Sách Hướng dẫn đầu tiên của
Châu Âu - Trung Quốc - Việt Nam
“Hướng dẫn về CDM”
Tiếng Việt – Tiếng Anh
Sách hướng dẫn về CDM
Đính chính bởi:
TS. Nguyễn Đức Minh
PGS.TS Nguyễn Tiến Nguyên
KS. Trần Minh Tuyến
KS. Nguyễn Tuỳ Anh
Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường
với sự hỗ trợ của Kurt Seidel
TÜV Rheinland Hong Kong Ltd
Sách hướng dẫn về CDM
3
ần đóng góp xây dụng cuốn sách hướng dẫn này với sự kết hợp với TUV Rheinland, Trung
tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường ở Hà Nội và nhiều đối tác quan trọng khác.
Để có được cơ hội phát triển mạnh mẽ, DEG đã đồng hỗ trợ tài chính cho những nỗ lực
nâng cao năng lực từ những nguồn vốn công cộng của chương trình Public Private Partnership
Program (PPP) của German Ministry for Economic Development and Cooperation (BMZ).
Chúng tôi hài lòng vì mình đã có thể đóng góp cho việc tă
ng cường và củng cố những cơ
sở hạ tầng của Việt Nam để biến những thách thức của các quá trình CDM thành hiện thực. Và
chúng tôi sẽ duy trì những nỗ lực của mình.
Chúng tôi cho rằng tất cả các bên tham gia vào Nghị định thư Kyoto đạt được mục tiêu
cụ thể của mình cùng nhau đóng góp phát triển tốt đẹp hơn cho môi trường của chúng ta.
DEG – Deutsche Investitions- und Entwicklungsgesellschaft mbH
Sách hướng dẫn về CDM
4
Nhóm TÜV Rheinland của Trung Quốc (TÜV Rheinland China Group)
Tất cả chúng ta đã từng chứng kiến sự biến đổi về thời tiết. Thời tiết biến đổi và ảnh
hưởng của nó đến hệ sinh thái của chúng ta đã trở nên rõ ràng. Những sự kiện thời tiết nghiêm
trọng như bão lớn và hạn hán ngày càng nhiều đã tạo ra cho loài người những thử thách mới. Đối
mặt với những thách thức này đòi hỏi nhiều nỗ lực của cộng đồng và cam kết của toàn thế giới.
Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong những công cụ linh hoạt của nghị định thư
Kyoto. CDM bao gồm các nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững: phát triển kinh tế, cải thiện
môi trường và tiến bộ xã hội và có tiềm năng ứng dụng lớn ở các nước đang phát triển.
TÜV Rheinland nhìn nhận CDM như một cơ hội để khởi động quá trình chuyển giao
Sách hướng dẫn về CDM
5
LỜI CÁM ƠN
Nhóm dự án: TÜV Rheinland Hong Kong Ltd, Trung tâm nghiên cứu Năng lượng và Môi
trường-RCEE Hà Nội với sự cộng tác của Deutsche Investitions- und Entwicklungsgesellschaft
mbH xin chân thành cám ơn Bundesministerium für wirtschaftliche Zusammenarbeit und
Entwicklung đồng tài trợ cho dự án đầy ý nghĩa này cũng như những hỗ trợ và đóng góp khác.
Chúng tôi cũng mong muốn gửi lời cám ơn đến các tổ chức sau:
GFA Terra Systems Hamburg (Đức), Mr. Schnurr
Hamburg Institute of International Economics Hamburg (Đức), Ms. Butzengeiger and Dr.
