân lớn mạnh đủ
sức đánh tan mọi thế lực phong kiến lớn nhỏ trong cả nước. Chính trong hoàn cảnh
lịch sử thuận lợi đó, phong trào nông dân Tây Sơn đã xuất hiên và có đủ điều kiên
để phát triển ngày càng lớn mạnh.
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
11
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
CHƯƠNG HAI
PHONG TRÀO TÂY SƠN
BÙNG NỔ VÀ THẮNG LỢI
2.1. Vài nét về phong trào Tây Sơn và căn
cứ Tây Sơn
2.1.1. Anh em Tây Sơn
Năm 1771, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ do ba anh em Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo.
Tổ tiên 4 đời của anh em Tây Sơn có gốc ở Hưng Nguyên (Nghệ An), thuộc
đất Đàng Ngoài. Trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn, năm 1655 khi quân Nguyễn
vượt sông Gianh đánh chiếm Đàng Ngoài đã bắt tù binh và nông dân vào Đàng
Trong. Trong đó có người tên là Hồ Phi Khanh (chính là tổ 4 đời của anh em Tây
Sơn) cùng với một số nông dân đưa vào khai khẩn vùng đất thuộc ấp Tây Sơn.
Sau một quá trình lao động cần cù, cực khổ, tổ tiên của anh em Tây Sơn đã
tạo đựoc một cơ ngơi khá giả. Anh em thân sinh của ba anh em Tây Sơn là Hồ Phi
Thúc đã lấy bà Nguyễn Thị Đồng và chuyển về sinh sống ở làng Kiên Thành (Tây
Sơn Hạ đạo).
Văn Dũng, Bùi Thị Xuân… Ông còn đóng góp sức mình trong việc xây dựng căn cứ
Tây sơn Thượng đạo. Đào Nguyên Phổ nhận xét về Nguyễn Huệ: “Nguyễn Văn Huệ
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
13
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
sin hra tiếng sang sảng như chuông kêu, mắt lấp lánh như chớp nhoáng, tính tình
giAảo hoạt, dụng binh đánh trận rất giỏi, người ta ai cũng đều sợ”.
Nguyễn Lữ (em thứ ba) cũng có những đóng góp trong việc huấn luyện nghĩa
quân như: sáng tác bài võ Hùng Kê Quyền và trực tiếp tham gia khởi nghĩa từu
những ngày đầu.
2.1.2. Căn cứ Tây Sơn
Căn cứ Tây Sơn thuộc ấp Tây Sơn, huyện Phù Mỹ, phủ Quy Nhơn, dinh
Quảng Nam (gồm các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai ngày nay).
Vùng quảng Nam vốn là một vùng trù phú. Các nhà buôn bán nước ngoài thường
coi Quảng Nam là một trung tâm kinh tế giàu có vào loại bậc nhất Đàng Trong. Và
Quảng Nam cũng là nơi có chế độ thuế khóa nặng nề nhất.
Ấp Tây Sơn có hai vùng là Tây Sơn Thượng đạo và Tây Sơn Hạ đạo. Đây là
vùng có vị trí thuận lợi xung yếu. Từ đây, nghĩa quân có thể uy hiếp đồng băng và
bao vây phủ Quy Nhơn, cắt đôi giang sơn của họ Nguyễn. Vùng này có nhiều voi,
ngựa và các thứ lâm sản khác, là hậu phương tại chổ cho nghĩa quân. Cư dân vùng
này, ngoài người Việt còn có nhiều thành phần khác như Chăm, Bana, Xêđăng,
Giarai… đều được tập hợp dưới ngọn cờ chính nghĩa của nghĩa quân.
Ban đầu, anh em Tây Sơn chọn Tây Sơn Thượng đạo là nơi xây dựng căn cứ
và chuẩn lực lượng. Tây sơn Thượng đạo là một vùng cao nguyên và rừng núi rộng
lớn chiếm gần ¾ đất đai của phủ Quy Nhơn. Căn cứ Tây Sơn Thượng đạo nằm trọn
vẹn ở thung lũng An Khê (Gia Lai) gồm hai phần: Tây Sơn nhất và Tây Sơn nhị.
Phần lớn căn cứ của nghĩa quân ở Tây Sơn nhị, nơi đây là vùng cư trú chủ yếu của
người Bana và một số ít người Việt. Ở đây, Nguyễn Nhạc đã đắp lũy dựa trên địa
thuẩn giữa các phe phái phong kiến và để cô lập kẻ thù, Nguyễn Nhạc còn khôn
khéo nêu lên khẩu hiệu: “Ủng hộ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, diệt trừ bọn
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
15
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
Dương Thúc Loan”. Đi tới đâu nghĩa quân cũng được ủng hộ, số người tham gia
ngày càng đông.
