Bình Ngô đại cáo dưới ánh sáng của loại
hình học văn hoá trung đại Một trong những đặc điểm cơ bản có tính bao trùm, chi phối mọi phương diện của văn
hoá phương Ðông thời cổ, trung đại là việc xem xét con người và thế giới trong mối
quan hệ chặt chẽ, không tách rời, là việc vũ trụ hoá thế giới con người, xem xét Thiên
đạo (đạo Trời) và Nhân đạo (đạo Người) như một thể thống nhất. Khái niệm Thiên
(Trời) vừa chỉ một nhân cách có ý chí tối cao, vừa chỉ đạo, tức là quy luật tự nhiên. Tuy
nhiên, đằng sau những quy luật vận hành của vũ trụ luận âm dương, người xưa vẫn
cảm thấy có một thế lực huyền bí nào đó chi phối. Do có đấng tối cao này mà toàn thể
vũ trụ, trong đó có con người, vạn vật sống và hoạt động trong cùng một nhịp điệu, một
tiết tấu, một “đạo” chung. Thuyết quái truyện khi giảng về bát quái, cho rằng đạo Trời là
âm dương, đạo đất là cương nhu, đạo người là nhân nghĩa. Song tất cả các phạm vi
không gian Trời, Người đều có thể giải thích, nhận thức bằng các vạch liền và vạch đứt
(dương và âm) trong sự thay đổi vị trí kết hợp của chúng. Giữa Trời và Người có một
mối quan hệ liên thông được người ta gọi là thiên nhân tương dữ hay thiên nhân tương
cảm. Việc cảm thụ thế giới, cụ thể là không gian và thời gian của người xưa in đậm dấu
ấn của vũ trụ luận này.
Thực ra, không phải đợi đến khi xuất hiện các nhà tư tưởng, các nhà triết học thì người
xưa mới vũ trụ hoá tồn tại nhân thế. Người nông dân làm ruộng, do nhu cầu canh tác
mà bắt buộc phải tiếp nhận không gian xung quanh mình như là một không gian sinh
tồn với những điều kiện tồn tại hiện thực liên quan đến thời tiết, mùa vụ, thổ nhưỡng,
giống, v.v Tục ngữ Việt Nam không ít những câu phản ánh tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn:
• “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”.
• “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”.
• “Tháng tám nắng rám trái bưởi”.
nhận nhịp tuần hoàn vĩnh cửu của tự nhiên qua sự tương tác của hai khí âm, dương :
Âm dương hai khí mặc xoay vần,
Nẻo quá thì đông đến tiết xuân.
Chúng tôi tạm dùng khái niệm thực tại trần thế và thực tại vũ trụ để chỉ hai loại thực tại
của văn hoá trung đại. Ðể minh hoạ rõ hơn cho nội dung của hai khái niệm này, chúng
tôi sẽ phân tích một tác phẩm của Nguyễn Trãi trước khi đi vào tìm hiểu Bình Ngô đại
cáo. Ðó là Dư địa chí.
Theo quan điểm hiện đại, thật khó xác định bản chất thể loại của Dư địa chí. Tác giả
khảo sát, mô tả, ở nhiều chỗ là rất cụ thể, tỷ mỷ, kỹ lưỡng về các mặt địa hình, dân số,
sông ngòi, thành quách, thổ nghi, đặc sản các vùng, các xứ. Nhưng nếu tiếp tục đọc, ta
sẽ thấy tác giả khảo sát chất đất của từng xứ bên cạnh việc mô tả phong tục tập quán
của dân địa phương, tả cách ăn mặc và tiếng nói của các tộc người bên cạnh chuyện
quỷ thần ở núi sông, thậm chí kể cả các dân tộc ở bên ngoài “bốn biển”, tức là ở bên
ngoài bản đồ địa lý của Ðại Việt. Một cái nhìn duy lý, hiện đại sẽ thấy dễ dàng một tình
trạng có vẻ như “lộn xộn”, “tuỳ tiện” đến khó hiểu của tác giả. Viết về địa lý, hà cớ gì nói
đến chuyện thần thánh, chuyện người hiền, vật lạ ở mỗi vùng, thậm chí lại đề cập cả
chuyện của người nước khác? Tuy nhiên, nếu ta phục hồi phương thức mà nhà nho
xưa cảm thụ không gian địa lý thì mọi thắc mắc sẽ sáng tỏ. Với người xưa, không gian
