Đồ án tốt nghiệp một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn - Pdf 17

Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Mục lục
Lời mở đầu
Phần 1: Cơ sở lý luận chung của phân tích tài chính
 Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp:
 Khái niệm hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp:
 Nguyên tắc của hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp:
 Mục tiêu của hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp:
 Phân tích tài chính trong các doanh nghiệp:
 Khái niệm và mục đích của phân tích tài chính:
 ý nghĩa của phân tích tài chính:
 Thông tin cần thiết trong phân tích tài chính:
 Bảng cân đối kế toán:
 Phần tài sản:
 Phần nguồn vốn:
 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
 Phần I: Lãi, lỗ:
 Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước:
 Phần III: Thuế GTGT:
 Nội dung và phương pháp phân tích tài chính:
 Nội dung phân tích tài chính:
 Phương pháp phân tích tài chính:
 Những công cụ chủ yếu trong phân tích tài chính:
 Định nghĩa:
 Sử dụng công cụ phân tích tài chính:
 So sánh các báo cáo tài chính:
 Phân tích các tỷ số:
 Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp:
 Phân tích bảng cân đối kế toán:
Trang 1
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN

Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, nhu cầu vốn cho nền kinh tế và cho từng doanh
nghiệp đang là một vấn đề bức xúc. Hơn thế nữa, trong nền kinh tế thị trường, sức
cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của từng doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn
vào hiệu quả hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động tài chính. Trong điều
kiện hiện nay, khi mà nhu cầu quản lý doanh nghiệp tăng lên, khi có sự phát triển
của các thị trường tài chính, … thì phân tích tài chính đã phát triển nhanh chóng.
Phần I
Cơ sở lý luận chung của
Trang 3
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
333
3
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
phân tích tài chính
 Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp:
 Khái niệm hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp:
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp là hoạt động nhằm giải quyết các mối
quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và
được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.
Hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp bao gồm những hoạt động cơ bản
là: xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để
đáp ứng tốt nhu cầu và sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Hoạt động tài
chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp và có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Vai trò đó thể hiện ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, trong việc
thiết lập các dự án đầu tư ban đầu, dự kiến hoạt động, gọi vốn đầu tư, …
 Nguyên tắc của hoạt động tài chính của doanh nghiệp:
Hoạt động tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
sản xuất kinh doanh. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm việc tổ chức

về các khoản mà doanh nghiệp phải nộp, như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu (nếu có), doanh nghiệp phải nộp đúng thời hạn,
đủ về số lượng.
- Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các doanh nghiệp và đối tượng
khác, thể hiện ở việc mua bán sản phẩm hàng hoá đã đến kỳ thanh toán phải thanh
toán đầy đủ, đúng hạn, không để dây dưa kéo dài.
- Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên, thể
hiện ở việc thanh toán tiền lương và các khoản thu nhập khác. Đến kỳ thanh toán,
doanh nghiệp phải thanh toán đầy đủ, đúng thời hạn, không sử dụng các khoản thu
nhập của người lao động vào các mục đích khác, không lành mạnh.
 Phân tích tài chính trong các doanh nghiệp:
 Khái niệm và mục đích của phân tích tài chính:
Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số
liệu về tài chính hiện hành với quá khứ. Thông qua việc phân tích tài chính, người
sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro
của doanh nghiệp trong tương lai.
Trang 5
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
555
5
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp và đồng
thời là nguồn thông tin tài chính chủ yếu đối với những người ngoài doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính không những cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp tại
thời điểm báo cáo mà còn cho thấy những kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt
được trong hoàn cảnh đó.
Mục đích của phân tích báo cáo tài chính là giúp người sử dụng thông tin
đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh
nghiệp. Bởi vậy phân tích báo cáo tài chính của một doanh nghiệp là mối quan tâm
của nhiều nhóm người khác nhau như Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà

rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
+ Định hướng các quyết định của Ban giám đốc cũng như của giám đốc
tài chính: quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần …
+ Là cơ sở cho các dự báo tài chính; kế hoạch đầu tư, phần ngân sách
tiền mặt …
+ Cuối cùng, phân tích tài chính là công cụ để kiểm soát các hoạt động
quản lý.
Phân tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và là cơ
sở cho chủ doanh nghiệp, các nhà quản trị, làm sáng tỏ không chỉ chính sách tài
chính mà còn làm rõ các chính sách chung.
- Đối với các nhà đầu tư: Các cổ đông – là các cá nhân hoặc doanh nghiệp –
quan tâm trực tiếp đến tính toán của doanh nghiệp vì họ đã giao vốn cho doanh
nghiệp và có thể phải chịu rủi ro. Do đó, mối quan tâm của các nhà đầu tư hướng
vào các yếu tố như sự rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán
vốn, …
Thu nhập của cổ đông là tiền chia lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của
vốn đầu tư. Hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh
nghiệp. Trong thực tế các nhà đầu tư thường tiến hành đánh giá khả năng sinh lợi
của doanh nghiệp. Vì vậy họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình
hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Đồng thời các nhà đầu tư cũng quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu
quả của công tác quản lý. Những điều đó nhằm bảo đảm sự an toàn và tính hiệu
quả cho các nhà đầu tư.
- Đối với người cho vay: Mối quan tâm của họ hướng chủ yếu vào khả năng
trả nợ của doanh nghiệp, vì vậy họ đặc biệt chú ý đến lượng tiền và các tài sản
khác có thể chuyển đổi nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết
Trang 7
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
777
7

