DOANH THU DẦU MỎ, CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA
CHỈNH PHỦ, VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Amany A. El Anshasy
Bộ Kinh tế - Tài chính
Đại học United Arab Emirates University, UAE
&
Bộ Tài Chính Công
Đại học Alexandria University, Ai Cập
TÓM TẮT
Nghiên cứu này đưa ra tranh luận rằng cơ cấu chi tiêu của chính phủ quyết định
mức độ tác động của dự trữ dầu mỏ đến tăng trưởng kinh tế. Sử dụng các kỹ thuật dữ
liệu bảng linh hoạt GMM và PMG cho nhóm các nước xuất khẩu dầu mỏ, chúng tôi
nhận thấy rằng giá dầu mỏ dễ biến động ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
thông qua chính sách tài khóa. Cụ thể, lợi nhuận ngẫu nhiên có thể cản trở tăng
trưởng kinh tế thông qua tối thiểu ba nguồn: (i) làm suy yếu cơ sở tình thuế trong
nước, (ii) giảm lợi tức xã hội từ nguồn vốn công, và (iii) gia tăng các áp lực chi tiêu
có tính chính trị do tích lũy thặng dư. Chính sách chủ yếu gợi ý cho các nước xuất
khẩu dầu mỏ là cần sử dụng ngay các quy tắc tài chính nghiêm ngặt, hậu thuẫn bằng
các khuyến khích mang tính chính trị phù hợp nhằm tách chi tiêu công khỏi các chu
kỳ kinh doanh dầu mỏ. Đầu tư lợi nhuận (vào các quỹ sản nghiệp quốc gia) hoặc rút
nợ công giữa các đợt lợi nhuận bất ngờ từ dầu mỏ có thể sẽ giảm nhẹ áp lực tìm giá
thuê mướn đất cạnh tranh và tăng lợi tức xã hội khi lợi nhuận tăng cao.
1. GIỚI THIỆU
Kể từ những năm 1970, các chu kỳ giá dầu mỏ đã không thể nào dự đoán được.
Chính sách tài khóa tại các nền kinh tế xuất khẩu dầu mỏ đóng vai trò quan trọng
trong quản lý nguồn doanh thu dầu mỏ cực kỳ biến động. Điểm đáng kể của tài chính
công ở các nước này là tính đồng chu kỳ vững chắc trong chi tiêu chính phủ cà cán
cân hoạt động sản xuất không dầu mỏ trong mối quan hệ với biến động giá dầu mỏ
(Villafuerte và cộng sự, 2010; El Anshasy & Bradley, 2011). Chi tiêu của chính phủ
giữ vai trò là cơ chế truyền động chính cho các cú sốc giá dầu mỏ đối với kinh tế vĩ
mô (Husain và cộng sự, 2008; Pieschacon, 2009)
Trước tiên, chúng tôi sử dụng kỹ thuật hệ thống dữ liệu bảng linh hoạt có dùng đến
khối lượng dữ liệu gộp. Chúng tôi kiểm tra kết quả từ các phương pháp đồng liên kết
bảng và ước lượng các mô hình sửa chữa sai số có ứng dụng hàm ước lượng PMG –
lý giải cho tính không đồng nhất bảng và hiệu chỉnh phụ thuộc chéo tiềm năng. Kết
quả tìm thấy đưa đến các kết luận quan trọng về chính sách: (i) cần tăng cường cơ sở
tính thuế ngoài ngành dầu mỏ nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế; (ii) tăng chi phí
đầu tư trong các thời kỳ khủng hoảng dầu mỏ sẽ bảo toàn tăng trưởng; (iii) cần áp
dụng các tiêu chuẩn đầu tư công nghiêm ngặt hơn trong thời kỳ tăng trưởng nhằm
tăng hiệu suất chi phí đầu tư mới, đặc biệt đối với cơ sở hạ tầng và dịch vụ công; (iv)
cần sửa đổi hình thức khuyến khích của các lãnh đạo chính trị trong cam kết rõ ràng
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 2
đối với nguyên tắc tài chính nhằm đảm bảo tách chi tiêu công khỏi các chu kỳ kinh tế
liên quan đến dầu mỏ. Chỉ với các cam kết chính trị vững chắc như thế này thì việc
đầu tư một phần nguồn lợi vào các quỹ sản nghiệp hoặc sử dụng thặng dư để rút nợ
mới có thể cải thiện lợi tức xã hội từ tăng trưởng doanh thu và giảm áp lực tìm kiếm
giá thuê cạnh tranh.