Michaelowa
DEG – Deutsche Investiions- und Entwicklungsgesellschaft mbH Cologne (Đức), Mr. Rusnok
KfW Bankengruppe Frankfurt (Đức), Dr.Trede
Austrian Biomass Association Vienna (Austria), DI Dr. Jauschnegg and DI Grausam
Kommunalkredit Public Consulting Ltd. Vienna (Áo), Mag. Plöchl, Mrs. DI Amerstorfer
Asia Carbon International B. V. Singapore, Mr. Kesava
Japan Carbon Fund, Mr. Kurihara, Tokyo (Nhật Bản), Mr. Tsuchiya, Hong Kong
Italian Carbon Fund, Mrs. Federica Ranghieri, University of Milan and the World Bank
International Emission Trading Association (IETA)
Danish Energy Agency
Chúng tôi cám ơn những thành viên của nhóm dự án với sự quản lý của Trung tâm
Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường, Deutsche Investitions – und Entwicklungsgesellschaft
mbH và TÜV Rheinland Group.
Dự án này được điều hành bởi TS. Nguyễn Đức Minh, PGS.TS Nguyễn Tiến Nguyên, KS.
Nguyễn Tuỳ Anh, KS. Trần Minh Tuyến, Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường,
Ông. Kurt Seidel- DEG và TÜV Rheinland Hong Kong Ltd.
Những đóng góp, minh giải và kết luận trong cuốn sách hướng dẫn này là của các tác giả nó
không đại diện dưới bất cứ tư cách nào của Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam hoặc của Chính phủ Cộng hoà Liên bang Đức.
hướng dẫn thực tế cho các nhà phát triển dự án. Vì chưa có dự án nào đã được đăng ký với Ban
Điều hành nên cũng chưa xác lập được thứ tự ưu tiên. Do đó những minh giải được đưa ra
ở đây
chưa nhận được sự bảo đảm được chấp thuận bởi Ban điều hành.
Trước khi sử dụng sách hướng dẫn này xin vui lòng kiểm tra những điều chỉnh và thủ tục
mới nhất ở quốc gia của bạn để chắc chắn rằng bạn có bản đọc mới nhất. Tài liệu mới nhất cũng
như những quyết đị
nh của Hội nghị Thành viên, Ban điều hành v.v cũng nên được sử dụng để
bảo đảm sự phù hợp với những quy định mới nhất. Những nguyên tắc và quy định quốc tế mới
nhất có thể tìm thấy trên trang www.unfccc.int/cdm.
Sách hướng dẫn về CDM
9
Nội dung
1. Hiệu ứng nhà kính và Biến đổi khí hậu toàn cầu 10
1.1. Biến đổi khí hậu toàn cầu 10
1.2. Hiệu ứng nhà kính 10
1.3. Nguồn KNK và xu hướng 11
1.4. Hướng dẫn về UNFCCC 12
2. Nghị định thư Kyoto và CDM 14
2.1. Cách hiểu Nghị định thư Kyoto 14
2.2. Cơ chế phát triển sạch (CDM) 16
2.2.1. CDM và nguồn gốc ra đời Tổng quan 16
2.2.2. Cơ sở chung 16
2.2.3. Thỏa thuận Marrakech 17
2.2.4. CDM vận hành như thế nào? 17
2.3. Hệ thống buôn bán phát thải EU và những kênh thông tin liên quan đến CDM 18
2.3.1. Hệ thống buôn bán phát thải EU 18
Sách hướng dẫn về CDM
10
1. Hiệu ứng nhà kính và Biến đổi khí hậu toàn cầu
1.1. Biến đổi khí hậu toàn cầu
Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức môi trường có ý nghĩa nhất mà thế giới đang
đối mặt. Chúng ta đã thấy những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở Canada. Những tác động có
thể xảy ra đối với sức khỏe, kinh tế cũng như môi trường sống của chúng ta khiến chúng ta phải
hành động.
Với việc phê chuNn N ghị định thư Kyoto, chính phủ Canada đã đưa Biến đổi khí hậu thành
một ưu tiên quốc gia. Chính phủ Canada đang làm việc một cách chặt chẽ với người dân Canada
và cộng đồng trên thế giới để đáp ứng thách thức này
Bên trong Chính phủ liên bang, Biến đổi khí hậu được quản lý bởi Bộ Môi Trường và Bộ
Tài N guyên. Các thành phần chủ yếu khác bao gồm các ban ngành của Chính phủ liên bang cũng
như các viện, ngành công nghiệp, doanh nghiệp và người dân Canada
Cam kết của Chính phủ Canada về tổng ngân quỹ cho các hoạt động biến đổi khí hậu từ
năm 2000 là 3,7 tỷ USD. Đây là phần bổ sung cho một số biện pháp chúng tôi đưa ra cho các
hoạt động về biến đổi khí hậu.
