Các thuốc điều trị ung thư doc - Pdf 17


Các thuốc điều trị ung thư

Thuốc điều trị ung thư có tác dụng làm chết hoặc ngăn chặn sự xâm
lấn, di căn của tế bào ung thư. Khoa học ngày nay đã biết được một phần
quá trình sống, lan tỏa của ung thư ở cấp độ tế bào nên bên cạnh thuốc cổ
điển còn có nhiều thuốc mới đã được ra đời
Các thuốc làm "chết" tế bào ung thư cổ điển
Nhóm tác động đến AND (ức chế tổng hợp AND), gồm nhiều phân
nhóm:
- Ankyl hóa: Dùng trong ung thư dạ dày, đại tràng, tụy, vú gồm có:
ametycin, caryolysine, endoxan, estracyt, holoxan
- Nitroso-ure (belustine, bicnu, deticene, hexastat, muphoran,
zanosar): Hòa tan trong lipid, qua được hàng rào máu - não dùng điều trị các
u não nguyên phát, thứ phát, u ở da, ở tủy, u lympho, u hắc tố.
- Các platin (cisplatin, carboplatin, oxaliplatin): Dùng trong ung thư
tinh hoàn, buồng trứng, cổ và màng trong tử cung, rau thai; u tiền liệt, bàng
quang, vòm mũi họng, phổi, xương, mô mềm, dạ dày, tuyến giáp.
Nhóm kháng chất chuyển hóa (ức chế tổng hợp acid nucleic), gồm các
phân nhóm:
- Kháng acid folic (methotrexat): Dùng trong ung thư tuyến vú,
buồng trứng, trị liệu bệnh bạch cầu cấp tính nguyên bào lympho (ở trẻ em),
ung thư tế bào lympho ác tính (không phải Hodgkin), sarcoma xương.
- Kháng puric và pirimidic (fluorouracyl, florafur, cytarabin), dùng
trong ung thư dạ dày, tụy, ruột kết, buồng trứng, bàng quang, da (bôi tại
chỗ).
Nhóm ức chế tosoisomerase: Do ức chế tosoisomerase nên ức chế
tổng hợp ADN bao gồm:

xuất estrogen, các chất tương tự LH, RH (là dạng "giả", gắn vào thụ thể ở
tuyến yên, chiếm chỗ, không cho LH, RH "thật" hoạt động làm sụt giảm
estrogen), progestin (được chọn dùng trong ung thư vú ở giai đoạn tiến xa
(bước 2 hay 3 sau khi dùng hai nhóm thuốc trên không đáp ứng).
Tương tự như thế có một số thuốc dùng trong ung thư tuyến tiền liệt
như: thuốc đồng vận với LH, RH như leuprolin, buserelin, goserelin; thuốc
kháng androgen như cyproteron, flutamid, bicallutamid, nilutamid.
Các thuốc biến đổi đáp ứng miễn dịch
Các thuốc này thúc đẩy sự trưởng thành của tế bào T từ các lypmho
bào ở máu ngoại vi, làm tăng interferon (alpha, gama), inteulekin-2 và 3 tăng
số thụ thể lymphokin trên tế bào T dùng trong ung thư biểu mô tế bào gan
nguyên phát, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, u tế bào hắc tố.
Độc tính của thuốc ung thư và cách hạn chế:
Với loại thuốc cổ điển:
Thuốc cổ điển tấn công vào tế bào ung thư đồng thời tấn công vào tế
bào lành, gây độc. Mặt khác, chúng gây viêm màng nhày, tiêu chảy, nôn
mửa làm cho người bệnh khổ sở, nhất là trong những ngày đầu dùng thuốc.
Mỗi thuốc có tính độc riêng cần có cách dùng, theo dõi thích hợp để giảm
độc.
Để giảm độc, chỉ dùng thuốc với liều mà thể trạng có thể chịu đựng
được. Nếu thể trạng suy yếu lại dùng liều mạnh có khi không chết vì ung thư
mà chết vì độc tính của thuốc. Xen kẽ đợt dùng và nghỉ thuốc thích hợp.
Dùng thuốc để củng cố hiệu lực. Nghỉ thuốc để phục hồi sức khỏe, tránh
thuốc tích liều, gây độc. Làm đủ và đúng định kỳ các xét nghiệm. Khi chỉ số
các xét nghiệm vượt giới hạn thầy thuốc có thể điều chỉnh (liều lượng hay
đổi thuốc).
Hầu hết thuốc gây độc cho thai, không dùng cho người có thai, cho
con bú. Một số thuốc gây quái thai, cần có biện pháp tránh thai khi dùng
thuốc. Nâng cao thể trạng của người bệnh bằng chế độ ăn uống thích hợp.
Với các thuốc mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status