Dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ Điện thoại cố định đến năm 2010 - Pdf 17

Lời nói đầu
ự báo là một công cụđắc lực của công tác lập kế hoạch, chiến lược
phát triển, chiến lược kinh doanh, quy hoặch phát triển dịch vụ Viễn
thông… Để cóđược chiến lược phát triển đúng đắn, kế hoạch phát triển
khả thi và biện pháp thực hiện hợp lý nhằm phát huy có hiệu quả các
nguồn lực thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội theo các mục tiêu
thì rất cần công tác dự báo.
D
Mà ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự
bùng nổ của thông tin các yếu tố bất ngờ xẩy ra liên tiếp đối với nền kinh tế
của mỗi quốc gia nên việc dự báo được các yếu tốđó là rất cần thiết đối với
các nhà hoạch định chính sách của một quốc gia cũng như của một ngành.
Ngành Bưu điện cũng như các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, để
tồn tại và phát triển một cách bền vững thì cũng cần phải cóđường lối chiến
lược đúng đắn, màđể xây dựng được chiến lược đúng đắn thì công tác dự báo
giữ một vai trò quan trọng.
Đặc biệt đối với tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt nam đã thực
hiện đường lối đổi mới vàđang phát triển theo hướng trở thành một tập đoàn
kinh tế mạnh và không còn là công ty độc quyền kinh doanh trên lĩnh vực
viễn thông, cho nên trong tương lai có nhiều các doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài sẽ tham gia vào kinh doanh các loại hình dịch vụ này, nên công
tác dự báo là rất cần thiết. Nhất làđối với các dịch vụ Viễn thông mà trong đó,
dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụĐiện thoại cốđịnh giữ một vai trò quan trọng.
Chính vì những lý do trên mà việc nghiên cứu đề tài “Dự báo nhu cầu
sử dụng dịch vụĐiện thoại cốđịnh đến năm 2010 ” là vấn đề rất cần phải quan
tâm.
Trong khuân khổđề tài này, chủ yếu nghiên cứu dự báo nhu cầu sử
dụng dịch vụĐiện thoại cốđịnh trên phạm vi toàn quốc và những số liệu phục
vụ cho đề tài này được thu thập từ nguồn số liệu của VNPT.
Để giải quyết những vấn đề trên, nội dung của đề tài được chia làm 3
chương chính sau:

thìđiều kiện về cơ sở hạ tầng tương đối phát triển, hiện đại, mà Viễn thông
là một trong những ngành đóng vai trò nền móng cho quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước. Do đóđòi hỏi ngành Viễn thông phải
phát triển toàn diện vào những năm đó.
- Sự ra đời hàng loạt của khu chế xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao và
trong giai đoạn 2005-2010 nhiều chương trình kinh tế trọng điểm của
Đảng, nhà nước về dầu khí, năng lượng, giao thông… sẽ thực sự phát huy
tác dụng to lớncủa nó và tạo nên một bước ngoặt về kinh tếđòi hỏi nhu cầu
thông tin cao và sự phục vụ của những dịch vụ Viễn thông mới.
- Thị trường chững khoán hình thành và việc phát hành trái phiếu quốc tếở
Việt nam trong một vài naưm tới đòi hỏi phải cung cấp các dịch vụ Viễn
thông cao cấp.
3. Thu nhập của dân cư
Kinh tế Việt Nam trong thời gian qua được coi là có nhiều điều kiện
thuận lợi cho phát triển viễn thông. Từ năm 1990 đến nay, tốc độ tăng trưởng
GDP hàng năm tương đối cao vàổn định, đạt khoảng 7% năm. Mặc dù năm
1997, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á diễn ra ảnh hưởng xấu đến hầu hết
các nước trong khu vực nhưng Việt Nam vẫn giữđược tốc độ tăng trưởng
5,5%. Năm 2001, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam đạt 6,84%, đứng
thứ hai thế giới.
Trước năm 1990, tích luỹ nội bộ của nền kinh tếở mức không đáng kể,
nhưng đến năm 2000 đãđạt 27% GDP. Cơ cấu kinh tế có những bước chuyển
dịch tích cực. Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3%,
công nghiệp từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ tăng từ 36,8% lên 39,1%.
Thu nhập quốc dân bình quân đầu người tăng ổn định trong các năm
qua, hiện nay GDP/ người của Việt Nam khoảng gần 400 USD/ người, gấp
đôi so với năm 1991. Tỷ lệ lạm phát ổn định vàở mức thấp.
Tất cả những yếu tố trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
viễn thông, tạo ra tâm lý tốt cho các nhàđầu tư nước ngoài khi có dựđịnh đầu
tư cho Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông. Kinh tế phát triển cao

đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành, của doanh nghiệp. Viễn thông
là một ngành sản xuất dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế quốc dân,
Viễn thông cũng có những đặc điểm đặc thù riêng của mình. Các đặc điểm đó
bao gồm:
a) Tính không vật chất của sản phẩm Viễn thông:
Sản phẩm Viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới,
không phải là hàng hoá cụ thể mà là hiệu quả cóích của quá trình truyền đưa
tin tức từ người gửi đến người nhận, sản phẩm Viễn thông thể hiện dưới dạng
dịch vụ như dịch vụđiện thoại cố dịnh, chương trình phát thanh truyền hình,
truyền số liệu… Hiệu quả cóích này rất cần thiết cho tất cả các mặt sinh hoạt
và hoạt động của con người kể cả trong lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu
dùng trong lĩnh vực tiêu dùng xã hội và cá nhân.
b)Quá trình sản xuất kinh doanh gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Quá trình sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ Viễn thông nó khác với quá
trình sản xuất ra các sản phẩm vật chất khác phải trải qua bốn khâu: sản xuất -
lưu thông - phân phối - tiêu dùng mà sản phẩm Viễn thông chỉ trải qua hai
khâu trùng nhau là sản xuất và tiêu dùng. Đặc điểm này thể hiện rõ nhất trong
điện thoại, nơi mà quá trình truyền đưa tín hiệu điện thoại là quá trình sản
xuất được thực hiện với sự tham gia của người nói, tức là quá trình sản xuất
xảy ra đồng thời với quá trình tiêu dùng.
c) Quá trình sản xuất Bưu chính Viễn thông mang tính dây truyền.
Để truyền đưa tin tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận thường
có từ hai hay nhiều cơ sở Viễn thông tham gia, mỗi cơ sở chỉ thực hiện một
giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức hoàn chỉnh đó. Để tạo ra
sản phẩm hoàn chỉnh mỗi cơ sở Viễn thông thường chỉ làm nhiệm vụ hoặc là
“giai đoạn đi” hoặc là “giai đoạn đến”, “giai đoạn quá giang”. Vì vậy trong
Bưu điện tồn tại hai khái niệm về sản phẩm là : sản phẩm ngành và sản phẩm
cơ sở.
Có nhiều cơ sở Bưu chính Viễn thông tham gia vào quá trình truyền
đưa tin tức hoàn chỉnh trong khi đó việc thanh toán cước chỉ diễn ra ở một nơi

hệ số sử dụng lao động bình quân thường thấp hơn so với các ngành khác.
Ngoài ra nhu cầu truyền đưa tin tức có thể xuất hiện bất kỳ khi nào để thoả
mãn mọi nhu cầu của khách hàng ngành Bưu điện phải hoạt động 24/24 giờ
trong ngày đêm. Sẽ tồn tại những khoảng thời gian mà phương tiện thông tin
và lao động được bố tríđể thường trực.
2. Các đặc trưng kinh tế của sản phẩm Viễn thông.
Sản phẩm Viễn thông có những đặc trưng sau:
- Đặc trưng 1: Sản phẩm Viễn thông có vai trò thiết yếu đối với đời sống
xã hội.
- Đặc trưng 2: Các loại dịch vụ Viễn thông có khả năng thay thế lẫn nhau
trong giới hạn nhất định. Thay vì sử dụng điện thoại di động, người ta thường
mua card phone (điện thoại dùng thẻ) để sử dụng tại các điểm điện thoại
công cộng với chi phí thấp hơn nhưng khả năng tiện lợi lại kém hơn.
- Đặc trưng 3: Do quá trình tiêu dùng sản phẩm Viễn thông không tách rời
quá trình sản xuất nên sản phẩm Viễn thông không thể tồn tại được ngoài quá
trình sản xuất đểđi vào lưu thông như các sản phẩm khác, do vậy sản phẩm
hay kết quả sản xuất cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữđược
ở trong kho, không dự trữđược...
III. NHỮNGVẤNĐỀCHUNGVỀDỰBÁO
1. Khái niệm dự báo:
Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về
mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối
tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất
định đãđề ra trong tương lai.
Tiên đoán là hình thức phản ánh vượt trước về thời gian hiện thực
khách quan, đó là kết quả nhận thức chủ quan của con người dựa trên cơ sở
nhận thức quy luật khách quan trong sự vận động và phát triển của sự vật và
hiện tượng. Có thể phân biệt ba loại tiên đoán:
+ Tiên đoán không khoa học : là những tiên đoán không có cơ sở khoa
học, chỉ dựa trên cảm nhận chủ quan của con người.