Kết quả hoạt động của chúng tôi về biến đổi khí hậu sẽ là một phần trong các hoạt động liên
quan đến thương mại của Chính phủ Canada. N hững đầu tư của chúng tôi về cơ sở hạ tầng, công
nghệ, khoa học và phát triển vùng sẽ được xem xét về ảnh hưởng của nó tới việc đạt được mục
tiêu về biến đổi khí hậu của chúng tôi.
Hiểu được khái niệm về biến đổi khí hậu có nghĩa là Chính phủ Canada và các đối tác của
họ có thể xác định được vấn đề này theo cách mà sẽ dẫn tới việc giảm phát thải khí nhà kính
(KN K), tăng thêm số lượng các thành phố có chất lượng môi trường sạch hơn, tính cạnh tranh
cao hơn. Trang web về biến đổi khí hậu của Canada cam kết cung cấp cho các bạn những số liệu
dàng tích tụ được nên thời tiết bằng cách nào đó sẽ bị điều chỉnh để giải phóng năng lượng thừa
và. N ếu chỉ nghe con số 2%, có vẻ không có nghĩa lý gì trên phạm vi toàn cầu tuy nhiên lượng
năng lượng này tương đương với 3 triệu tấn dầu mỗi phút.
Các nhà khoa học chỉ ra rằng chúng ta đang làm thay đổi “động cơ” năng lượng, động lực
của hệ thống khí hậu. Phải làm gì đó để giảm chấn động này.
1.3. Nguồn KNK và xu hướng
Bốn loại KN K chủ yếu, tập trung vào khí quyển do các hoạt động của con người gây ra là
CO
2
, CH
4
, N
2
O và CFCs (chlorofluorocarbons). Trong lịch sử, khí CO
2
là hợp chất chiếm chủ
yếu trong thành phần của KN K, tuy nhiên trải qua vài thập kỷ gần đây, tỷ lệ những khí khác
trong thành phần này đã tăng lên đáng kể. N ói chung, những khí này được dự báo sẽ là nhân tố
trực tiếp, góp phần gây nên hiện tượng ấm dần lên của trái đất trong vòng 60 năm tới là không
khác gì so với CO
2
. N ghị định thư Kyoto năm 1997 đã đưa ra ba loại KN K khác là:
Hydrofluorocarbons (HFCs), Perfluorocarbons (PFCs), và Sulfur Hexafluorane (SF
6
).
Lượng CO
2
luân chuyển từ các quá trình tự nhiên lên tầng khí quyển hàng năm là rất lớn,
khoảng 700 tỷ tấn. Chúng ta đã biết, khí hậu toàn cầu nói chung ổn định trong thời gian dài nếu
Việc sản xuất chất chlorofluorocarbons (CFCs) dùng cho việc làm lạnh, dung môi, và bọt
dùng cho cứu hoả bị
cấm từ năm 1996 nhưng những tác động về khí hậu của nó thì còn diễn ra
trong nhiều năm sau. N hững chất khí này có thể còn bị giữ lại trong khí quyển hàng thế kỷ hoặc
lâu hơn nữa, tất cả đều do các hoạt động của con người gây ra.
