Nội dung cơ bản của qui luật quan hệ SX phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng SX - Pdf 17

CÂU 1: “Đồng chí hãy trình bày nội dung cơ bản của qui luật quan hệ SX
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng SX. Sự vận dụng qui
luật này của Đảng ta trong chiến lược xây dựng nền KT thời kỳ đổi mới.
TRả LờI: Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng: phương thức SX là cách
thức tiến hành SX vật chất của con người trong giai đoạn lịch sử nhất định phương
thức SX là một chỉnh thể do hai mặt của quá trình SX cấu tạo nên nó là lực lượng SX
và quan hệ SX. Giữa hai mặt của quá trình SX luôn gắn bó chặt chẽ tác động biện
chứng với nhau trong đó lực lượng SX là nội dung còn quan hệ SX là hình thức của
quá trình SX XH. Sự tác động biện chứng giữa lực lượng SX và quan hệ SX diễn ra
thường xuyên phổ biến và là nhu cầu khách quan của toàn bộ tiến trình SX vật chất
XH quyết định đến sự phát triển kế tiếp nhau của các hình thái KT XH trong lịch sử,
cũng như của từng hình thái. Mác là người đầu tiên đã khái quát vấn đề trên thành qui
luật mà những người Mácxít vẫn gọi là “qui luật quan hệ SX phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng SX”.
Vậy thực chất của qui luật trên là gì? Và sự nhận thức vận dụng qui luật ở nước ta
hiện nay ra sao?
Trước hết chúng ta cần làm rõ hai khái niệm cơ bản đó là lực lượng SX và quan hệ
SX.
Lực lượng SX là sự thống nhất giữa người lao động và tư liệu SX tạo thành sức
SX của XH. Đó là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác
động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài
người.
Các yếu tố của lực lượng sản xuất có quan hệ với nhau. Sự phát triển của lực
lượng sản xuất là sự phát triển của tư liệu lao động thích ứng với bản thân người lao
động, với trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật của họ. Năng suất lao động là thước đo
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đồng thời, xét đến cùng, đó là nhân tố
quan trọng nhất cho sự thắng lợi của một trật tự xã hội mới.
Ngày nay nói đến lực lượng SX cần chú ý đến nội dung hiện đại của khái niệm
này. Đó là khoa học đã trở thành lực lượng SX trực tiếp cùng với công nghệ hiện đại
nó làm thay đổi sâu sắc bộ mặt lực lượng SX của nhân loại, nó qui định nội dung mới
của sức SX XH trong thời đại ngày nay. Thời đại ngày nay, tri thức khoa học trở

với người, nhưng nó mang tính khách quan, do vậy con người không có quyền tự do
lựa chọn quan hệ SX theo ý muốn chủ quan của mình. Mọi quan hệ SX chỉ hình
thành, tồn tại trên cơ sở một lực lượng SX nhất định và chịu sự quyết định của lực
lượng SX ấy. ơỷ đây cần hiểu rằng xác định lực lượng SX ở trình trạng nào để xem
xét quan hệ SX phù hợp với nó chỉ là tương đối và lực lượng SX luôn ở trạng thái
vận động, phát triển liên tục. Khi nó lực lượng SX ở trình độ nào (nghĩa là tính chất
và trình độ nào) thì nó yêu cầu kiểu quan hệ SX phát huy ở tình trạng đó, chứ nó
không đòi hỏi quan hệ SX cao hơn hay thấp hơn. Trong lịch sử nhân loại đã chứng
minh rõ điều đó, khi lực lượng SX ở trình độ thủ công, tính chất cá nhân nó đòi hỏi
quan hệ SX về mặt sở hữu cũng mang tính tư hữu. Nếu lực lượng SX ở trình độ cơ
khí hóa, tự động hóa và tính chất XH hóa ngày càng cao thì nó yêu cầu quan hệ SX
phù hợp với sự phát triển của nó là kiểu quan hệ SX mang tính XH, đương nhiên là
quan hệ SX có đáp ứng đúng đòi hỏi đó của lực lượng SX hay không thì còn do
nhiều nguyên nhân từ phía bản thân của quan hệ SX.
Tính chất quyết định của lực lượng SX đối với quan hệ SX còn biểu hiện: lực
lượng SX là yếu tố thường xuyên biến đổi phát triển một cách năng động, vừa mang
tính chất kế tục lịch sử, vừa mang tính CM. Mỗi bước vận động phát triển của nó, đặc
biệt khi lực lượng SX có sự thay đổi căn bản từ trình độ này lên trình độ khác thì nó
luôn luôn đòi hỏi quan hệ SX cũng phải vận động phát triển cho phù hợp với nó. Nói
cách khác mọi sự vận động phát triển của quan hệ SX đều có nguyên nhân trực tiếp là
từ sự vận động phát triển của lực lượng SX.
Mác nói: bất cứ sự thay đổi nào về mặt chế độ XH, bất cứ sự cải biến nào về mặt
quan hệ chiếm hữu cũng đều là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng SX
mới.
Vấn đề đặt ra tại sao lực lượng SX là yếu tố năng động hơn và vận động phát triển
trước quan hệ SX, quyết định quan hệ SX. Để trả lợi vấn đề này chỉ có thể bắt đầu từ
việc phân tích nhu cầu về vật chất và văn hóa của con người ngày càng cao, để đáp
ứng nhu cầu của mình ngày càng tốt hơn con người tất nhiên phải phát triển SX vật
chất. Quá trình phát triển SX vật chất chỉ có thể thực hiện được nhờ con người bắt
đầu băng việc thay đổi cải tiến lao động của mình, đây là quá trình liên tục không bao