Bài luận tiếp tục như sau: phần hai chuẩn bị cho việc xem xét bản chất đặct hù của
chính sách tài khóa tại các nước xuất khẩu dầu mỏ và vai trò đối với tăng trưởng kinh
tế. Trong phần ba phác thảo sơ lược phương pháp luận thực nghiệm và dữ liệu. Các
kết quả và thảo luận về chính sách trình bày trong phần bốn. Kết luận tại phần năm.
1. CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI CÁC
NƯỚC XUẤT KHẨU DẦU MỎ
Các mô hình tăng trưởng nội sinh bắt nguồn từ các mô hình tân cổ điển, trong đó
cho phép các chính sách công có ảnh hưởng lâu dài đến tăng trưởng kinh tế. Trong
một mô hình tăng trưởng tân cổ điển, các khác biệt về chính sách tài chính chỉ có thể
lý giải các khác biệt quan sát được trong các mức thu nhập, chứ không phải trong tăng
trưởng kinh tế. Các bài luận có tầm ảnh hưởng của Barro (1990), và Barro và Sala-i-
Martin (1992) phát triển một mô hình tăng trưởng nội sinh, trong đó nguồn vốn công
bao phủ ảnh hưởng lên hiệu suất sử dụng nguồn vốn tư nhân. Tác động ngoại biên này
cho phép nguồn vốn công tác động đến tăng trưởng kinh tế lâu dài, ám chỉ rằng khác
2008).
Các nhánh tăng trưởng của việc gia tăng chi tiêu công như trên trong thời kỳ tăng
trưởng mạnh có thể được truyền qua cơ chế “căn bệnh Hà Lan”, trong đó các nguồn
lợi từ dầu mỏ làm tăng tỷ giá hối đoái thực. Chi tiêu ngày càng cao của chính phủ vào
hàng hóa phi thương mại(ví dụ như: các dịch vụ y tế, giáo dục và dịch vụ công) đẩy
giá các mặt hàng này lên cao gần bằng với hàng hóa bán buôn, chuyển nguồn tài
nguyên từ khu vực sản xuất hàng hóa bán buôn không liên quan đến dầu mỏ sang khu
vực không bán buôn. Trong chừng mực mà khu vực sản xuất tạo được các ảnh hưởng
lan tỏa tích cực đến các khu vực khác, việc gia tăng chi tiêu chính phủ cho các hàng
hóa phi thương mạisẽ có tác động làm suy yếu tăng trưởng kinh tế lâu dài (Sachs &
Warner, 1995).
Hai là, nhiều nghiên cứu tranh cãi rằng nguồn vốn công tăng mạnh trong thời kỳ
tăng trưởng nhảy vọt là không hữu ích và làm giảm doanh thu. Robinson và Torvik
(2005) thiết lập mô hình các biện pháp khích lệ mang tính chính trị tại các nền kinh tế
đang phát triển với nguồn tài nguyên sẵn có trên cơ sở các con voi trắng, tức là, các
dự án đầu tư với nguồn lợi tức xã hội bi đát. Sau các cú sốc dầu mỏ thứ nhất và thứ
hai những năm 1970, 85%, 50% và 46% lợi tức từ nguồn lợi dầu mỏ tương ứng đổ
dông về cho chính phủ các nước Nigeria, Indonesia và Venezuela. Nguồn lợi tức này
làm tăng đầu tư công mà không hoàn trả cho tăng trưởng kinh tế (Gelb và cộng sự.