Thể tích của chúng làm giảm lượng ôzôn ở tầng bình lưu sẽ không thể dự báo trước được
nếu chúng được đưa vào thương m
ại. Các nhà khoa học ở IPCC phát hiện rằng CFCs trực tiếp
gây ra hiện tượng ấm dần lên và gián tiếp gây ra hiện tượng lạnh dần xuống, một tác động tiếp
sau việc Clo trong CFCs làm suy giảm tầng ôzôn là bản thân KN K cũng làm giảm lượng nhiệt
bức xạ trở lại tầng đối lưu. CFCs bắt đầu phân huỷ các khí gốc Sunphat ở tầng bình lưu và giải
phóng Clo là chất phá huỷ tầng Ôzôn. Tuy nhiên, nếu xét tổng thể, việc gây nên hiện tượng nóng
dẫn lên toàn cầu bởi tác động bức xạ và hiện tượng khí hậu lạnh xuống do suy giảm tầng ôzôn,
do chúng có cùng độ lớn, ngược dấu thì thực sự là có một số vùng hiệu ứng sẽ bị triệt tiêu nếu ở
đó lượng phát thải sulfur là tương đối lớn.
Sách hướng dẫn về CDM
12
3 loại KN K khác là HFCs, PFCs, và SF
6
cũng đã được kiểm soát trong nghị định thư Kyoto
1997 vì tiềm năng gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu cũng như việc tập trung các khí trên
tầng khí quyển ngày càng gia tăng. HFCs đã được phê duyệt làm chất thay thế cho CFCs. PFCs
là sản phNm phụ của quá trình nấu nhôm và chúng có tuổi thọ rất dài trong khí quyển (đến 1.000
năm). SF
6
được sử dụng rộng rãi để cách điện trong các thiết bị điện.
Các tương tác giữa các chất ô nhiễm này nghe có vẻ rất phức tạp, bởi vì thiên nhiên là như
vậy. Ô nhiễm khí quyển có thể làm nóng lên toàn cầu, ngoài khả năng này, còn có trường hợp ô
nhiễm khí quyển cộng lại có thể khống chế quy trình này, nhất là ở cận và phụ cận vùng công
nghiệp hoá cao.
tham gia đều phải phát triển và đệ trình “thông báo quốc gia” bao gồm kiểm kê phát thải KN K
phân loại theo nguồn phát thải và những bể chứa cho phép loại bỏ KN K. Họ sẽ xây dựng những
chương trình quốc gia để giảm thiểu và thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu. Họ
cũng sẽ khuyến khích phát triển chuyển giao công nghệ, quản lý phát triển bền vững, bảo toàn và
mở rộng những bể chứa KN K (rừng và đại dương). N goài ra, các Bên tham gia cũng sẽ đưa vấn
đề biến đổi khí hậu ra xem xét trong mối liên quan đến các vấn đề xã hội, kinh tế, chính sách môi
trường, cộng tác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, giáo dục, nhận thức của công chúng và trao đổi
Sách hướng dẫn về CDM
13
thông tin liên quan đến biến đổi khí hậu. Một vài quốc gia có thể cùng nhau thực hiện mục tiêu
giảm thiểu phát thải chung. N hững quốc gia đang trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường.
Các nước công nghiệp sẽ thực hiện thêm một số cam kết đặc biệt khác. Hầu hết các
nước thuộc tổ chức Hỗ trợ kinh tế và Phát triển (OECD) và các quốc gia Trung và Tây Âu được
xem là thuộc phụ lục I. Họ cam kết đưa ra chính sách và biện pháp để mức phát thải của mình
ngang bằng với mức phát thải của năm 1990 vào năm 2000 (mục tiêu phát thải cho giai đoạn
trước năm 2000 cũng đã được xác định trong N ghị định thư Kyoto). Họ cũng phải đệ trình thông
báo quốc gia về cơ sở pháp lý, diễn giải chi tiết chiến lược của mình đối phó với biến đổi khí
hậu. Một vài quốc gia có thể cùng nhau thực hiện mục tiêu của giảm thiểu phát thải chung.
N hững quốc gia đang trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường sẽ được ưu tiên linh hoạt
trong việc thực hiện cam kết của mình ở một mức độ nhất định.
