HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG doc - Pdf 17


HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG PGS. TS. NGUYỄN HỒNG THÁI
Khoa Vận tải & Kinh tế
Trường Đại học Giao thông Vận tảiTóm tắt: Bài báo phân tích sự cần thiết và lợi ích cũng như trách nhiệm Nhà nước nhằm
nâng cao khả năng hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng Giao
thông tại Việt Nam.
Summary: The target of this article is to analyze the needs and benefits as well as the
responsibility of the Goverment in order to improve cooperation capability between the
Goverment and Individuals in transport infrastructure development in Vietnam. I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thu hút thành phần kinh tế ngoài Nhà nước, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý hiệu quả nguồn vốn của các dự án
đầu tư, hạn chế tối đa việc không đáp ứng được nhu cầu đầu tư của ngân sách Nhà nước. Tuy
nhiên, tại diễn đàn Việt Nam – Nhật Bản về hợp tác Nhà nước, tư nhân tại Việt Nam vừa diễn ra
tại Hà Nội, các chuyên gia khẳng định: Không một chính phủ nào có thể kham nổi toàn bộ việc
đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng, nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được
việc này vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp và nhiều rủi ro. Đấy là lý do khiến cho mô
hình hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân (Public Private partnership - PPP) ra đời, trong bối cảnh
phát triển nhanh và nhu cầu về dịch vụ công cộng cũng như cơ sở hạ tầng (CSHT) giao thông
rất lớn.
CT 2
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG ĐẦU TƯ (PPP) PHÁT

sung cho các dự án hạ tầng từ các nguồn vốn tư nhân có thể giúp làm giảm nhu cầu về vốn của
các dự án CSHT trọng điểm.
CT 2
- Thứ hai, khu vực tư nhân giúp tiếp cận được với nguồn tài chính, công nghệ tiên tiến,
quản lý hiệu quả, hoàn thành công trình đúng thời hạn và khai thác công trình có hiệu quả nhất.
- Thứ ba, các nhà đầu tư tư nhân sẽ góp phần dịch chuyển gánh nặng thanh toán từ người
chịu thuế sang người tiêu dùng bởi vì mục đích của họ là doanh thu và bù đắp chi phí.
- Thứ tư, việc tư nhân tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng sẽ góp phần vào việc chống
tham nhũng lãng phí, bởi nguồn vốn của tư nhân luôn được quản lý chặt chẽ nhằm mang lại
hiệu quả cao nhất.

III. LỰA CHỌN MÔ HÌNH HỢP TÁC GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ TƯ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN
CSHT GIAO THÔNG
Để tiến hành các dự án hợp tác giữa nhà nước và tư nhân (PPP), Chính phủ và các công ty
tư nhân tiến hành thỏa thuận hợp đồng dài hạn cho việc cung cấp tài chính, thiết kế, thực hiện và
khai thác dự án. Trong đó, khu vực công là người tạo thuận lợi, thúc đẩy, kiểm soát và trợ cấp
cho dự án. Hai bên chia sẻ rủi ro thương mại và rủi ro xây dựng. Thành công của một dự án PPP tuỳ thuộc vào:
+ Việc lựa chọn dự án
+ Tính minh bạch nhất quán trong đầu tư, qui hoạch.
+ Mức độ tham gia của Nhà nước.
Mục tiêu của PPP là sử dụng tối đa vai trò ngày càng quan trọng của công ty tư nhân ở các
nước đang phát triển, và mặt khác kiến thức của các tổ chức hợp tác phát triển. Các công ty tư
nhân hưởng lợi từ việc cải thiện môi trường đầu tư, trong khi các tổ chức hợp tác phát triển dựa
vào các công ty tư nhân như một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội - mối quan tâm
của nước đối tác. Hợp tác giữa công ty tư nhân và một tổ chức hợp tác phát triển đem lại cho cả
hai bên cơ hội đạt được mục đích nhanh hơn, hiệu quả hơn và với chi phí thấp hơn.
Sơ đồ 1: Mét sè h×nh thøc cho phÐp khu vùc kinh tÕ t− nh©n

Tư nhân mua, sở hữu
và khai thác
Tư nhân
bỏ vốn

Tư nhân sở hữu
và khai thác
Nhà nước
bỏ vốn

Tư nhân mua quyền khai thác
có thời hạn
Tư nhân bỏ vốn
xây dựng
Tư nhân khai thác
có thời hạn
Nhà nước sở hữu
khai thác
Tư nhân bỏ vốn
xây dựng
Nhà nước mua lại sở hữu
và khai thác
Biểu 1. Lợi ích cùng với mức độ tham gia của khu vực tư nhân.
Mức độ tham gia đầu tư của khu vực tư nhân
TT
Lợi ích
tiềm năng

X X
5 Đảm bảo tiến độ đầu
tư công trình
X X
6 Chia sẻ gánh nặng
đầu tư cho NSNN &
hạn chế rủi ro cho
nhà đầu tư tư nhân
X X
7 Thúc đẩy hoàn thiện
môi trường pháp lý
X
CT 2
Nguồn tác giả
Các dự án PPP có các nguyên tắc sau:
Cùng góp kinh phí: Cả hai bên đối tác góp kinh phí cho dự án.
Phù hợp với mục tiêu hợp tác phát triển: Dự án phải phù hợp với mục tiêu hợp tác phát
triển của
nhà đầu tư cũng như của nước chủ nhà.
Ðầu tư đúng thẩm quyền: đối tác đầu tư trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền chính của
mình.
72 tỷ USD là lượng vốn các chuyên gia kinh tế ước tính cần cho đầu tư phát triển CSHT
Việt Nam trong những năm tới đến 2020. Đây là con số không nhỏ đối với nguồn ngân sách
Nhà nước vốn đang còn hạn hẹp, trong khi, nếu đẩy mạnh thu hút vốn từ đầu tư nước ngoài và
các thành phần kinh tế tư nhân sẽ giải quyết được nhiều vấn đề. Tuy nhiên, nếu so sánh với các
nước trong khu vực ASEAN thì Việt Nam vẫn còn đứng ở thứ hạng thấp, sau Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines trong việc thu hút đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng giao thông.
Còn theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trong 131 quốc gia được