Trường hợp này thường biểu hiện ở hai khuynh hướng: hoặc là quan hệ SX lạc
hậu so với sự phát triển của lực lượng SX, sự lạc hậu này có thể diễn ra trên cả 3 mặt
của quan hệ SX hoặc một trong 3 mặt đó. Trong lịch sử điều này thể hiện rất rõ ở mỗi
cuối giai đoạn phát triển của một phương thức sx, làm cho lực lượng SX tiên tiến
mâu thuẫn gay gắt với quan hệ SX lạc hậu, giải quyết mâu thuẫn này chỉ có thể bằng
một cuộc CM XH. Nhờ vậy mà XH có bước phát triển mới.
Quan hệ sản xuất sở dĩ có thể tác động (thúc đẩy hoặc kìm hãm) sự phát triển của
lực lượng sản xuất, vì nó quy định mục đích của sản xuất; ảnh hưởng đến thái độ lao
động của quảng đại quần chúng; kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công cụ, việc
áp dụng thành tựu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, việc hợp tác và phân công lao
động…
Trong xã hội có giai cấp đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chi thông qua đấu tranh giai cấp mới
giải quyết được mâu thuẫn đó để đưa xã hội tiến lên.
Đúng như Mác nói: tới một giai đoạn nào đó của chúng các lực lượng SX vật chất
của XH sẽ mâu thuẫn với những quan hệ SX hiện có … từ chỗ là những hình thức
phát triển của lực lượng SX những quan hệ ấy trở thành xiềng xích trói buộc các lực
lượng SX, khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc CM XH.
Hoặc là khi quan hệ SX phát triển không đồng bộ, có những yếu tố vượt quá xa so
với trình độ của lực lượng SX thì chẳng những không hề mở đường cho lực lượng
SX phát triển mà bản thân quan hệ SX phá hoại nghiêm trọng đối với lực lượng SX.
Trường hợp này thường do trình độ hiểu biết qui luật của con người thường bị hạn
chế, chủ quan áp đặt theo ý muốn của mình. Do vậy để tráng sai lầm thiếu sót, con
người phải không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết về vận dụng qui luật của chính
mình.
Văn kiện Đại hội 6 đã tốn kém kinh nghiệm cho thấy: lực lượng SX bị kìm hãm
không chỉ trong trường hợp quan hệ SX lạc hậu mà cả trong trường hợp quan hệ SX
phát triển không đồng bộ, có yếu tố đi quá xa so với trình độ của lực lượng SX.
Tóm lại, thực chất của qui luật là lực lượng SX đòi hỏi quan hệ SX phải luôn phù
hợp với tính chất và trình độ của lực lượng SX. Song, do nhiều yếu tố bản thân quan

quan hệ SX có thể đi trước mở đường cho lực lượng SX phát triển (CM quan hệ SX
có thể làm trước khi có lực lượng SX).
Về chủ trương chính sách lớn: cải tạo quan hệ SX cũ, xây dựng quan hệ SX mới
chúng ta đã nôn nóng ấu trĩ cho rằng chủ nghĩa XH chỉ tồn tại hình thức sở hữu
quốc doanh và tập thể. Do đó chủ trương xóa nhanh các thành phần KT không phải
quốc doanh và tập thể và xây dựng nhanh quan hệ SX chưa dựa trên sở hữu quốc
doanh và tập thể.
Và chúng ta không thừa nhận nền KT hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ. Do đó không chấp nhận KT thị trườngV, đa dạng hóa hình thức sở hữu, quản
lý phân phối. Không thấy được đòi hỏi của lực lượng SX đang ở trong tình trạng đan
xen những trình độ tính chất khác nhau để mà xác lập quan hệ SX. Mỗi cách khác bỏ
qua TBCN nhưng lại không thấy tính chất quá độ là đan xen tồn tại lâu dài của cả lực
lượng SX, quan hệ SX, kiến trúc thượng tầng.
Xác lập quan hệ SX không trên cơ sở thực trạng lực lượng SX mà còn xác lập
không đồng bộ và có yếu tố đẩy quá xa vượt lên trên trình độ của lực lượng SX ở
chỗ: không đồng bộ trong các ngành, trong cơ cấu KT, trong bản thân 3 mặt của quan
hệ SX, vượt quá xa lực lượng SX thể hiện những mô hình quan hệ SX quốc doanh và
tập thể.
Chúng ta đã đi tới chỗ đồng nhất CM sở hữu với CM quan hệ SX, CM quan hệ
SX với toàn bộ CM XHCN, đồng nhất hình thức KT với kiểu quan hệ sở hữu, qui
mô của quan hệ sở hữu với bản chất quan hệ SX XHCN. Và sai lầm thiếu sót khác
nữa là áp dụng cơ chế quản lý KT quan liêu thời chiến vào trong quan hệ SX vốn đã
xác lập không phù hợp với lực lượng SX, do đó cơ chế này đã làm ngưng động tính
sáng tạo của người lao động, kìm hãm lực lượng SX, và đã không sớm nhận thức
được sai lầm đó, nên đã kéo dài, ăn sâu vào nếp nghĩ, nếp hoạt động của thực tiễn,
cho nên trở thành khó thay đổi và trở nên quan liêu bảo thủ. Coi thường tính tất yếu
KT của SX nhỏ đang chuyển sang SX lớn, nghĩa là thông qua SX hàng hóa thị
trường mới đi lên được. Từ thực tiễn cuộc sống đã giúp chúng ta tỉnh ngộ và rút ra
được những bài học thấm thía.
Để khắc phục những sai lầm trên và vận dụng có hiệu quả qui luật này. Đại hội 6