Các nước giàu sẽ cung cấp “những khoản tài chính mới và bổ sung” và khuyến khích
chuyển giao công nghệ. N hững nước này nằm trong phụ lục II (phanà lớn là các nước OECD)
sẽ cung cấp “Chi phí đầy đủ và thống nhất” cho các nước đang phát triển để thực hiện thông báo
quốc gia của mình. N hững khoản tài chính này phải là “Mới và bổ sung” chứ không phải là
những khoản từ quỹ hỗ trợ và phát triển đang có. Các nước thuộc phụ lục II sẽ hỗ trợ tài chính
cho những dự án “không phải là truyền thống” trong việc chuyển giao hoặc tiếp cận với những
công nghệ thân thiện với môi trường cho các nước đang phát triển. Công ước cũng chỉ ra phạm
vi thực hiện cam kết cho các nước đang phát triển sẽ phụ thuộc vào mức độ hỗ trợ kỹ thuật và tài
chính từ các nước phát triển.
Bộ phận cốt lõi của Công ước là Hội nghị thành viên (COP). Thành phần của COP bao
trợ bởi Ban thư ký. Ban thư ký quá độ được thành lập trong giai đoạn đàm phán Công ước đã trở
thành Ban thư ký chính thức kể từ tháng 1 năm 1996.
Ban thư ký sẽ sắp xếp các buổi họp của COP và các đơn vị thành viên. Đó là các công
việc như chuNn bị tài liệu, thu xếp những cuộc họp chính thức và không chính thức, quản lý và
chuyển những tài liệu, giấy tờ đệ trình của các thành viên. Trợ giúp các Bên biên soạn và giao
tiếp thông tin, phối hợp với tổ chức quốc tế có liên quan và báo cáo những hoạt động của mình
lên COP. Ban thư ký có trụ sở tại Born, CHLB Đức (xem unfccc.int).
2. Nghị định thư Kyoto và CDM
2.1. Cách hiểu Nghị định thư Kyoto
N ăm 1992 là năm một khởi đầu thuận lợi cho Công ước. N hưng rồi thời gian trôi đi,
nhiều phát minh khoa học mới ra đời và mọi người bắt đầu đặt câu hỏi một cách tự nhiên “chúng
ta phi làm gì tiếp” ?
N ăm 1997, Chính phủ của nhiều nước đã trả lời trước sức ép ngày càng tăng của công
chúng về việc phê chuNn N ghị định thư Kyoto. N ghị định thư là một thỏa thuận quốc tế riêng
biệt nhưng nó liên quan đến một thỏa thuận khác đang tồn tại. Điều đó có nghĩa là N ghị định thư
về khí hậu sẽ chia sẻ những mối lo ngại và nguyên tắc đã được đưa ra trong công ước về khí hậu.
N ghị định thư được xây dựng trên cơ sở Công ước này và bổ sung một số cam kết mới mạnh
hơn, chi tiết và phức tạp hơn so với bản Công ước.
Sự phức tạp này thể hiện ở chỗ nó phải phản ánh những thách thức rất lớn về việc kiểm soát
phát thải KN K. Để đạt được một thỏa thuận chung chúng ta cần xem xét cân đối tính đa dạng về
lợi ích chính trị và kinh tế. Một điều có thể nhận thấy là những ngành công nghiệp hàng tỷ USD
sẽ được tái cấu trúc và một số ngành có thể tạo ra lợi nhuận từ việc chuyển đổi sang nền kinh tế
thân thiện với môi trường và một số ngành khác thì không.
N ghị định thư Kyoto sẽ thực sự tác động lên rất nhiều ngành kinh tế nên cho đến nay nó
được xem như là một thỏa thuận sâu nhất về vấn đề môi trường, phát triển bền vững và thích
nghi. Đó là một ghi nhận của cộng đồng quốc tế mong muốn đối mặt với sự thật và bắt đầu làm
những công việc thiết yếu để giảm thiểu rủi ro về sự thay đổi của khí hậu. Các nhà đàm phán
đang cố gắng cao nhất để thực hiện được điều này.