đầu tư đòi hỏi thời gian thu hồi vốn lâu và nguồn vốn lại lớn. Do đó cần phân loại dự án nào có
khả năng thu hồi vốn thì sẽ huy động các nhà đầu tư lĩnh vực tư nhân tham gia ( tuyến đường có
giá trị thương mại cao; khả năng khai thác lưu lượng phương tiện lớn…). Thậm chí, đối với
từng dự án cụ thể, Bộ và địa phương sẽ trình Thủ tướng cho phép áp dụng những cơ chế cụ thể
cho từng dự án, đảm bảo nhà đầu tư có lãi và thu hồi vốn đầu tư. Những dự án không có khả
năng thu hồi vốn thì Chính phủ phải bằng mọi nguồn lực của mình cố gắng để mà thực hiện. 2. Hoàn thiện khung pháp lý
Các nhà đầu tư nhận xét Chính phủ từ trước đến nay vẫn khuyến khích đầu tư tư nhân vào cơ
sở hạ tầng nhưng chỉ thông qua những tuyên bố mà không có thể chế pháp lý làm cơ sở. Hơn nữa,
những dự án hạ tầng có đầu tư tư nhân chưa có nhiều thành công khiến nhà đầu tư hoang mang,
không rõ đầu tư tư nhân có được khuyến khích hay không và nếu có thì khuyến khích hay cấm
trong lĩnh vực nào. Hiện nay, các chính sách thu hút đầu tư của tư nhân vào CSHT còn thiếu. Nghị
định thu hút đầu tư theo hình thức BOT ban hành từ năm 1993 đến nay đã quá lạc hậu.
Mặt khác theo điều tra về cảm nhận của doanh nghiệp năm 2004 do diễn đàn doanh nghiệp
Việt Nam thực hiện, các doanh nghiệp được phỏng vấn vẫn chưa hài lòng với môi trường pháp lý
và chính sách hiện tại, với điểm trung bình là 2,09 trên thang điểm tối đa là 4, thể hiện mức nói
chung không hài lòng. Hệ thống pháp luật và chính sách về kinh doanh hiện nay còn nhiều mâu
thuẫn và thiếu đồng bộ. Mâu thuẫn không chỉ tồn tại trong bản thân các luật và chính sách mà còn
xuất hiện thêm khi các luật và chính sách mới ra đời tồn tại song song với các văn bản cũ.
Các nhà đầu tư tư nhân cần khuôn khổ pháp lý chi tiết, minh bạch hơn và Việt Nam cần sẵn
sàng mở cửa cho các nhà đầu tư tư nhân vào CSHT Giao thông dưới nhiều hình thức như: độc
lập (IPP), hợp đồng xây dựng chuyển giao (BT), hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao
(BOT), liên doanh (JV) công ty cổ phần (JSC), hợp tác Nhà nước và tư nhân ( PPP).
Trong năm qua, đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực hợp tác Nhà nước và tư nhân trong đầu
tư phát triển CSHT giao thông. Tuy nhiên, trong thực tế các thủ tục hành chính công vẫn được
coi là một trong những yếu tố ảnh hưởng chính tới mô hình PPP trong phát triển CSHT Giao
thông, những vấn đề được nhắc đến nhiều nhất là:
CT 2

nghỉ ngơi, quảng cáo…)
Nhà nước hỗ trợ vốn trong đầu tư, khẳng định cam kết của Nhà nước cùng chia sẻ rủi ro,
tạo niềm tin và góp phần đảm bảo nguồn vốn đầu tư cho các nhà đầu tư. Mức tham gia của Nhà
nước tùy thuộc từng dự án, tuy nhiên tỷ lệ này nên xem xét từ 30-50% kinh phí đầu tư của dự án
và vốn đầu tư này không tính toán thu hồi vốn bằng nguồn thu trực tiếp từ công trình khi đưa
vào khai thác.
CT 2
III. KẾT LUẬN
Để đảm bảo mô hình hợp tác công tư có tính hiệu quả bên cạnh việc cải cách thể chế, tạo
hành lang pháp lý (hình thành luật đầu tư công và luật đầu tư tư nhân); Chính phủ phải tuân thủ
thực hiện hợp đồng ngay cả trong những thời điểm khó khăn; các nhà đầu tư có trách nhiệm và
bảo toàn trách nhiệm với người tiêu dùng và Chính phủ cần chuyển từ lời kêu gọi thuần túy
sang việc cho phép trên thực tế hình thành mô hình hợp tác công tư nhanh chóng phát triển hệ
thống CSHT mà nước ta đang cần.

Tài liệu tham khảo
[1]. Đề tài nghiên cứu cơ chế chính sách huy động, sử dụng và quản lý vốn để phát triển CSHT GTVT –
Hà Nội, 2001.
[2]. Nguyễn Hồng Thái. Tạp chí GTVT 12, 2002.
[3]. Hội thảo quốc tế: Phát triển và quản lý đường cao tốc tại Việt Nam, Tháng 7/2007 Hà Nội - Việt
Nam



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status