địa lý không đơn giản chỉ là môi trường sinh tồn của dân tộc với mọi đặc điểm tự nhiên
của nó cần phải nắm bắt để khai thác và cải tạo. Trong con mắt của người xưa, đó còn
là vùng không gian chịu ảnh hưởng năng lượng Ðức của hoàng đế. Theo quan niệm
này, nhà vua vì có Ðức lớn nên nhận được mệnh Trời, thay mặt Trời (“Ðại thiên hành
hoá”, “Thế thiên hành hoá”) làm công việc hoá dục, phổ năng lượng của mình vào toàn
bộ Thiên hạ (dưới Trời). Khổng Tử nói: “Làm chính trị nhờ vào Ðức cũng giống như sao
Bắc Ðẩu đứng yên một chỗ mà các vì sao khác đều châu tuần về”. Nói bằng ngôn ngữ
hiện đại, có thể hình dung mô hình không gian địa lý – xã hội của nhà nho như là một
từ trường mà nguồn phát ra từ trường này chính là vua. Năng lượng Ðức mà nhà vua
tâm. Kể cả trong quan hệ đối sánh với Trung Hoa thì cũng không có chuyện ta là vùng
chịu ảnh hưởng năng lượng của các hoàng đế thiên triều. Bởi vậy mà trong Dư địa chí,
Nguyễn Trãi cẩn thận ghi lại việc vua nhà Minh ban cho sứ thần của Trần Dụ Tông bốn
chữ “Văn hiến chi bang”! Cảm hứng của Dư địa chí là khẳng định một vùng không gian
độc lập nằm trong “từ trường” ảnh hưởng của Ðức của các nhà vua Ðại Việt.
Ðể kết thúc Dư địa chí, Nguyễn Trãi viết: Hoàng đế (chỉ Lê Thái Tông – T.N.T.) phán
rằng: “Ðức Thái Tổ vất vả mười năm mới bình định cả thiên hạ, truyền cho con cháu,
mong được muôn đời. Trẫm không có Ðức, lạm ở ngôi vua, nhờ các quan trung thành,
hiền lương cứu giúp để lo việc thủy chung, khiến cho Ðức của ta được sáng khắp bốn
biển”. Không gian đất nước từ Lê Lợi truyền qua Lê Thái Tông, đó là không gian vũ trụ,
một không gian từ trường của năng lượng Ðức toả phát. Ngay từ thời Lê Lợi khởi
nghĩa, theo Nguyễn Trãi cho biết ở phần kết Dư địa chí, các bầy tôi đều tôn ông là “Ðại
thiên hành hoá” (Thay Trời để làm công việc giáo hoá).
Như vậy, qua Dư địa chí, có thể thấy trong cách cảm thụ về thế giới của người thời
xưa, có hai thứ không gian cùng tồn tại: một không gian vũ trụ chồng xếp lên không
gian trần thế. Miêu tả không gian trần thế, hiện thực chịu sự chế định của nhu cầu diễn
đạt không gian vũ trụ, điều mà tư duy duy lý của con người hiện đại rất khó hình dung
nếu không phục hồi lại cách thức cảm thụ thế giới của chính người xưa. Theo chúng
tôi, từ góc nhìn này, cần hết sức thận trọng khi có chủ trương cho rằng Nguyễn Trãi đã
nêu lên một định nghĩa khá hoàn chỉnh về dân tộc. Rất có thể việc ông mô tả cương
vực, văn hoá, hiền tài, phong tục chỉ đơn giản là tạo lập một vùng không gian vũ trụ
nằm trong vùng ảnh hưởng năng lượng Ðức của các triều đại phong kiến Ðại Việt chứ
không nghĩ về một thị trường thống nhất, một ngôn ngữ thống nhất hay một nền văn
hoá thống nhất như ta ngày nay hiểu về dân tộc. Nói cách khác, vấn đề “độc lập dân
tộc” được Nguyễn Trãi hình dung khác với chúng ta ngày nay.
Nguyên lý về sự đồng tồn tại của hai loại thực tại như một nguyên lý căn bản của văn
hoá trung đại cần được lưu ý khi phân tích một tác phẩm quan trọng như Bình Ngô đại
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng,
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng
… Ðộc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Ðông Hải không rửa hết mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha ?
Ai bảo thần nhân chịu được ?