trong quản lý kinh tế vĩ môđối với lĩnh vực Bưu chính Viễn thông, vai trò
quan trọng của công tác dự báo trước hết được thể hiện đối với công tác kế
hoạch hoá, điều đóđược thể hiện ở các nội dung sau:
- Đánh giá thực trạng phát triển bưu chính viễn thông
- Dự báo các xu hướng phát triển bưu chính viễn thông đã vàđang hình
thành và dự kiến những xu hướng phát triển tương lai.
- Xác định chiến lược tổng thể phát triển bưu chính viễn thông trong thời
kỳ dài hạn.
- Xây dựng các kế hoạch phát triển bưu chính viễn thông 5 năm và hàng
năm.
- Soạn thảo các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong
chiến lược dài hạn về kế hoạch 5 năm.
3. Phân loại dự báo
Người ta có thể phân loại dự báo nhu cầu theo các tiêu chí khác nhau:
theo mục tiêu dự báo, thời gian dự báo, theo cấp độ …
3.1. Phân loại dự báo theo mục tiêu
Tuỳ theo mục tiêu dự báo, dự báo nhu cầu có thể phục vụ cho mục tiêu
nghiên cứu các chính sách quản lý hoặc chiến lược khác hoặc nhằm thiết kếđể
tính toán cụ thể số lượng thiết bị.
Đối với mục tiêu nghiên cứu các chính sách quản lý hoặc chiến lược
khác, dự báo nhu cầu và chi phí tương lai để có thểđưa ra một chính sách toàn
diện. Bởi vậy, thường áp dụng phương pháp dự báo vĩ mô cho quốc gia hoặc
cho mỗi vùng.
Đối với mục tiêu làđể tính toán cụ thể kế hoặch thiết bị cho việc lắp đặt
mới hoặc lắp đặt thêm các thiết bị chuyển mạch, thiết bị cáp nội hạt ở mỗi
một vùng tổng đài, dự báo nhu cầu được lựa chọn dựa vào nghiên cứu chi tiết
theo từng khu vực, từng nhóm dịch vụ hoặc nghiên cứu theo nhóm ở mỗi
vùng tổng đài.
3.2. Phân loại theo thời gian dự báo
Tuỳ theo giai đoạn làm dự báo, dự báo nhu cầu được phân thành dự báo