tảng của nên KT quốc dân, thực hiện nhiều hình thức phân phối theo kết quả lao động
và hiệu quả KT là chủ yếu.
Cụ thể hóa là sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần KT, sử dụng cải tạo ở
đây là phải thông qua các hình thức trung gian quá độ. Sử dụng ở đây là cho phép tồn
tại giúp đỡ các thành phần KT, phát triển và khai thác những kế hoạch của các thành
phần KT phục vụ cho sự phát triển KT XH của đất nước, sử dụng trong khuôn khổ
pháp luật. Cải tạo ở đây là lâu dài không đồng nhất xóa bỏ ma là cải biến dần dần một
cách tự nguyện theo sự định hướng XHCN và cải tạo bao gồm loại bỏ các yếu tố tiêu
cực, lạc hậu, và kế thừa những mặt mạnh để phát triển nó lên một trình độ mạnh.
Nhận thức và vận dụng đúng đắn qui luật quan hệ SX phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng SX cùng các hệ thống, các qui luật KT XH khác của nền KT
hàng hóa thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN, nhất định chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
XH công bằng, dân chủ, văn minh.
/- Quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của
LLSX và sự vận dụng quy luật này trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam.
LLSX và QHSX là 02 mặt đối lập của phương thức sản xuất, chúng tồn tại
không tách rời nhau, mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành nên quy
luật phổ biến của lịch sử phát triển loài người, đó là quy luật về sự phù hợp
giữa QHSX với tính chất và trình độ của LLSX. Quy luật này chỉ ra rằng:
LLSX quyết định QHSX và QHSX sau khi hình thành và tồn tại nó có tác
động trở lại đối với LLSX.
LLSX quyết định QHSX thể hiện qua việc trình độ LLSX đang tồn tại đặt ra
yêu cầu QHSX phải phù hợp với nó mà không đòi hỏi cao hơn hoặc thấp
hơn.
Song, QHSX vừa phụ thuộc, vừa có vai trò độc lập tương đối và tác động
trở lại LLSX theo hai hướng: phù hợp hoặc không phù hợp.
QHSX phù hợp với LLSX, nghĩa là QHSX sau khi hình thành và tồn tại, nó
đáp ứng đúng đòi hỏi tất yếu của LLSX và sau đó nó có vai trò tạo ra sự liên
kết, kết hợp có hiệu quả hơn giữa các yếu tố cấu thành LLSX, làm cho tất cả

trọng kéo dài, gây nhiều khó khăn, thiếu thốn cho nhân dân.
* Thời kỳ đổi mới:
Kinh nghiệm thực tế những năm trước đổi mới cho thấy: LLSX bị kìm hãm
không chỉ trong trường hợp QHSX lạc hậu mà cả khi nó không đồng bộ
hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo, có những yếu tố đi quá xa so với trình
độ của LLSX.
Nhận thức sai lầm, Đảng ta kiên quyết sửa chữa qua chủ trương đổi mới,
mở cửa; đổi mới về kinh tế thực chất là xây dựng, cải tạo QHSX cho phù
hợp với LLSX nhằm thúc đẩy LLSX phát triển; để xây dựng PTSX XHCN,
Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế kinh tế nhiểu thành phần theo định
hướng XHCN, mục đích là phát triển LLSX tiên tiến đi đôi với xây dựng
QHSX phù hợp trên cả 03 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối, đồng thời khai
thác tiềm năng của mọi thành phần kinh tế, chủ trương đa dạng hóa các hình
thức sở hữu; xoá bỏ chế độ phân phối cào bằng và thay thế bằng cơ chế thị
trường đã thực sự tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh
tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status