Tổng hợp lại, ta thấy kẻ địch bất nhân nghĩa vì có những việc làm sau:
• Không có đạo chí thành (chúng lừa dối).
• Giết hại kẻ vô tội.
• Không để cho dân thường được sống yên ổn: thuế má nhiều, hình phạt lắm, bóc lột
nhân dân.
• Vơ vét, cướp bóc sản vật quý của nước ta.
• Chúng tàn phá cả thiên nhiên, cây cỏ, cả côn trùng, vạn vật.
Tóm lại, chúng không có đạo chí thành, chúng tàn hại không chỉ con người mà cả thiên
nhiên, tạo vật. Chúng chà đạp lên cả nhân đạo lẫn thiên đạo nên trời đất, thần thánh và
con người đều phẫn nộ. Mầm mống thất bại, diệt vong đã hàm chứa trong hành động
bất nhân nghĩa đó. Ðến đây, chúng ta có thể dẫn lại hoàn chỉnh lập luận của Nguyễn
Trãi trong các thư gửi Phương Chính: “Ðạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng
giúp thêm. Nay bọn mày chỉ chuyên lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết
mà không xót thương. Việc ấy trời đất không dung, thần người đều giận, cho nên liền
năm chinh phạt, càng đánh càng thua”. Ở một bức thư khác, sơ đồ lập luận cũng tương
tự: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, viện công to phải lấy nhân nghĩa
làm nghĩa đầu. Duy nhân nghĩa có đủ thì công việc mới thành được. Nước mày nhân
đường, tuyệt nguồn lương thực” của kẻ thù. Ðó là những “mưu kế kỳ diệu” góp phần
đem lại chiến thắng. Nhưng như ông viết:
Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Nguyễn Trãi diễn tả cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong một không gian vũ trụ,
trong đó vị lãnh tụ Lê Lợi hội tụ đầy đủ năng lượng vũ trụ để có thể toả phát ảnh hưởng
tích cực tới toàn bộ không gian đó. Thực ra, việc giới thiệu Lê Lợi như một trung tâm
điểm tích luỹ năng lượng kỳ vĩ của vũ trụ là cảm hứng không chỉ của riêng Bình Ngô đại
cáo. Theo cách diễn tả của Nguyễn Trãi trong Lam Sơn thực lục (viết sau Bình Ngô đại
cáo), tổ tiên, ông cha Lê Lợi và bản thân Lê Lợi đã chủ động, tích cực tạo lập cho mình
năng lượng của Ðức. Sau khi chiến thắng giặc Minh xâm lược, Lê Lợi vẫn cùng các
quan luận bàn về những “nguyên nhân hưng vong, đắc thất”, có bận ông nói: “Ngày nay
thành công là do hoàng thiên giúp đỡ mà tổ tiên của trẫm chứa đức tích nhân đã lâu
cũng ngấm ngầm phù hộ nên mới được thế này”. Viết Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi
trung thành với ý tưởng này. Không phải ngẫu nhiên mà ông kể về việc tích tụ năng
lượng Ðức của gia đình Lê Lợi: tổ tiên của Lê Lợi chọn thế đất làm nhà; Lê Lợi được
một nhà sư Ai Lao tìm cho một thế đất táng mộ cha rất tốt khiến cho chính kẻ địch cũng
lo sợ, đã cho người lén đào hài cốt này đem đi và Trịnh Khả, Lê Bị đã đội cỏ bơi theo
thuyền giặc lấy lại tiểu đựng hài cốt đem về chôn lại chỗ cũ. Những điều này có thực
hay không thật khó mà biết, chỉ có điều chắc chắn là chúng phản ánh quan niệm xưa về
phong thuỷ như là sự tương tác, kết hợp của hai khí âm dương để tạo ra một tiêu điểm
tích hợp năng lượng cao nhất, có lợi nhất cho thân chủ. Ðồng thời Nguyễn Trãi cũng kể
lại những yếu tố thuộc về đạo người cũng có giá trị dẫn đến sự tích luỹ năng lượng
Ðức: “Tổ của vua [ ] nối dõi nghiệp nhà, theo chí người trước, tính hiền hoà, hay vỗ
về dân chúng, khoan nhân và thương người, xa gần hướng về, ngày càng mến phục”,
“thân phụ của vua, tính vui vẻ, hiền lành, hay làm việc thiện, mến đãi tân khách, yêu
thương dân chúng. Phàm có người đói khổ, túng thiếu, bệnh tật, chết chóc tất chu cấp
giúp đỡ, dân cõi láng giềng cũng coi như người cùng một nhà, do đó chẳng ai là không
Trận Bồ Ðằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông cũng cạn.