Trang 8
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
888
8
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
tài chính mà có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác như: các thông tin chung về
kinh tế, thuế, tiền tệ; các thông tin về ngành, các thông tin về pháp lý.
+ Các thông tin chung: là tình hình chung về kinh tế. Sự suy thoái hoặc tăng
trưởng có tác động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh: khi cơ hội thuận lợi, các hoạt
động của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như giá
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cũng biến động cùng chiều với các hoạt
động.
+ Các thông tin theo ngành: là những thông tin liên quan đến tính chất của
các sản phẩm, quy trình kỹ thuật áp dụng, cơ cấu sản xuất, nhịp độ phát triển của
các chu kỳ kinh tế.
+ Các thông tin liên quan đến doanh nghiệp: bao gồm các thông tin liên
quan đến thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, chính sách thương mại, triển vọng
kinh tế, …
Tài liệu quan trọng nhất được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp là các báo cáo tài chính như: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và tình hình cụ thể của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản
ánh một cách tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành
vốn, tình hình tài chính, cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để
đánh giá tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính
của doanh nghiệp trong thời kỳ hoạt động đã qua, giúp cho việc kiểm tra, giám sát
tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Trong hệ thống báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán là tư liệu
cốt yếu trong hệ thống thông tin về các doanh nghiệp.

- Phân tích tình hình và khả năng thanh toán.
- Phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lợi của vốn.
- Phân tích tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
- Phân tích điểm hoà vốn trong kinh doanh.
 Phương pháp phân tích tài chính:
Để nắm được một cách đầy đủ thực trạng tài chính cũng như tình hình sử
dụng tài sản của doanh nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét các mối quan hệ và
tình hình biến động của các khoản mục trong từng báo cáo tài chính và giữa các
báo cáo tài chính với nhau.
Trang 10
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
101010
10
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành bằng hai phương
pháp: Phương pháp phân tích ngang, phương pháp phân tích dọc báo cáo tài chính.
Phân tích ngang báo cáo tài chính là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến
động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài
chính; còn phân tích dọc là việc sử dụng các tỷ lệ; các hệ số thể hiện mối tương
quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra
các kết luận.
 Những công cụ chủ yếu trong phân tích tài chính:
 Định nghĩa:
Công cụ phân tích tài chính là một phương pháp hoặc một kỹ thuật dùng để:
- Đo lường hiệu quả về mặt tài chính của các hoạt động đã qua như; khả
năng sinh lời của một doanh nghiệp có thể biểu hiện bằng tỷ suất.
- Đánh giá mức độ hoàn hảo về tài chính: tỷ lệ sinh lời 10% là cao hay thấp?
- Giúp cho vịêc ra quyết định thông qua việc tạo điều kiện đánh giá các tác
động của các quyết định vào tương lai của doanh nghiệp.
- Đánh giá tình hình tài chính.

số lượng – chỉ số, phân tích tài chính cũng luôn cần được nhận thức rõ ràng về
những chênh lệch trong thực hành kế toán mà các chênh lệch này đã ảnh hưởng
đến kết quả và tác động vào việc làm tăng giá trị trên báo cáo tài chính.
Trang 12
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
121212
12
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Một trong những lợi ích chủ yếu của phân tích khuynh hướng là tập trung
làm nổi bật sự phát triển theo thời gian của luật số lớn có ý nghĩa.
So sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành nhằm giúp một doanh
nghiệp giới hạn trong lĩnh vực hoạt động và hiểu rõ mặt mạnh, mặt yếu của nó so
với doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành.
 Phân tích các tỷ số:
Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cung cấp
những thông tin rất hữu ích cho việc đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng thanh
khoản, rủi ro và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng thật không dễ dàng để xác
định điểm mạnh và điểm yếu của công ty mà chỉ bằng cách xem qua các báo cáo
này.
Tỷ số là công cụ phân tích tài chính phổ thông nhất. Một tỷ số là mối quan
hệ tỷ lệ giữa hai dòng hoặc hai nhóm dòng của bảng cân đối kế toán hoặc báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh. Tất nhiên ta chỉ có thể so sánh các số liệu có quan
hệ với nhau mới thu được các tỷ số có ý nghĩa.
Thông qua phân tích các tỷ số của doanh nghiệp, chúng ta có thể đánh giá
khá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, các tỷ số tài chính
chỉ cho thấy các mối quan hệ giữa các khoản mục khác nhau trong các báo cáo tài
chính, mà chúng còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh các khoản mục đó
của doanh nghiệp qua nhiều giai đoạn và so sánh với các doanh nghiệp khác trong
ngành. Giá trị trung bình ngành là trung vị các giá trị của các doanh nghiệp trong
ngành, bởi vậy nó thay đổi theo từng thời điểm tính toán.