1988). Tình hình có biến động nhẹ vào những năm 2000. Theo các báo cáo của Quỹ
Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) khu vực Trung Đông và Trung Á, chỉ riêng trong nhóm các
nước Hội Đồng Hợp Tác Vùng Vịnh, đầu tư công dự kiến đã vượt quá con số gây
sửng sốt 800 tỷ đô la Mỹ trong năm 2007-2008, đặt ra vấn đề về khả năng thu hút hiệu
quả nguồn đầu tư lớn như thế.
Ba là, doanh thu từ hydrocacbon làm giảm tổng thu nhập nội địa và chèn lấn doanh
thu phi dầu mỏ, đặc biệt là thuế (Bornhorst và cộng sự, 2008). Thêm vào đó, các nước
xuất khẩu dầu thường phải đối mặt với vay nợ bắt buộc trong suốt chu kỳ giá dầu
thấp, điều này làm giảm khả năng của các cơ quan tài chính trong việc duy trì mức
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 4
cho tiêu trước và áp lực phải cắt giảm chi tiêu. Những cắt giảm này thường có chi phí
Blundell và bond (1998) , khắc phục các vấn đề. Nó sử dụng sự khác biệt độ trễ của
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 5
các biến được xác định trước như công cụ cho cấp độ của chúng và sự khác biệt của
các biến nghiêm ngoại sinh (như trong thủ tục chuẩn IV)
Để nắm bắt được sự ảnh hưởng trực tiếp của sự tăng trưởng giá dầu, chúng ta bao gồm
2 biến giải thích: chỉ số tăng trưởng hàng năm của giá dầu và sự biến động của giá
dầu. Cái thứ 2 được đo lường bởi sự mâu thuẫn có điều kiện của giá dầu thay đổi
được bởi sử dụng 1 mô hình GARCH (1,1). Chúng ta đi theo đặc điểm kĩ thuật của
Lee, ni và ratti (1995), sử dụng dữ liệu hàng tháng của giá dầu từ tháng 1 năm 1957
đến tháng 12 năm 2008.
Chính sách tài khóa được đại diện bởi véc tơ F. mục tiêu chính của chúng ta là để
nghiên cứu sự ảnh hưởng của doanh thu khác được chuyển giao đến nền kinh tế thông
qua sự thay đổi của các loại khác nhau của sự tiêu dùng chính phủ hoặc sự thay đổi
trong thặng dư ngân sách. Từ khi nền tài chính của chính phủ quyết định là phụ thuộc
lẫn nhau, chúng ta giới thiệu quy định đầy đủ các ràng buộc ngân sách nhà nước
(GBC) trong mô hình tăng trưởng. sự phụ thuộc lẫn nhau về tài chính phát sinh từ sự
ám chỉ sự tuyến tính của GBC yêu cầu bỏ qua 1 biến tài chính, cho
những mục đích của sự ước tính. Bằng sự xây dựng, ceteris paribus, biến này đại diện
cho phương pháp tài chính của 1 sự thay đổi trong 1 cái khác bao gồm các biến tài
chính;
Khi doanh thu chính phủ bị bỏ sót trong khi tổng chi tiêu và sự cân bằng ngân sách thì
được bao gồm trong sự hồi quy, hệ số của tổng chi tiêu được giải thích như 1 ảnh
hưởng ròng của 1 sự gia tăng trong tổng số chi tiêu trừ đi hiệu quả của 1 sự gia tăng
phù hợp trong doanh thu, để lại cân bằng ngân sách không thay đổi. chính thức, véc tơ
F tài chính có thể được diễn tả như F = và , trong đó: là
nguồn tài chính, và ] là một véc tơ 1x k-1 của hệ số như vậy mà
cho tất cả j=1,…,k-1.
Cuối cùng, véc tơ H phi tài chính điều khiển sự đầu tư riêng , mức độ của sự mở cửa,
giáo dục, lạm phát, các tổ chức chính trị và sự cai trị.
