ĐỘNG TỪ THÀNH NGỮ TRONG LĨNH VỰC
NGHIÊN CỨU ANH NGỮ VÀ VIỆT NGỮ ThS. HOÀNG MINH PHÚC
Bộ môn Anh văn
Khoa Khoa học cơ bản
Trường Đại học Giao thông Vận tải
Tóm tắt: Động từ thành ngữ (ĐTTN) là một đơn vị cú pháp-ngữ nghĩa rất phổ biến
những lại vô cùng phức tạp và khó dùng trong tiếng Anh. Do đó mục đích của bài báo này là
tóm tắt các quan điểm cơ bản về ĐTTN trong lĩnh vực nghiên cứu Anh ngữ và Việt ngữ, nhằm
tiến tới xây dựng cơ sở lý luận về ĐTTN tiếng Anh trong sự so sánh với tiếng Việt giúp cho
người Việt trong việc học và sử dụng tiếng Anh.
Summary: The phrasal verb is a very popular but extremely complex and difficult-to-use
semantic – syntantic unit in English. Thus, the aim of this article is to summarize the most
essential viewpoints on phrasal verbs in English and Vietnamese linguistics in order to build
up theoretical background on English phrasal verbs in comparison with that of Vietnamese so
as to support the Vietnamese in studying and using English.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tiến trình hội nhập và toàn cầu
hóa ngày nay, tiếng Anh ngày càng khẳng
định được vai trò then chốt như một phương
tiện giao tiếp thông dụng nhất trên thế giới
trong mọi lĩnh vực: kinh tế thương mại, du
lịch, hợp tác quốc tế, khoa học kỹ thuật… Ở
Việt Nam, đó là một tiến trình đương nhiên,
kết quả là lượng người theo học tiếng Anh
ngày càng nhiều.
Đối với đa số người Việt, việc học tiếng
tạp về mặt hình thức cấu trúc, chức năng ngữ
pháp, và ngữ nghĩa – ngữ dụng, tính đa
nghĩa của đơn vị từ vựng này. Hơn nữa, việc
tìm tương đương cho các ĐTTN tiếng Anh
trong tiếng Việt vẫn luôn là một thử thách đã
và đang đặt ra trước những người Việt học và
sử dụng tiếng Anh
Chính vì tính chất phức tạp của ĐTTN
tiếng Anh, việc tìm hiểu những kết quả đã đạt
được về ĐTTN trong lĩnh vực nghiên cứu
Anh ngữ và Việt ngữ là một việc làm thiết
thực có ý nghĩa cao để tiến tới xây dựng cơ sở
lý luận tổng quan về đối tượng, tìm ra những
nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ,
đặc biệt là nhận diện và phân loại ĐTTN tiếng
Anh trong sự so sánh với tiếng Việt, khiến
chúng trở nên thân thiện và tiện dụng cho
người sử dụng.
1. ĐTTN trong lĩnh vực nghiên cứu
Anh ngữ
Phrasal verbs (ĐTTN) là một thuật ngữ
trong tiếng Anh được dùng để chỉ kết hợp cố
định của động từ (với tư cách là thành tố
chính hay thành tố trung tâm) và một hoặc hai
tiểu từ đứng phía sau (là phó từ hoặc giới từ)
tạo nên một nghĩa nhất định. Chính vì vậy
phrasal verbs trong tiếng Anh còn được gọi
bằng những tên gọi khác như lexical verbs
(động từ từ vựng tính), prepositional verbs
particle, e.g. go in for, fall over, blow up”
(một cụm từ mang tính thành ngữ bao gồm
một động từ tổ hợp với (các) giới từ hoặc một
động từ tổ hợp với một phó từ như go in for,
fall over, blow up).
Theo một quan điểm hẹp, ĐTTN được
coi là kết hợp của động từ với phó từ, nhưng
theo quan điểm rộng hơn thì ĐTTN là một
thuật ngữ chung dùng để chỉ kết hợp của động
từ với tiểu từ (là phó từ/giới từ hoặc phó từ và
giới từ).
Sự khác biệt trong việc sử dụng một thuật
ngữ chung cho ĐTTN xuất phát từ góc độ của
nhà nghiên cứu. Nếu xuất phát từ bình diện
hình thức cấu trúc, đặc biệt là lượng thành tố
cấu thành ĐTTN, những tên gọi như two-
word verbs, three-word verbs, multi-word
verbs được ưa dùng. Nếu xét trên góc độ từ
loại của tiểu từ trong ĐTTN, thì các thuật ngữ
như prepositional verbs, phrasal –
prepositional verbs là thỏa đáng. Tuy nhiên,
nếu đứng trên bình diện ngữ nghĩa-ngữ pháp,
các thuật ngữ idiomatic hay phrasal lại chiếm
ưu thế. Dẫu sao thì thuật ngữ phrasal verb
cũng là một thuật ngữ chung được đa số các
nhà nghiên cứu sử dụng để chỉ đối tượng này.