Dưới đây là những hướng dẫn chi tiết về N ghị định thư cho những người mới làm quen:
năm 1990 (có xem xét ngoại lệ cho một số nước trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế). Cắt
giảm 3 loại khí công nghiệp có “thời gian tồn tại rất lâu” là hydrofluorocarbons (HFCs),
perfluorocarbons (PFCs) và sulphur hexafluoride (SF6) sẽ được xem xét trên cơ sở mức phát thải
năm 1990 hoặc 1995. (N hóm các khí công nghiệp như chlorofluorocarbons, hoặc CFCs được
xem xét trong N ghị định thư Montreal 1987 về những hợp chất gây thủng tầng Ôzôn.)
• Phát thải thực tế phải giảm sẽ lớn hơn rất nhiều so với mức 5% và so với mức phát
thải hoạch định của năm 2000. N hững nước công nghiệp giàu có nhất (OECD) sẽ cần thiết phi
giảm lượng phát thải của mình tới 10%. Sở dĩ như vậy vì các nước này không giảm thiểu phát
thải trong giai đoạn không bắt buộc phải giảm (đưa mức phát thải năm 2000 về năm 1990) và
thực tế mức phát thải của họ tiếp tục tăng so với năm 1990. Trong khi đó các nước có nền kinh tế
đang chuyển đổi đã có giảm thiểu phát thải từ năm 1990, nhưng xu hướng này đến nay đã thay
đổi. Do vậy, đối với những nước phát triển, mục tiêu 5% quy định trong N ghị định thư sẽ thể
hiện mức cắt giảm thực sự là 20% nếu so sánh với mức phát thải hoạch định đến năm 2010 nếu
không quan tâm gì đến các biện pháp giảm thiểu phát thải.
• Các quốc gia có thể linh hoạt trong việc thực hiện và đo đếm mức giảm thiểu phát
thải. Đặc biệt là khi hệ thống “Buôn bán phát thải” ra đời, theo đó cho phép các nước công
nghiệp mua bán quyền phát thải. Họ sẽ có thể có được “những đơn vị giảm phát thải” bằng việc
cấp tài chính cho một số loại dự án thực hiện ở các nước phát triển. N goài ra, CDM sẽ khuyến
khích phát triển bền vững và cho phép các nước công nghiệp phát triển cấp tài chính cho những
dự án giảm thiểu phát thải ở các nước đang phát triển và họ nhận được chứng chỉ cho việc làm
này. ứng dụng 3 cơ chế này sẽ là một thuận lợi thêm khi thực hiện các dự án trong nước.
• Họ sẽ thuyết phục giảm phát thải ở rất nhiều ngành kinh tế khác nhau: N ghị định
thư Kyoto sẽ khuyến khích các chính phủ hợp tác với nhau nâng cao hiệu suất các quá trình năng
lượng, cải tổ ngành năng lượng và giao thông, phát triển sử dụng năng lượng tái tạo, cải tiến các
thể chế tài chính chưa hợp lý, giới hạn phát thải CO
2
từ việc quản lý hệ thống chất thải, quản lý
hệ thống năng lượng và quản lý cả những bể chứa Carbon như rừng, đất nông nghiệp và chăn
nuôi. Phương pháp đo đếm mức giảm phát thải bằng việc sử dụng các bể chứa là đặc biệt phức
tạp.
Xuất bản bởi Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UN EP) và Ban thư ký về hiện tượng thay đổi khí hậu
(UN FCCC). Chỉnh lý và bổ sung tháng 9 năm 1999. Cuốn sách này được xuất bản chỉ với mục đích cung cấp những
thông tin cho cộng đồng và không phải là văn kiện chính thức. Được phép in và dịch lại nếu có xin phép đầy đủ.