3.2. Bảng điều khiển kiểm tra đơn vị gốc, cùng hội nhập và sự đánh giá PMG
Bảng A1 liệt kê đầy đủ tất cả các biên và nguồn dữ liệu. Bảng không cân bằng của
quan sát hàng năm bao gồm tất cả hoặc một phần của giai đoạn 1970 – 2007. Mẫu
gồm 15 nước xuất khẩu dầu mỏ: Bahrain, Cameroon, Colombia, Hy Lạp, Indonesia,
Iran, Kuwait, Maylaysia, Mexico, Ni- geria, Norwaym Oman, Syria, UAE, và
Venezuela. Dữ liệu tài chính thu được từ hệ thống thống kê tài chính chính phủ của
IMF. Trong một vài trường hợp như Nigeria và Indonesia, để hoàn thành bộ dữ liệu,
chúng tôi phải quay về dữ liệu báo cáo của chính quyền địa phương. Đáng chú ý là
phương pháp của GFS thay đổi dữ liệu báo cáo từ những năm 1991 trở đi. Vì vậy, để
đảm bảo tính nhất quán, chúng ta giới hạn dữ liệu đến tài chính cá nhân và cấp ngân
hàng trung ương. Ngoài ra, định nghĩa các biến được kết hợp một cách cẩn thận. Ví
dụ, định nghĩa của biến chi thường xuyên cho dữ liệu cũ là giống với định nghĩa chi
phí tiền mặt cho dữ liệu sau năm 1990, v.v.
Bảng (1a) tóm tắt lại tỷ lệ trung bình của các loại khác trong tổng thu và tổng chi của
chính phủ trong GDP của 15 nước xuất khẩu dầu. Nó miêu tả sự phát triển trong tài
chính công (% của GDP) để đáp ứng với chu kỳ bùng nổ- phá sản- bùng nổ của dầu
trong suốt thời kỳ 1970 – 2007. Chi phí đầu tư công và cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng
xấu nhất bởi cú sock tiêu cực của những năm 1980 và 1990, nhưng tiếp tục giảm một
tỷ lệ phần trăm trong GDP trong sự bùng nổ những năm 2000. Chi phí đầu tư bị cắt
giảm mạnh từ 9.2% còn 5.6% trong những năm 80 và 90, và giảm hơn nữa để chỉ còn
4.7% của GDP giữa năm 2002 và 2007. Theo báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế ở các
nước Trung Đông và Trung Á (2007), đặc biệt là trong việc xử lý chi phí đầu tư, khi
so sánh với những năm 1970 thì những nước xuất khẩu dầu phản ứng một cách thận
trọng hơn đối với làn sóng giá dầu và doanh thu trong sự bùng nổ vừa qua. Tuy nhiên,
cần chú ý con số trong bảng 1a không phản ánh được toàn bộ chu kỳ bùng nổ mà đỉnh
điểm là năm 2008. Vì vậy, sự sụt giảm tỷ trọng đầu tư công trong sự bùng nổ kéo dài
có thể phản ánh độ trễ trong chi tiêu đầu tư.
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 8
Ngược lại, chuyển giao và chi tiêu cho xã hội như giáo dục, phúc lợi xã hội, y tế và
nhà ở công cộng tăng lên đáng kể trong những năm 1980 và 1990, và tiếp tục tăng lên
trong những năm gần đây với giá rất cao. Điều này phản ánh một phần sự thay đổi ưu
được thêm vào một cách đặc biệt và xuất hiện không có ý nghĩa thống kê. Ở cột 4, mô
hình được ước lượng lại giới thiệu GBC trong hình thức tính gộp lại. Sự hồi quy 4b
( và những hồi quy xảy ra sau được chỉ rõ bởi chữ b) hạn chế mẫu trong giai đoạn
1984 – 2002 để loại trừ những giai đoạn bất ngờ xuất hiện trong những năm 1970 và
2000.