1. Phân tích bảng cân đối kế toán:
Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua bảng cân
đối kế toán được tiến hành như sau:
- So sánh giữa cuối kỳ với đầu năm của các khoản, các mục ở cả hai bên tài
sản và nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
- So sánh số tổng cộng giữa cuối kỳ với đầu năm trên bảng cân đối kế toán
của doanh nghiệp.
+ Nếu như số tổng cộng tăng lên, cần xem xét các nguyên nhân sau đây:
. Do nguồn vốn pháp định được bổ sung tăng thêm.
. Do nguồn vốn tự bổ sung từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
. Do nguồn vốn liên doanh được tăng thêm khi nhu cầu về vốn liên doanh
được mở rộng.
Trang 14
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
141414
14

 
! 
"
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
. Do doanh nghiệp vay thêm vốn từ ngân hàng hoặc các đối tượng vay
khác, kể cả trong nước và nước ngoài.
. Do nguồn vốn chiếm dụng được trong khâu thanh toán tăng thêm.
+ Nếu như số tổng cộng giảm xuống, có thể xem xét các nguyên nhân sau
đây:
. Doanh nghiệp trả nợ ngân hàng và các đối tượng vay khác khi các
khoản vay đã đến hạn hoặc quá hạn phải trả.
. Do nguồn vốn liên doanh bị rút bớt, khi nhu cầu về vốn liên doanh phải

giá trị cao của chỉ tiêu này có thể diễn giải như một sự thuận lợi trong tính linh
hoạt cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể được xem như một sự ứ đọng gây lãng
phí vì không đưa được nguồn lực tài chính vào hoạt động có khả năng sinh lợi cao
hơn so với lãi suất của thị trường tài chính.
Trong đó cần xem xét các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ trọng của tiền trong tổng tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn:
Chỉ tiêu này quá cao biểu hiện tiền của doanh nghiệp nhàn rỗi, vốn không được
huy động vào sản xuất kinh doanh nên hiệu quả sử dụng vốn thấp. Nếu chỉ tiêu này
quá thấp cũng gây khó khăn cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Tỷ trọng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn trong tài sản lưu động và
đầu tư tài chính ngắn hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra nguồn lợi tức
trong thời gian ngắn cho doanh nghiệp.
+ Tỷ trọng các khoản phải thu chiếm trong tài sản lưu động và đầu tư tài
chính ngắn hạn: Chỉ tiêu này là một trong các tham số thể hiện chính sách thương
mại của doanh nghiệp và phần nào phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn càng
nhiều. Do đó doanh nghiệp cần có các biện pháp thúc đẩy quá trình thu hồi các
khoản nợ phải thu.
+ Tỷ trọng hàng tồn kho trong tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn:
Chỉ tiêu này thể hiện ràng buộc kinh tế – kỹ thuật của doanh nghiệp tuỳ theo loại
hình hoạt động. Nó có đặc trưng kém ổn định và phụ thuộc vào biến động của thị
trường cũng như quyết định của chính doanh nghiệp. Hơn nữa, hàng tồn kho gồm
các thành phần hàng mua đi trên đường, nguyên vật liệu trong kho, sản phẩm dở
dang trên dây chuyền sản xuất và thành phẩm hàng hoá tồn kho, hàng gửi đi bán.
Như vậy độ dài của các giai đoạn cung ứng – sản xuất và thương mại sẽ ảnh hưởng
đáng kể đến chỉ tiêu này. Chỉ tiêu này càng cao, doanh nghiệp cần xác định nguyên
nhân và tìm biện pháp giải quyết các mặt hàng còn tồn đọng nhằm thu hồi vốn.
Trang 16
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
161616