Thông tin chi tiết hn xin liên hệ Ban thông tin của UN EP cho Công ước (UN EP/IUC), N hà xuất bả
n Môi trường
quốc tế (Geneva), Box 356, 1219 Chõtelaine, Switzerland, hoặc email:
2.2. Cơ chế phát triển sạch (CDM)
2.2.1. CDM và nguồn gốc ra đời Tổng quan
CDM, cơ chế hợp tác được thiết lập trong khuôn khổ N ghị định thư Kyoto với mục đích trợ
giúp các nước đang phát triển đạt được mục tiêu phát triển bền vững bằng việc hỗ trợ, khuyến
khích đầu tư dự án thân thiện môi trường từ phía chính phủ và nhà đầu tư của các nước công
nghiệp. Tài liệu này cung cấp một cách tổng quan về những cơ sở của CDM, cấu trúc, chu kỳ
của dự án và kiểm tra các giá trị tiềm năng cũng như lợi ích của việc tham gia cơ chế đối với các
nước đang phát triển. Tài liệu này cũng đưa ra những gợi ý về các bước tiến hành cho việc phát
triển kế hoạch CDM quốc gia và những ví dụ về dự án CDM. N hững nguyên tắc cơ bản về CDM
đã được xác lập và chính phủ của các Bên tham gia đang tiếp tục những cố gắng của mình về vấn
đề này, tài liệu này cung cấp những thông tin mới nhất hiện có và nó sẽ tiếp tục được cập nhật để
phản ánh những thay đổi đang và sẽ diễn ra.
2.2.2. Cơ sở chung
N ghị định thư Kyoto năm 1997, đánh dấu cột mốc quan trọng trong nỗ lực toàn cầu về
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, lần đầu tiên chính phủ của các nước đã chấp nhận về
mặt pháp lý ràng buộc về mức phát thải KN K của mình. N ghị định thư cũng đưa ra sáng kiến về
cơ chế hợp tác nhằm mục đích giảm chi phí cho việc giảm thiểu phát thải. N ếu đạ
t được mục tiêu
giảm phát thải, khí hậu toàn cầu sẽ không bị tác động do vậy một cơ chế kinh tế hợp tác có hiệu
quả giữa các quốc gia sẽ giúp cho họ có đạt được mục tiêu giảm phát thải với chi phí thấp nhất.
N ghị định thư bao gồm 3 cơ chế: Buôn bán phát thải toàn cầu (IET), Cơ chế đồng thực hiện (JI)
và CDM.
các hoạt động của CDM. Ban này được giao nhiệm vụ cụ thể hoá các luật lệ hiện hành và cung
cấp những hướng dẫn cần thiết để hiểu luật. Ban điều hành sẽ là người ra quyết định cuối cùng
về việc có được đăng ký dự án CDM hay không để nhận được chứng nhận giảm phát thải.
2.2.4. CDM vận hành như thế nào?
Về mặt lý thuyết những công việc liên quan đến CDM như sau: Một nhà đầu tư hoặc
chính phủ của một nước công nghiệp có thể đầu tư hoặc cung cấp tài chính cho một dự án tại
một nước đang phát triển nhằm giảm phát thải KN K, như vậy lượng phát thải sẽ nhỏ hơn so với
trường hợp không có đầu tư phụ trội “C” (trường hợp sẽ có thể xảy ra nếu không có sự tham gia
của CDM hay còn gọi là phương án “kinh doanh bình thường”). N gười đầu tư sau đó nhận được
“chứng nhận giảm thải Carbon” và có thể sử dụng chứng nhận này đáp ứng mục tiêu Kyoto của
mình. N ếu cơ chế CDM vận hành đúng nó sẽ không làm thay đổi tổng lượng KN K cần phải giảm
thải mà đơn giản chỉ là thay đổi địa điểm phát thải.
Xem một ví dụ sau: Một công ty Pháp cần phải giảm lượng phát thải của mình được phân
bổ trong tổng mục tiêu giảm phát thải của Pháp theo N ghị định thư Kyoto. Thay vì giảm phát
thải từ các hoạt động của chính các công ty ở Pháp, công ty sẽ cung cấp tài chính để xây dựng
một nhà máy điện biomass ở Ấn Độ (mà nếu không có khoản tài chính này, dự án sẽ không được
xét đến). Điều này sẽ tránh được việc phải xây dựng nhà máy điện sử dụng năng lượng hoá thạch
hoặc sử dụng điện từ những nhà máy khác đang hoạt động, do đó giảm được phát thải KN K ở
Ấn Độ. N hà đầu tư Pháp này nhận được chứng nhận giảm phát thải góp phần thực hiện mục tiêu
giảm phát thải của Pháp.