Chúng tôi lần đầu tiên làm nổi bật những kết quả sơ bộ từ bảng (2). Thứ nhất, trong
khi giá dầu ngày càng cao có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng thì độ bất ổn ngày
càng cao làm cho tăng trưởng chậm lại. Tuy nhiên, môt khi chúng tôi kiểm chứng
chính sách tài khóa, hệ số của sự thay đổi của giá dầu có ý nghĩa và giảm (từ 0.21
xuống 0.008) nhưng vẫn có ảnh hưởng tích cực vàcó ý nghĩa và ảnh hưởng tiêu cực
của độ bất ổn có xu hướng biến mất. Kết quả này giữ vững trong tất cả các ước lượng
sau đó. Do đó, sự thay đổi của giá dầu, tách khỏi kênh tài khóa, dường như giải thích
cho một vài biến của những tốc độ tăng trưởng. Ví dụ, giá dầu sụt giảm trung bình
hàng năm khoảng 7% từ 1984 đến 2002. Theo những kết quả trong bảng (2), sự sụt
giảm này chỉ giải thích 0.14 điểm giảm (khoảng 2.7%) của tốc độ tăng trưởng. Thứ
hai, tích lũy thặng dư ngân sách bất ngờ xuất hiện có ảnh hưởng tiêu cực và ý nghĩa
đến tăng trưởng. Thứ ba, chi tiêu chỉnh phủ - vấn đề tài chính nổi lên trong nguồn thu
– có ảnh hưởng tích cực có lợi đến tăng trưởng. Thứ tư, tất cả những biến kiểm sót
khác đều có tín hiệu đúng. Có một lưu ý là chế độ dân chủ dường như làm mất ý nghĩa
của biến chính sách tài khóa và sự quản lý (sự thống trị). Sau khi kiểm chứng biến
chính sách tài khóa, sự quản lý xuất hiện để gia tăng ảnh hưởng tích cực lên tăng
trưởng. Số dư của các kết quả này cần được nghiên cứu cẩn thận hơn.
Trong bảng (3), toàn bộ chi tiêu của chính phủ đều được phân thành vốn và những
thành phần hiện tại. Tiêu dùng hiện tại được chia rachi tiết hơn thành lương chính
phủ, chi tiêu hàng hóa và dịch vụ, giao dịch hiện tại và tất cả các chi phí khác trong
bảng (4). Sự phân tích bởi hàm chi tiêu được chỉ ra trong bảng (5). Tổng chi tiêu được
chia ra thành chi tiêu chính phủ cho tiêu dùng thiết yếu của xã hội, dịch vụ công cộng,
cơ sở hạ tầng và chi tiêu ở các chức năng khác.
Chú ý rằng tất cả các ước lượng chúng tôi giữ vững những thừa nhận tương tự. Chúng
tôi cho rằng đầu tiên tổng nguồn thu, bao gồm cả nguồn thu từ thuế và phi thuế, và sau
phi thuế được xem như hồi quy. Do đó, giải thích rằng, sự thay đổi trong nguồn thu
phi thuế được xem như sự thay đổi trong thuế, loại bỏ tiêu dùng vàsự không ảnh
hưởng của thặng dư.
Trong khinhững nguồn thu phi thuế được bao gồm, hệ số của thặng dư ngân sách mất
đi ý nghĩa, những vẫn mang ảnh hưởng tiêu cực, trong khi ảnh hưởng của ngững
nguồn thu phi thuế có ảnh hưởng tiêu cưc4 và có ý nghĩa. Kết quả này phù hợp với
tranh cãi trên rằng ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng của thặng dư ngân sách từanh3
hưởng của những nguồn thu tự có từ dầu (trong trường hợp có thuế) tốt hơn thặng dư
ngân sách.
4.2 Tăng trưởng và thành phần của chi tiêu công
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 12
Trong table 3, chi tiêu được phân thành các thành phần chi đầu tư và chi
thường xuyên. Chúng ta xem khả năng của chi tiêu Chính phủ có thể có hiệu quả tăng
trưởnt khác nhau dựa trên tầm quan trọng của sự thay đổi giá dầu. Giai đoạn tác động
qua lại giữa sự thay đổi giá dầu với chi đầu tư và chi thường xuyên được thêm vào.