Ðánh một trận, sạch không kình ngạc,
Ðánh hai trận, tan tác chim muông.
Nổi gió to quét sạch lá khô,
Thông tổ kiến phá toang đê vỡ.
Những tổn thất, thất bại của kẻ thù cũng phải đo bằng tầm kích vũ trụ, bởi đó là sự
trừng phạt của trời, thần và người cộng lại:
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tốt Ðộng thấy chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ.
Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc,
Thành Ðan Xá thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
*
Chúng ta đều biết, bài Cáo được Nguyễn Trãi viết thay mặt Lê Lợi sau khi giặc Minh
thất bại nhục nhã phải rút về nước. Phải chăng đây là một thông điệp cho nhà Minh?
Khả năng này hầu như không thể có vì giặc xâm lược đã rút về, nhiệm vụ lịch sử lớn
nhất là giành lại độc lập dân tộc với giá hy sinh thấp nhất đã hoàn thành. Với chủ
trương hoà hiếu, để nhân dân hai nước nghỉ sức, Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trương
tất nhiên, một trong những đặc điểm quan trọng của hoạt động nhà vua vốn được cắt
nghĩa như là sự tiếp tục một cách trực tiếp công việc của Trời, được định nghĩa là lòng
hiếu sinh. Tất nhiên ở đây không phải là tình yêu theo kiểu Platông mà là trách nhiệm
trên phương diện quốc gia đối với sự sống của muôn vật đứng dưới quyền lãnh đạo
của Thiên tử. Ðiều này trong các văn bản quan phương xác định ngắn gọn bằng công
thức hiếu sinh, một đặc điểm quan trọng nhất của Ðức nhà vua trong phạm vi thế tục
[ ]. Hiếu sinh, hiển nhiên là một trong những định nghĩa thường được sử dụng nhiều
nhất về Ðức của vua, cái Ðức không hướng lên trên, về các thế lực thần thiêng mà
hướng xuống dưới, trải rộng khắp Thiên hạ” [1] . Hiếu sinh áp dụng cho muôn vật, nhân
nghĩa là hiếu sinh áp dụng cho con người. Lê Lợi tích luỹ đủ năng lượng Ðức qua lòng
nhân nghĩa, qua đức hiếu sinh được trời, người mến mộ và Ðức đó đã được kiểm
chứng thực tế qua cuộc kháng chiến vừa xảy ra. Vì vậy, lên ngôi Thiên tử, thế thiên
hành hoá, đại thiên hành hoá là một việc hết sức tự nhiên. Ông David G. Marr đã nhận
định khá tinh tế: “Những cơ sở tư tưởng của việc đoàn kết đời đời có những điều chưa
rõ. Nho giáo đã có một sự hỗ trợ nho nhỏ, được quan tâm tới việc nâng cao khả năng
của vua và các quân sư để quản lý các dòng họ ngỗ nghịch đang cầm quyền và giảm
bớt đi các cơ hội làm loạn của những người nông dân không được học hành” [2] .
Nguyễn Trãi vận dụng văn hoá cổ để củng cố quyền lợi Lê Lợi và sự thống nhất của
đất nước vào đầu đời Lê.
Triết học lịch sử của Nguyễn Trãi thật minh bạch: Nhân nghĩa là đạo người mà cũng là
đạo trời. Có nhân nghĩa sẽ được người, trời ủng hộ, sẽ thành công. Bất nhân bất nghĩa
sẽ thất bại. Phải chăng còn có một thông điệp ngầm ẩn nào đó gửi gắm cho chính Lê
Lợi hay những bậc trị vì của các triều đại sau đó hãy nhớ đến bài học lịch sử quan
trọng này?
Nguyễn Trãi cũng như các nhà nho chân chính khác, tuy biện chính cho đế quyền song
luôn đứng về phía nhân dân để nêu lý tưởng chính trị của mình. Ðó là lý do vì sao họ
không quan tâm tổng kết các “thuật trị quốc” là những thủ đoạn cai trị thuần tuý chỉ
mang lại lợi ích cho giai cấp phong kiến thống trị. Họ quan tâm mô tả thứ không gian vũ