đường cong được tạo ra bởi hai phương pháp khác nhau, những giá trị
cuối của đường cong ngắn hạn sẽ là những giá trị bắt đầu của mô hình
tăng trưởng trong trung hạn và dài hạn.
Trung và dài hạn
Dự báo lưu lượng
Ngắn hạn
Thời gian dự báo
Hình 1.1 Điều chỉnh dự báo.
3.3. Phân loại theo cấp độ vùng dự báo
Phân loại theo cấp độ vùng dự báo được chia thành hai loại : Dự báo vĩ
mô và Dự báo vi mô. Dự báo cho những vùng lớn như nhu cầu điện thoại của
một quốc gia thì gọi là dự báo vĩ mô, còn dự báo cho một vùng địa phương
chẳng hạn như nhu cầu điện thoại của một vùng tổng đài được gọi là dự báo
vi mô
a) Dự báo vĩ mô
Đối với dự báo vĩ mô phải thu thập rất nhiều các thống kê xã hội. Do
đó, cần thực hiện những nghiên cứu tỉ mỉ.
b) Dự báo vĩ mô
Dự báo vi môđược phân loại thành nghiên cứu tổng quan đối với dự
báo nhu cầu của tất cả các vùng tổng đài và nghiên cứu theo nhóm đối với dự
báo phân bổ vùng cáp thuê bao.
Dự báo vi mô cũng được áp dụng cho việc thiết kế lắp đặt các thiết bị
mới hoặc các thiết bị lắp đặt thêm như cáp và kế hoạch phân bổ tổng đài.
c) Điều chỉnh dự báo
Giữa tổng giá trị dự báo vi mô và kết quả dự báo vĩ mô thông thường
có một vài sự khác biệt. Các số liệu thống kêổn định khó có thể thu thập được
ở những vùng nhỏ vàđiều này có thể dẫn tới một số sai lệch. Bởi vậy, dự báo
trược tiếp ở những vùng lớn thường chính xác hơn là tổng kết quả dự báo vi
mô.
Điều chỉnh dự báo lam tăng độ chính xác của dự báo, tạo ra sự tương

Bước 4: Nghiên cứu các kỹ thuật dự báo và tính toán giá trị dự báo
Các phương pháp dự báo :
- Phương pháp chuỗi thời gian
- Phương pháp mô hình hoá
- Phương pháp hồi qui tương quan
- Các phương phương pháp khác
Thông qua các số liệu thu thập được để xác định phương pháp dự báo cho
phù hợp. Tuy nhiên, để cho giá trị dự báo đảm báo độ chính xác cao hơn,
điều quan trọng là nên chọn phương pháp khả thi nhất và chọn các giá trị
tối ưu.
Bước 5: Xác định các giá trị dự báo
Từ việc phân tích ở bước 3 và dựa vào các kết quả dự báo sau khi sử
dụng các kỹ thuật dự báo, các giá trị tối ưu sẽđược quyết định.
5. Một số phương pháp dự báo nhu cầu thường dùng.
Các phương pháp thường sử dụng khi dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ
bao gồm:
- Phương pháp ngoại suy (chuỗi thời gian )
- Phương pháp hồi quy tương quan
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu thị trường
- Phương pháp khảo sát quốc tế
5.1 Phương pháp ngoại suy (chuỗi thời gian)
5.1.1 Khái niệm:
Ngoại suy là một trong các phương pháp dự báo nhu cầu thường dùng
trong kinh tế. Đặc trưng của phương pháp này là sử dụng các công cụ thống
kê toán, phân tích các chuỗi số liệu thống kêđể phát hiện ra mối liên hệ bản
chất, mang tính quy luật của nhu cầu, từđó suy rộng ra cho thời kỳ tương lai.
Do vậy có thể khái niệm phương pháp ngoại suy như sau:
Phương pháp ngoại suy là sự kéo dài quy luật của nhu cầu trong quá
khứ cho thời kỳ tương lai.

1
, T
2
thì chúng có thểđược tính
như sau:
12
12
tt
xx
TT
a


=
1
12
12
1 t
tt
x
xx
TT
Tb


−=
Với:
T
1
: mật độ thuê bao quá khứ tại năm t

−−
−−
=
22
yyxx
yyxx
R
ii
ii
* Phương trình bậc 2:
Khi dữ liệu theo chuỗi thời gian có dạng đồ thị của phương trình bậc 2,
đường dự báo này ứng dụng cho:
Dự báo ngắn hạn và trung hạn.
Tuy nhiên, lựa chọn thời hạn dự báo phải cẩn thận cân nhắc đến thời
gian xu hướng của nhu cầu hiện tại.
Trong đó a, b, c là các tham số và là nghiệm của hệ phương trình:







++=
++=
++=
∑ ∑ ∑∑
∑ ∑ ∑ ∑
∑ ∑ ∑
43

Hình 1.5 : Hàm mũđiều chỉnh.
Phương trình này áp dụng cho dự báo ngắn hạn ít thay đổi
Trong đó:
x
t
: biến thời gian
y
t
: mật độ thuê bao (số thuê bao trên đầu người hoặc trên
từng hộ gia đình… và có thể phân theo từng loại thuê
bao khác nhau ) tại năm t.
a, b là các tham số .
Nếu sử dụng số liệu của hai năm quá khứ T
1
, T
2
thì chúng có thểđược
tính như sau:
12
12
tt
xx
TT
a