đầu tư vào TSCĐ thì dành ra bao nhiêu để đầu tư vào TSLĐ. Ta có tỷ số phản ánh
cơ cấu tài sản:
b) Phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp:
Trang 17
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
171717
17

/ 0)12)3
!  0
"
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Đối với nguồn hình thành tài sản, cần xem xét tỷ trọng từng loại chiếm trong
tổng số và xu hướng biến động của chúng. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu
nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm:
* Tỷ trọng của nợ phải trả trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp:
Chỉ tiêu này phản ánh toàn bộ số tiền vay nợ của doanh nghiệp trong tổng số
nguồn vốn. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp vay nợ nhiều do đó
doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn về tình hình tài chính và rủi ro tài chính của doanh
nghiệp sẽ tăng.
+ Tỷ trọng của nợ ngắn hạn trong tổng số nợ phải trả: Chỉ tiêu này càng cao
chứng tỏ nợ phải trả cho vốn lưu động của doanh nghiệp càng nhiều.
+ Tỷ trọng của nợ dài hạn trong tổng số nợ phải trả: Chỉ tiêu này càng cao
chứng tỏ nợ phải trả cho việc đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn
của doanh nghiệp càng nhiều.
+ Tỷ trọng của nợ khác trong tổng số nợ phải trả.
* Tỷ trọng của nguồn vốn chủ sở hữu chiếm trong tổng số nguồn vốn:
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì
doanh nghiệp có đủ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập của
doanh nghiệp đối với các chủ nợ vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệp hiện có đều

Nếu mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm, mức sinh lợi
trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng so với kỳ gốc và so với các doanh
nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh trong kỳ càng cao và ngược lại mức
hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng, mức sinh lợi trên một đơn vị
doanh thu thuần càng giảm so với kỳ gốc và so với các doanh nghiệp khác thì
chứng tỏ hiệu qủa kinh doanh trong kỳ càng thấp.
VII. Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp:
1. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán:
 Phân tích tình hình thanh toán:
Đòn cân nợ làm gia tăng tiềm năng tạo ra lợi nhuận và đồng thời nó cũng
làm tăng rủi ro cho các chủ sở hữu. Rủi ro của các chủ nợ cũng gia tăng cùng đòn
cân nợ, bởi khi số nợ càng nhiều thì khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp càng cao, do
đó nguy cơ không thu hồi được nợ của các chủ nợ càng tăng.
Trang 19
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
191919
19
45 &6)789:);<)) ! =>) 9)+
4,?)@69:);<))
"
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Bởi vậy phân tích tình hình trả nợ có ý nghĩa rất quan trọng đối với không
chỉ doanh nghiệp mà cả với các chủ nợ và công chúng đầu tư. Tình hình thanh toán
của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh nợ phải thu và các chỉ
tiêu phản ánh nợ phải trả. Về mặt tổng thể, tình hình thanh toán các khoản nợ phải
thu và thanh toán nợ phải trả được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
* Chỉ số nợ:
Chỉ số nợ =
ns¶ tµi Tæng
nîTæng

C;))9) DE
" "
E
45 &6)78:);<))
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Trong công thức trên:
Số tiền hàng bán chịu ở đây là doanh thu bán hàng (doanh thu thuần).
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính như sau:

Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả
của việc đi thu hồi nợ. Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu lớn, chứng tỏ
doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên, số vòng
luân chuyển các khoản phải thu nếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnh hưởng đến
khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán quá chặt chẽ (chủ yếu là thanh
toán ngay trong thời gian ngắn).
* Thời gian quay vòng của các khoản phải thu hay kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu phản ánh số ngày cần thiết để thu được các
khoản phải thu (các khoản phải thu quay được một vòng thì mất mấy ngày).

Hệ số này hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách thương mại của doanh nghiệp
và có phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp. Kỳ thu tiền bình quân càng ngắn,
chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn.
Ngược lại, thời gian quay vòng của các khoản phải thu càng dài, chứng tỏ tốc độ
thu hồi tiền càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều.
Khi phân tích, cần tính ra và so sánh với thời gian bán chịu quy định cho
khách hàng. Nếu thời gian quay vòng các khoản phải thu lớn hơn thời gian bán
chịu quy định cho khách hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và
ngược lại, số ngày quy định bán chịu cho khách hàng lớn hơn thời gian này thì có
dấu hiệu chứng tỏ việc thu hồi nợ đạt trước kế hoạch về thời gian.
* Hệ số vòng quay hàng tồn kho (Inventory Ratio):