Những đường lối vận động cách mạng và khẩu hiện đấu tranh nói trên đã
đoàn kết và tập hợp lực lượng để đánh địch. Ngay từ những ngày đầu khởi nghĩa,
trong hàng ngũ nghĩa quân không chỉ có các tầng lớp nhân dân và đủ mọi thành
phần dân tộc mà còn có những người giàu có như Nguyễn Thung, Huyền Khuê,
thương nhân Hoa Kiều. Một phong trào nông dân trong thời phong kiến mà có được
nhiều tầng lớp nhân dân tham gia như thế là điều hiếm có.
Với sự nhiệt tình phản ứng của quảng đại quần chúng nhân dân ngay từ ngày
đầu khởi nghĩa, lực lượng vũ trang của phong trào Tây Sơn đã tới 3000 người. Căn
cứ địa Quy Nhơn lại có nhiều voi, ngựa tốt. Đồng bào miền núi Quy Nhơn có truyền
thống đua ngựa, quản tượng giỏi. Đồng bào cả miền Quy Nhơn, Kinh, Thượng đều
có truyền thống thượng võ, giỏi quân sự. Cho nên những đội quân đầu tiên của
phong trào Tây Sơn đã là những đội quân thiện chiến và dũng cảm.
Tới năm 1773, lực lượng vũ trang của nghĩa quân đã có tới hàng vạn người.
Căn cứ địa của nghĩa quân gồm một khu vực rộng lớn của phủ Quy Nhơn. Vùng An
Khê và ba huyện Phù Ly, Bồng Sơn, Tuy Viễn. Tới đây, công tác chuẩn bị cho cuộc
khởi nghĩa đã đựoc hoàn thành. Nghĩa quân có thế kiểm soát hoàn toàn vùng Quy
Nhơn. Giờ khởi nghĩa đã tới. Nghĩa quân có thể mở những cuộc tấn công đầu tiên
vào quân địch và nắm chắc phần thắng lợi.
2.2. Lật đổ ách thống trị của họ Nguyễn,
đánh tan quân Xiêm
2.2.1. Tạm hòa hoãn với quân Trịnh
lượng đối địch: mặt Bắc là quân Trịnh, mặt Nam là Tây Sơn.
Nhận thấy tình hình nguy khốn của chúa Nguyễn ở Đàng Trong, trấn thủ
Nghệ An là Bùi Thế Đạt liền dâng thư với chúa Trịnh Sâm. Sẳn mưu đồ tiến đánh
Đàng Trong, thống nhất quyền lực, Trịnh Sâm liền sai Hoàng Ngũ Phúc làm Bình
Nam thượng tướng quân cùng với bọn Búi Thế Đạt, Hoàng Đình Thể mang 3 vạn
quân tiến vào Đàng Trong.
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
17
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
Năm 1774, quân Trịnh vượt sông Gianh lần lượt đánh chiếm Bố Chính, Đồng
Hới tiến nhanh vào Thuận Hóa. Ngày 30/01/1975 quân Trịnh hạ thành Phú Xuân.
Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải bỏ kinh thành chạy vào Quảng Nam. Để Hoàng Tôn
Nguyễn Phúc Dương ở lại chống cự. Không kịp để cho bọn chúa Nguyễn nghĩ ngơi,
nghĩa quân Tây Sơn theo ha đường thủy, bộ tiến vào Quảng Nam, bắt được Hoàng
Tôn Nguyễn Phúc Dương tại Cu Đê và chiếm lấy Quảng Nam.
Tháng 3 năm 1775, quân Trịnh tiến đánh Quảng Nam. Nghĩa quân cũng tiến
lên Quảng Nam để lùng bắt Nguyễn Phúc Dương.
Tháng 4 năm 1775, quân Trịnh tiến đánh quân Tây Sơn. Lần đầu tiên nghĩa
quân Tây Sơn tiếp xúc với quân Trịnh đang trên đà thắng lợi: Nguyễn Nhạc cử Tập
Đinh làm tiên phong, Lý Tài làm trung quân, tiến đánh quân Trịnh ở Cẩm Sa thuộc
Quảng Nam. Nhưng Tập Đình bị đại bại, bỏ trốn khỏi nghĩa quân tìm đường chạy về
Trung Quốc. Nguyễn Nhạc và Lý Tài phải rút quân về Bản Tân. Quân Trịnh vẫn
tiến, Nguyễn Nhạc rút quân về Qui Nhơn.
Thấy nghĩa quân Tây Sơn đang bị thất bại nặng nề trước sức tấn công của
quân Trịnh, tháng 5năm 1775, tứơng Nguyễn là Tống Phú Hiệp đem quân đánh
chiếm toàn bộ Phú Yên. Nghĩa quân phải rút từ Phú Yên về Quy Nhơn.