Không kể phương thức tài trợ, chi thường xuyên còn lại thì không có ý nghĩa
với sự tác động qua lại với sự thay đổi của giá dầu. Ngược lại chi đầu tư được cấp vốn
thông qua việc tăng thu đột ngột từ tài nguyên có tác dụng tích cực trong dài hạn đối
với xã hội. Hiệu quả này trở nên có ý nghĩa cao và chiếm vị trí quan trọng trong thời
kỳ giá dầu thấp. Tuy nhiên, giai đoạn này được nhân lên nhiều khi chi đầu tư và sự
biến động của giá dầu dẫn đến sự tiêu cực đáng kể. Do đó, tăng trưởng biên hiệu quả
biên của sự thay đổi trong chi đầu tư được đo lường bởi:
growth∂
=
cap
β
+
oilpricesreal.*
0
∆
không có ý nghĩa thống kê. Những kết quả đó
cho phép chỉ ra 2 chính sách quan trọng: đầu tiên, mở rộng chi đầu tư trong thời kỳ
bùng nổ tăng thu từ tài nguyên thiên nhiên thì làm chậm tăng trưởng; thứ 2, là tác
động trở lại việc giảm giá dầu bằng cách kích thích tăng trưởng chi đầu tư, mà không
phụ thuộc vào phươn án tài chính. Ngược lại, cắt giảm chi đầu tư dẫn đến những cú
sốc tiêu cực của dầu càng sâu sắc hơn ảnh hưởng tăng trưởng bất lợi của những cú
sốc. Mức độ thiệt hại của tăng trưởng thì rất lớn lớn hơn cú sốc tiêu cực và rõ ràng
hơn trong việc cắt giảm chi phí vốn.
Chúng ta có thể nhìn vào ảnh hưởng của tăng trưởng biên đối với sự thay đổi
của giá dầu, ở phần của nguồn vốn công, có thể được tính toán như sau:
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 13
oilp
growth
β
=∂
+
0
β
* capital.Expenditure e.%GDP
Trong đó
oilp
β
là hệ số tăng trưởng của giá dầu và
0
β
là hệ số của thời kỳ tương tác.
Đó là, ảnh hưởng của tăng trưởng đối với sự thay đổi của giá dầu thì dựa trên phần
của đầu tư công trong nền kinh tế. Kể từ khi
oilp
β
Bảng 5: Chính sách tài khoá, Giá dầu và tăng trưởng: Chi tiêu theo chức năng
Finance Method
TOTAL REVENUES TAX REVENUES
(9a) (10b) (9a) (10b)
Grow of Real oil 0.004
**
0.02
***
0.007
***
0.04
***
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 14
prices (2.53) (4.36) (2.81) (3.43)
Volatility of oil prices
-0.03
(1.60)
-0.01
(1.31)
-0.02
(1.27)
-0.02
(1.54)
Budget surplus
0.17
/***
(8.33)
0.22
***
(7.89)
***
(3.79)
0.36
***
(3.09)
Public servies
0.93
***
(3.89)
0.83
***
(3.74)
1.03
**
(2.89)
1.01
***
(3.58)
All other expenditures
0.08
(1.52)
0.03
(0.45)
0.15
(0.98)
0.10
(1.02)
(non-oil) Trade
openness
0.01
(1.99)
0.04
*
(1.98)
Private investment
0.03
(1.58)
0.02
(1.54)
0.06
(1.44)
0.03
*
(1.99)
Demoncratic
institutions
0.7
(1.33)
0.4
(0.45)
0.8
(1.19)
0.4
(0.68)
Governance (1984) 0.12
***
0.09
**
0.10
***
lẫn nhau được cho là đúng, CIPS kiểm tra cho biết rằn tất cả có thể thay đổi là I
Một trở ngại của kỹ thuật PMG là cho phép chỉ một mối quan hệ đồng liên kết.