Số ngày bình quân của một vòng quay hàng tồn kho phản ánh độ dài của
thời gian dự trữ hàng hoá và sự cung ứng hàng dự trữ cho số ngày ấy. Rõ ràng là
số ngày bình quân càng nhỏ là càng tốt. Song giá trị này bị giới hạn bởi thời gian
chế biến thiết kế của dây chuyền sản xuất (từ lúc đưa nguyên vật liệu vào dây
chuyền đến khi ra sản phẩm) và đối với một số sản phẩm thì gồm cả thời gian lưu
kho hàng hoá quy định.
b) Phân tích khả năng thanh toán:
Trang 22
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
222222
22
));9))G
!  9-+)1&'
! . ()*
"
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
Để có cơ sở đánh giá tình hình thanh toán của doanh nghiệp trước mắt và
triển vọng trong thời gian tới, cần đi sâu phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán
của doanh nghiệp.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rõ nét qua khả năng
thanh toán. Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao thì tình hình tài chính sẽ
khả quan và ngược lại. Do vậy, khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp,
không thể không xem xét khả năng thanh toán. Trước hết tính và so sánh giữa
cuối kỳ và đầu năm trên các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán:
* Hệ số thanh toán chung:
Hệ số thanh toán chung =
tr¶ iph¶ nîsè Tæng
ns¶ tµi sè Tæng
Hệ số thanh toán chung là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh
toán tổng quát của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này có vai trò rất quan

I  07,)*);J.,)*
! .,)*
! . ()*
"
Phạm Thị Ngọc Lan Đồ án tốt nghiệp
* Bên cạnh hệ số thanh toán hiện thời, để nắm được khả năng thanh toán tức
thời (thanh toán nhanh), cần tính và so sánh chỉ tiêu hệ số thanh toán nhanh:

Hệ số thanh toán nhanh thường được dùng như là hệ số chủ yếu để đánh giá
cân bằng tài chính ngắn hạn, là chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng thanh toán
nhanh các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Nếu doanh
nghiệp phải thanh toán một khoản nợ đến hạn lớn hơn khả năng hiện có thì doanh
nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi mở hạn mức tín dụng hoặc vay ngắn hạn của ngân hàng
hi thế chấp bằng các khoản phải thu. Thực tế cho thấy, hệ số thanh toán nhanh nếu
lớn hơn 0,5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì
doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ và do đó, có thể
phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán. Tuy nhiên,
hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều,
vòng quay vốn chậm, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
* Để nắm được khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lưu động là
nhanh hay chậm, từ đó xác định được doanh nghiệp có đủ tiền, thiếu tiền, hay thừa
tiền phục vụ cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, cần xem xét hệ số thanh
toán của vốn lưu động:
Thực tế, hệ số thanh toán của vốn lưu động lớn hơn 0,5 thì lượng tiền và
tương đương tiền của doanh nghiệp quá nhiều, đảm bảo thừa khả năng thanh toán,
còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp lại không đủ tiền để đáp ứng nhu cầu thanh
toán nợ ngắn hạn. Như vậy, thừa tiền hay thiếu tiền đều phản ánh một tình hình tài
chính không bình thường, nếu thừa, sẽ gây ứ đọng vốn; nếu thiếu sẽ không bảo
đảm khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.
* Đối với các khoản nợ dài hạn, để biết được khả năng thanh toán của doanh

tỷ lệ % đã thanh toán với Ngân sách Nhà nước:
Ngoài ra cần xem xét chỉ tiêu “Vốn hoạt động thuần” (vốn luân chuyển
thuần).
Một doanh nghiệp muốn hoạt động không bị gián đoạn thì việc cần thiết
phải duy trì một mức vốn hoạt động thuần hợp lý để thoả mãn việc thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn và dự trữ hàng tồn kho. Vốn hoạt động thuần càng lớn thì khả
năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao và ngược lại thì doanh nghiệp mất dần
khả năng thanh toán. Nếu vốn hoạt động thuần của doanh nghiệp < 0 thì một bộ
phận tài sản dài hạn của doanh nghiệp được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn dẫn
đến cán cân thanh toán mất cân bằng, doanh nghiệp phải dùng tài sản dài hạn để
thanh toán nợ tới hạn.
* Khả năng thanh toán lãi vay (Times Interest Earned Ratio):
Trang 25
Lớp QTDN4 - K43 - ĐHBKHN
252525
25

Trích đoạn Ban giỏm đốc gồm 4 người: Đỏnh giỏ chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của Cụng ty TPXK Đồng Giao: Thực trạng tỡnh hỡnh tài chớnh của Cụng ty TPXK Đồng Giao: Tổng lợi nhuận trước thuế Cỏc khoản phải thu 60.096.383.636 3 Vay ngắn hạn24.523.267
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status