Như vậy, căn cứ địa của nghĩa quân bị thu hẹp trong phạm vi Qui Nhơn,
Quảng Ngãi và lâm vào thế kẹp giữa hai gọng kìm: Quân Trịnh ở phía Bắc Quy
kết với Tống Phúc Hiệp đề lập Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dươngên ngoi chúa, Tống
Phúc Hiệp tưởng thật, hội ngộ với quân của Nguyễn Nhạc. Nhân đó, Nguyễn Huệ
mang quân đánh úp Phú Yên rồi giao cho Lý Tài Trần giữ. Như vậy là 2 vạn quân
của Tống Phúc Hiệp bị tan rã, Phú Yên thuộc quyền kiểm soát của quân Tây Sơn.
Quân Nguyễn bị đẩy lùi xuống phía Nam và từ đây mất hẳn khả năng tấn công Tây
Sơn.
Trong khi Nguyễn Huệ đánh Phú Yên thì tướng Trịnh cũng thừa cơ tiến sau
một bước vào gần căn cứ của nghĩa quân ở Chu Ổ. Nhưng với chiến thắng vang dội
của Nguyễn Huệ ở Phú Yên làm cho quân Trịnh phải kính nể. Theo yêu cầu của
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
19
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
Nguyễn Nhạc, Hoàng Ngũ Phúc phải phong cho Nguyễn Huệ là Tiên phong tướng
quân.
Sau đó, tự thấy không thể đàn áp được phong trào Tây Sơn, Hoàng Ngũ Phúc
phải rút quân về Bắc Hà. Nghĩa quân từ đây rảnh tay vì không phải đối phó với quân
Trịnh.
Như vậy, chiến thắng Phú Yên của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của
Nguyễn Huệ có tác dụng quan trong, làm thay đổi cục diện hoàn toàn có lợi cho Tây
Sơn. Chiến thắng Phú Yên đã gỡ cho nghĩa quân Tây Sơn ra khỏi thế kiềm kẹp của
hai gọng kiềm của cả hai thế lực mạnh Trịnh – Nguyễn, vĩnh viễn ngăn chặn bước
tiến vào nam của quân Trịnh và mở đường cho sự phát triển rộng lớn ra toàn quốc
của phong trào nông dân Tây Sơn.
2.2.2.2. Chiến thắng Gia Định lần I
Sau khi chiến thắng Phú Yên, cả hai kẻ địch mạnh Nguyễn – Trịnh đều bị
đẩy lùi ra căn cứ Quy Nhơn của nghĩa quân. Được rảnh tay đối phó với quân Trịnh
các lãnh tụ Tây Sơn quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt họ Nguyễn ở miền nam.
Năm 1776, Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Lữ mang thủy binh đánh chiếm Gia
Phúc Dương để Lý Tài ở lại phần Gia Định, một mình đem quân đóng ở Trấn Biên
với ý định tránh đòn mãnh liệt của Nguyễn Huệ, giữ gìn lực lượng, chờ thời cơ phản
công.
Hai bên giáp chiến, quân Nguyễn bị thiệt hại nặng nề. Nguyến Huệ tấn công
vào thành. Trước thế mạnh của Tây Sơn, đạo quân Lý Tài bị thất bại dồn dập và tan
rã dần dần.
Nguyễn Phúc Thuần và các tướng lĩnh như cha con: Trương Phúc Thận,
Nguyễn Danh Khoáng, Nguyễn Phúc Đồng đều chịu tội chết ở Gia Định vào ngày
19/10/1777.
Như vậy là những bọn chúa Nguyễn đương thời, Thái thượng vương Nguyễn
Phúc Thuần và Tân chính vương Nguyễn Phúc Dương cùng đại bộ phận quân đội và
tướng lĩnh nhà Nguyễn đều bị tiêu diệt. Toàn bộ đất đai miền Gia Định từ Phú Yên
đến Hà Tiên đều thuộc quyền kiểm soát của Tây Sơn.
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
21
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
Tháng 3/1777, Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn vương, phong cho Nguyễn
Huệ làm phụ chính, Nguyễn Lữ làm Thái phó, xây dựng lại thành Đồ Bàn và đổi tên
là thành Hoàng Đế, mở đầu cho quá trình phong kiến hóa.
Năm 1778, nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Thái Đức,
phong cho Nguyễn Huệ làm Long nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm Tiết chế.
2.2.2.3. Chiến thắng Gia Định lần 2 (1782)
và lần 3 (1783)
Sau khi thoát khỏi Long Xuyên, Nguyễn Ánh và gia quyến của y lẫn trốn vào rừng
và lẽn chạy về phía Mạn Bắc (Trà Vinh) nương nhờ cố đạo Bá Đa Lộc đang ở đó.