Trong lĩnh vực Anh ngữ học khi nghiên
cứu động từ, các tác giả đều thống nhất rằng
ĐTTN là một hiện tượng rất đặc trưng của
động từ tiếng Anh, tuy nhiên cách nhận diện
after (giống), look after (chăm sóc)…Trong
các tình huống này, động từ và tiểu từ không
thể phân tách, trật tự trong động ngữ bao giờ
cũng là Verb + Particle + Object
(iv) Verb + particle + preposition +
object như look forward to (trông chờ), catch
up with (bắt kịp), go back on (your promises)
(không giữ (lời hứa))…
Randolph Quirk cùng các tác giả khác
của Ngữ pháp tiếng Anh hiện đại (A Grammar
of Contemporary English) căn cứ vào tiểu từ
trong ĐTTN đã phân chia chúng thành ba
nhóm là:
Phrasal verb (ví dụ: John called up the
man);
Prepositional verb (ví dụ: John called
on the man); và
Phrasal – Prepositional verb (ví dụ:
John put up with the man)
Ông gọi ĐTTN là một đơn vị ngữ nghĩa-
cú pháp (a semantic and syntactic unit), và
xác định rằng chúng khác với kết hợp tự do
của động từ với giới từ ở sự cố kết (cohesion).
Ông đã đề cập tới ba nhóm ngữ nghĩa của
ĐTTN, đó là:
(i) ĐTTN bảo toàn nghĩa của các từ
thành tố, ví dụ look over (xem xét), set up (sắp
xếp)…
Động từ giữ nguyên nghĩa gốc, còn tiểu
từ có chức tăng tăng cường (intensifying
come, cut, get, give, go, keep, knock, look,
make, pass, pick, pull, put, run, set, take, turn.
[11: 8] Từ một hướng tiếp cận khác, nhiều tác
giả cũng đã cố gắng phân chia ĐTTN thường
dùng theo nhóm chủ đề như weather (thời
tiết), travel (du lịch, đi lại), technology (công
nghệ), computer (máy tính), news (tin tức),
crime (tội phạm)…
Các nhà từ điển học không chỉ quan tâm
đến phạm trù ngữ nghĩa (giải nghĩa ĐTTN),
mà còn chú ý tới các bình diện ngữ pháp ngữ
dụng của ĐTTN. Kết quả của các nghiên cứu
này thể hiện ở các cuốn từ điển giải nghĩa
chuyên về ĐTTN Anh – Anh.
Tóm lại, tùy thuộc vào mục đích nghiên
cứu cũng như góc độ nghiên cứu mà trong
lĩnh vực Anh ngữ học ĐTTN được xem xét
dưới những bình diện khác nhau, các kết quả
đã đạt được khá phong phú góp phần giải đáp
những vấn đề do ĐTTN đặt ra.
2. ĐTTN trong lĩnh vực nghiên cứu
Việt ngữ
Trong lĩnh vực Việt ngữ, động từ được
nghiên cứu trong hầu hết các công trình như
một từ loại đóng vai trò làm thành phần chính
trong câu, bên cạnh danh từ, tính từ, trạng từ.
Các vấn đề các tác giả quan tâm khi nghiên
cứu động từ chủ yếu tập trung quanh sự nhận
diện, phân loại theo trường ngữ nghĩa, chức
năng cú pháp, phân loại động từ với tính từ,
Động từ đa phương là các động từ có khả
năng kết hợp với từ hai đến sáu hư từ nói trên,
biểu thị những hoạt động có thể tiến hành theo
bất kỳ phương hướng nào, chúng có thể biểu
thị những động tác cơ bản của người hay vật
nói chung, ví dụ nhìn ra/vào/lên/xuống/đi/lại;
chạy ra/vào/lên/xuống/đi/lại…
Động từ đơn phương là các động từ chỉ
kết hợp với một phó từ phương hướng nhất
định như cởi ra, chụm vào, nâng lên, dìm
xuống… Khả năng kết hợp với phó từ nào là
do ý nghĩa từ vựng của động từ quyết định.
Do đó, các hư từ ra, vào, lên, xuống, đi, lại
khi kết hợp với động từ chính là tiêu chí tạo
nên các nhóm động từ trong tiếng Việt.
Diệp Quang Ban có cùng quan điểm với
Nguyễn Kim Thản về động từ chỉ hướng, ông
nhận định “chúng là những động từ tự bản
thân chỉ sự vận động có hướng xác định
không cần động từ thực khác đứng trước,…
và có thể làm vị tố trong câu” [23:500].
Nhưng các từ chỉ hướng không chỉ là động từ.
Khi kết hợp với động từ hoặc tính từ, thậm chí
cả danh từ, các từ chỉ hướng có chức năng chỉ
nghĩa thuần túy và có thể rất trừu tượng, có
khi tạo ra sự vận động, có khi không chỉ ra sự
vận động hay rất xa với sự vận động. Ông đã
phân chia động từ đứng trước từ chỉ hướng
làm ba loại:
xuất gọi là quan hệ giới ngữ.