=
1
12
12

yxnyx
b
2
2
.
xbya
−=
Hệ số tươn quan được xác định bằng công thức:
( )( )
( ) ( )
∑ ∑

−−
−−
=
22
yyxx
yyxx
R
ii
ii
* Đường logistic:
Phương trình:
)(
0
1
ttk
e
S
y

Một cách tổng quát, từ số liệu điều tra được về nhu cầu dịch vụđiện
thoại di động cần dự báo, ta xác định các biến kinh tế chủ yếu gồm biến phụ
thuộc y và các biến độc lập
),1( nix
i
=
.
Bằng phương pháp thực nghiệm, ta xác định được hàm hồi quy tương
qua biểu thị quan hệ giữa y với
),1( nix
i
=
:
),1)(,( nixfy
ii
==
β
Trong đó :
y : là biến phụ thuộc (nhu cầu thuê bao, mật độ thuê
bao…).
β
1
, β
2
, …β
n
: là các hệ số thể hiện mối quan hệ về lượng
giữa Y
t
và X

xxxfy
βββ


=
(*)
(*) gọi là hàm hồi quy mẫu. Hàm này phản ánh gần đúng quy
luật quan hệ của các yếu tố kinh tế của đối tượng kinh tế cần dự báo, với sai
số là
ε
=−
yy

là phần dư hồi quy).
Dùng phương pháp ước lượng ta sẽ dựđoán được giá trị của một số
biến kinh tế chủ yếu của đối tượng dự báo.
5.2.3 Mô hình dự báo thường dùng:
a- Mô hình hồi quy tuyến tính đơn.
y
t
= a + bx
t
Hệ số a, b được xác định bằng phương pháp bình phương bé nhất như
sau:




=
t

n
x
n
t
+ 
t
Trong đó:
Y
t
: biến phụ thuộc, nhu cầu thuê bao hoặc mật độ thuê bao.
a
t
: các hằng số trong phương trình cần được xác định.
b
1
, b
2
,…, b
n
: các hệ số thể hiện mối quan hệ về lượng giữa Y
t
và x
t
x
1t
, x
2t
,…, x
nt
: các biến độc lập (Ví dụ: GDP, dân số, số hộ gia đình)

t
: độ sai lệch.
- Bán Logarit :
LnY
t
=  + X
t
+ 
t
Y
t
=  + lnX
t
+ 
t
1
Y
t
=  +  + 
t
X
t
Trong đó :
Y
t
: Mật độ thuê bao năm t.
X
t
: biến độc lập.


XY
βα


−=


=
=


=
T
t
t
T
t
tt
XX
XXY
1
1
)(
)(
β

Lựa chọn công thức hồi quy :

=
=

r
ii
ii
ωσ
.
22

=
−−
−−
=
∑ ∑

r luôn ở trong khoảng (0,1). Trong đó r càng gần 1 thì quan hệ giữa y
và các x
i
càng chặt chẽ, r càng gần 0 thì mối quan hệđó càng lỏng lẻo.
Nếu r > 0,75 ta nói mối quan hệ này tương đối chặt chẽ, khi không có r
lớn hơn thì có thể chấp nhận hàm này.
Nếu r < 6,5 Không đủ chặt chẽ trong quan hệ, tìm hàm khác.
Nhìn chung các nhân tố tương quan với nhu cầu là các nhân tố xã hội
kinh tế như : GDP, GDP bình quân, Chi tiêu tiêu dùng cho cá nhân, đầu tư hộ
tư nhân, đầu tư thiết bị và lãi suất.
Ngoài các tiêu chuẩn trên còn có các tiêu chuẩn về sai số của các tham
số. Việc xác định các tham số trong phương trình hồi quy thường sử dụng
phương pháp tổng bình phương bé nhất. Tuy nhiên nếu phương sai của tham
sốước lượng lại khá lớn so với giá trị thực của tham số thì tham sốđó không
còn ý nghĩa. Do đó phải xác định mức ý nghĩa của tham số.
5.3 Phương pháp chuyên gia
5.3.1 Chuyên gia:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status