Thêm vào đó, điều chúng ta quan tâm là mối quan hệ trong thời gian dài giữa chính
sách tài chính, giá dầu và thu nhập bình quân đàu người. Những điều này được chỉ ra
bởi kết quả GMM trước đây, chúng tôi giới hạn nghiên cứu thực tiễn thay đổi có ý
nghĩa xuất hiện trong phân tích trước đây.
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 16
Bảng 6 trình bày kết quả kiểm tra bảng điều khiển đồng liên kết của
Westerlund. Khi tối thiểu 3 trong 4 bài kiểm tra loại bỏ không có hiệu lực không cùng
liên kết, phương sai được xem như đồng liên kết với thu nhập bình quân đầu người.
Ba biến số tài chính không qua kiểm tra đồng liên kết: 1) Sức mua hàng hóa và dịch
vụ của chính phủ; 2) Tiền lương; và 3) Dịch vụ công cộng. Do đó những biến số khác
không bao gồm trong hệ thức đồng liên kết.
Trong phần khác, những bài kiểm tra khuyến khích mối quan hệ đồng liên kết
giữa thu nhập bình quân đầu người và giá dầu, thặng dư ngân sách, tổng chi tiêu chính
phủ, luồng tiền hoạt động đầu tư vào tài sản cố định, và chi tiêu công cho cơ sỡ hạ
tầng. Dựa trên kết quả này, chúng tôi kiểm tra vecto đồng liên kết nhiều chiều của thu
nhập bình quân đầu người, giá dầu, thặng dư ngân sách và một số khái niệm chi tiêu.
Tất cả 4 bài kiểm tra cho thấy sự tồn tại đồng liên kết trong 3 vecto.
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 17
Như vậy chúng tôi tiếp tục ước lượng PMG cho 3 chi tiết mà khác nhau chỉ có
thể thay thế cho nhau bao gồm trong mối quan hệ lâu dài. Kết quả được thể hiện trong
bảng 7. Tất cả 3 só hạng lỗi sửa chữa thì có ý nghĩa tiêu cực, xác nhận rằng tồn tại một
đồng liên kết quan hệ dài hạn trong ít nhất 1 quốc gia. Đồng liên kết dài hạn thì cũng
có ý nghĩa và có ký hiệu kỳ vọng. Trong thời gian dài, giá dầu cao, chi tiêu chính phủ
cao ( chi tiêu công và cơ sỡ hạ tầng) kéo theo thu nhập bình quân đầu người cao.
Ngược lại thặng dư ngân sách lớn kéo theo thu nhập bình quân đầu người thấp.
Hệ số PMG ngắn hạn là trung bình của có hệ số thu được từ mô hình riêng của
mỗi quốc gia trong bảng điều khiển, và do đó nên lấy cẩn thận. Nhưng kéo theo 1 sự
quan trọng cần xác nhận. Một điều bất ngờ là giảm phát triển trong ngắn hạn bởi vì
Kinh nghiệm của Natural Resource Funds ở nhiều quốc gia phụ thuộc vào dầu, ví dụ,
tiết lộ rằng tồn tại nhiều hơn một quỹ không đảm bảo quản lý tốt nguồn tài nguyên.
Một chính sách và một thể chế yếu kém đưa ra môi trường cho chính sách luật nghiêm
khắc bị vi phạm. Vì để một nguồn vốn giúp giảm bớt chi tiêu, chính sách động viên
cần được biến đổi để đảm bảo cam kết của họ với chính sách khôn ngoan
( Humphreys & Sandbu, 2007). Do đó, những điểm quan trọng đáng để đầu tư nhiều
hơn thì khả năng tương tác giữa chất lượng quản trị và thực thi chính sách trong nền
kinh tế tài nguyên phong phú, và cách mà kênh này có thể ảnh hưởng tăng trưởng.
Nhóm 4 – Lớp NH Đêm 2 K22 Page 20