Sau một động từ đã có thành tố phụ với
chức năng bổ ngữ, ví dụ treo cái áo vào tủ;
đặt cuốn sách lên bàn. Theo tác giả, trong các
trường hợp này, các từ vào và lên không còn
thuần túy là từ phụ của động từ nữa, mà có
chức năng khá gần với chức năng của giới từ
truyền thống – chức năng của một từ nối.
Tác giả Nguyễn Thị Quy cũng dành sự
chú ý đặc biệt cho các vị từ chỉ hướng lên,
xuống, ra, vào, đi, lại. Theo tác giả, các vị từ
chỉ hướng đi kèm theo sau các vị từ với tư
cách trạng ngữ, nhưng với mỗi loại vị từ, các
trạng ngữ này lại có những ý nghĩa khác nhau
rõ rệt. Khi kết hợp với các động từ, các trạng
ngữ chỉ hướng có những ý nghĩa sau:
Ý nghĩa chỉ hướng hoặc mục đích cho
các vị từ chỉ sự chuyển động như chạy, bay,
bước, bò… và các vị từ chỉ hành động như
đẩy, dắt, ném, phun, rót…
Ý nghĩa thể: chỉ những hành động nhằm
đạt đến hiệu quả như tìm (kiếm, chạy, nghĩ,
nghiên cứu, chế tạo) ra
ý nghĩa hướng + kết quả: moi ra sạn
ý nghĩa “bắt đầu”: cháy/bùng/bốc;
ca/hát/kêu lên
Hai nhóm ý nghĩa của các vị từ chỉ
hướng được tác giả nhấn mạnh là (a) chuyển
một tư thế tĩnh thành một động tác (động),
như đứng lên, ngồi xuống, và (b) chuyển từ
của ĐTTN tiếng Anh) cũng đã xác định được
vị trí trong Việt ngữ học. Trên cơ sở các quan
điểm đó, bước đầu có thể rút ra một số luận
điểm quan trọng như sau:
- Trong hai ngôn ngữ Anh và Việt, động
từ đều có thể kết hợp với tiểu từ để tạo ra các
kết hợp cố định mới với các nghĩa mới (hay
các dạng phức hợp của động từ);
- Trong cả hai ngôn ngữ, các tiểu từ trong
các kết hợp mới phần lớn thuộc nhóm từ chỉ
hướng như ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về,
lại, tới, đến;
- Về mặt ý nghĩa, trong cả hai ngôn ngữ
kết hợp mới giữa động từ với tiểu từ có thể
mang nghĩa gốc (nghĩa đen) hay nghĩa chuyển
(nghĩa bóng) của các từ thành tố;
- Tính đa nghĩa là một trong các đặc
trưng của ĐTTN trong cả hai ngôn ngữ
Chính vì vậy việc nghiên cứu các đặc
trưng của ĐTTN tiếng Anh trong sự đối chiếu
với tiếng Việt là một việc làm có ý nghĩa thiết
thực và là cơ sở quan trọng giải quyết các khó
khăn mà ĐTTN tiếng Anh đặt ra cho người
Việt học và sử dụng tiếng Anh. Mức độ tương
đương của ĐTTN giữa tiếng Anh và tiếng
Việt trên các bình diện hình thức cấu trúc,
chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa là những
gợi mở hết sức lý thú và thiết thực cần được
đầu tư nghiên cứu.
Tài liệu tham khảo
grammar of contemporary English, Longman 1972.
[15]. Taylor, John. Cognitive Grammar. Oxford
University Press 2002.
[16]. Swan. Practical English Usage. Oxford
University Press 1997
[17]. Diệp Quang Ban. Ngữ Pháp tiếng Việt, NXB
GD 2005
[18]. Đinh Văn Đức. Ngữ pháp tiếng Việt – Từ
loại. ĐHQG HN 2001
[19]. Đỗ Hữu Châu. Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt.
NXB Giáo dục 1999
[20]. Đỗ Hữu Châu. Các bình diện của từ và từ
tiếng Việt. NXB ĐHQG Hà Nội 1999.
[21]. Hoàng Văn Vân. Nghiên cứu dịch thuât.
NXB KHXH 2005.
[22]. Nguyễn Kim Thản. Động từ trong tiếng Việt.
NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1997.
[23]. Nguyễn Thị Quy. Vị từ hành động tiếng Việt
và các tham tố của nó. NXB KH & XH 1995.
[24]. Nguyễn Thiện Giáp. Những lĩnh vực ứng
dụng của Việt ngữ học. NXB ĐHQG Hà Nội 2006.
[25]. Trần Hữu Mạnh. Ngôn ngữ học đối chiếu cú pháp
tiếng Anh – tiếng Việt. NXB ĐHQG Hà Nội 2007.
[26]. Xuân Bá. Cụm động từ tiếng Anh. NXB
ĐHSP 2005♦