Tháng 2/1778, Nguyễn Nhạc cho quân theo hai đường thủy bộ đánh quân
Nguyễn. Tổng đối Tây Sơn là Chu chỉ huy quân đánh phá các các miền ven sông ở
Biên Hòa và Gia Định. Hộ giá Tây Sơn Phạm Ngạn đem quân đánh xuống Biên
Như vậy, toàn vùng Gia Định lại thuộc về quyền kiểm soát của nghĩa quân
Tây Sơn.
2.2.2.4. Chiến thắng Liên quân Xiêm -
Nguyễn
Tháng 2/1784 Nguyễn Ánh cầu cứu đến vua Xiêm. Đầu tháng 6, vua Xiêm
cho hai chấu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem hai vạn thủy quân và 800 thuyền
chiến theo Nguyễn Ánh về Gia Định và thực hiện cuộc phản công.
Tháng 7/1784, cuộc phản công của Nguyễn Ánh bắt đầu. Tuy nhiên cuộc
phản công cũng không đem lại kết quả như Nguyễn Ánh mong muốn. Nguyễn Ánh
lại đi nhờ Bá Đa Lộc đi cầu viện nơi khác. Nguyễn Huệ đã cho dàn trận tại Rạch
Gầm – Xoài Mút và đánh tiêu tan quân Nguyễn Ánh cũng như các lực lượng cầu
viện.
Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút chứng tỏ quân Tây Sơn đã trưởng thành
vượt bật cả về thế và lực, không còn là những toán du kích nhỏ bé, trang bị thô sơ
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
23
Bài Tiểu Luận: Chiến Tranh Nông Dân Và Phong Trào Tây Sơn
Đề Tài: Phong Trào Nông Dân Tây Sơn Bùng Nổ Và Thắng Lợi
nữa mà đã trở thành một đội quân tinh tinh nhuệ, thiện chiến, có thủy quân và pháo
binh, đủ sức đánh những trận lớn.
Chiến thắng này đồng thời kết thúc một giai đoạn phát triển của cuộc khởi
nghĩa Tây Sơn, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền họ Nguyễn.
2.3. Đập tan tập đoàn Lê – Trịnh, xóa bỏ
ranh giới sông Gianh
2.3.1. Chiến dịch Phú Xuân 1786
Sau khi làm chủ Nam Trung Bộ và Nam Bộ, Tây Sơn được rãnh tay đói phó với
quân Trịnh ở phía bắc
Nhận thấy thời cơ đánh Bắc Hà, Nguyễn Huệ đề nghị Nguyễn Nhạc đánh ra
bắc nhưng Nguyễn Nhạc ngần ngại chưa quyết
lịch tức 25 tháng 5 năm 1786.
Đèo Hải Vân tuy xung yếu, đồn lũy kiên cố nhưng từ nhiều năm quân Trịnh
đã khá trễ nải trong việc phòng thủ. Chủ tướng quân Trịnh tại đây là Hoàng Nghĩa
Hồ.
Khoảng trung tuần tháng 5 âm lịch năm 1786, đạo quân bộ của Tây Sơn do
Nguyễn Huệ đích thân chỉ huy đã tập kích bất ngờ nơi này, quân Trịnh không kịp trở
tay. Hoàng Nghĩa Hồ mang quân ra địch bị thua trận và chết tại chiến trường.
Đánh chiếm được Hải Vân, Nguyễn Huệ lập tức thúc quân tiến thẳng ra Phú Xuân.
Trong lúc Nguyễn Huệ tác chiến ở phía nam thì Nguyễn Lữ mang quân thủy ra sông
Gianh. Tại đây, quân Tây Sơn chia làm 2 cánh. Một cánh án ngữ sông Gianh ngăn
viện binh Trịnh từ bắc sông Gianh kéo vào; cánh kia tiến xuống chiếm đồn Bố
Chính và lũy Đồng Hới.
Tuy tại đây có không ít đồn phòng thủ nhưng các cánh quân Trịnh tại đây đều
có tinh thần chiến đấu thấp. Khi quân Tây Sơn kéo đến, các tướng sĩ Bắc Hà đều bỏ
thành lũy chạy trốn
[14]
. Khi quân Tây Sơn chiếm được Bố Chính sắp tiến vào Leo
Heo thì quân Trịnh tại đây cũng bỏ chạy, nhưng bị dân địa phương bắt nộp cho quân
Tây Sơn.
SVTH: Phan Minh Quốc MSSV: 0711676 Trang
Nguyễn Thị Phương MSSV: 0711736
25