Hiển nhiên là ví dụ này không hoàn toàn đúng với thực tế. Đặc biệt khi phải dự tính
những điều có thể xảy đến nếu như không có được nhà máy điện Biomass mà phía Pháp dự tính
cấp vốn, dự đoán một điều gì vốn đã bất định thì rất khó có thể đúng. Thông thường có nhiều
hơn một kịch bản có thể xảy ra và điều này làm cho vấn đề trở nên càng phức tạp. Khung cảnh
thực tế cho việc đầu tư CDM và xác định chứng nhận gim phát thải sẽ rất phức tạp so với ví dụ
kể trên ở nhiều khía cạnh và thông thường sẽ có các Bên liên quan như N gân hàng thế giới (WB)
hoặc các đại lý mua bán quyền phát thải Carbon sẽ đầu tư vốn cho các dự án đại diện cho chính
phủ và tập đoàn của các nước công nghiệp. Trong nhiều trường hợp khác, các nhà phát triển dự
án có thể tự cấp vốn cho các dự án CDM và sau đó tìm kiếm bên mua quyền phát thải. Vấn đề
2
của EU. Các ngành khác như sản xuất nhôm, công
nghiệp hoá chất và giao thông vận tải có thể tham gia muộn hơn.
Các quốc gia thành viên EU hiện nay đang chuNn bị kế hoạch phân bổ quốc gia bằng việc phân
bổ chỉ tiêu phát thải cho mỗi ngành, mỗi công ty. Kế hoạch này phải được trình lên Hội đồng vào
tháng 4 năm 2004.
EU cũng đã thể hiện mong muốn liên kết hệ thống buôn bán phát thải EU với hệ thống
buôn bán phát thải ở các nước khác đã được thông qua trong N ghị định thư Kyoto.
2.3.2. Kênh thông tin liên quan đến CDM
Các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực CDM
SinksWatch
International Rivers N etwork (
WWF
( />gold_standard.cfm)
Kênh này cho phép bạn tiếp cận trực tiếp đến WWF's Gold Standard
N guồn thông tin liên quan đến CDM
Point Carbon (
www.cdm.co.id
Sách hướng dẫn về CDM
19
Trang web này được vận hành bởi Pelangi và cung cấp thông tin bằng tiếng Anh và tiếng
Indonesia. Pelangi liên quan mật thiết đến các công việc về chuNn bị c sở pháp lý cho CDM ở
Indonesia và nó cũng liên quan đến các dự án phát triển.
French language website on the CDM (
Joint Implementation Quarterly (
Trang web miễn phí liên quan đến các c chế Kyoto.
www.cdmafrica.org
Climate Ark (
www.cdm-connect.org
Chương trình tổng quan
CD4CDM: Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc đã triển khai dự án "Phát triển và nâng cao
năng lực thực hiện CDM" với sự trợ giúp tài chính của chính phủ Hà Lan. Dự án này vận hành
tại 12 nước đang phát triển.
Earth Talks (http://http:/www.environmentalsustainability.com/talk/)
Cộng đồng đối thoại về tính bền vững của môi trường.
Sách hướng dẫn về CDM
20
3. Thị trường Carbon
Các thỏa thuận quốc tế về đối phó với sự thay đổi của khí hậu như CDM đã tạo ra một
loại hàng hoá mới, hữu hiệu trong thương mại quốc tế được tạo ra ở các nước đang phát triển và
được tiêu thụ bởi nhiều nước công nghiệp. Thương mại quốc tế về loại hàng hoá mới này- hàng
Carbon, đã được các nước và các công ty thực hiện những bước đầu tiên “nếm thử” trước khi
N ghị định thư có hiệu lực. Phần này mô tả thị trường phát thi đã được xác nhận (CERs) về các
khía cạnh như: độ lớn của thị trường, giá cả và những người mua hàng.
3.1. DEG, một đối tác của dự án
Chứng nhận Carbon, cách tiếp cận mới của DEG tới việc cùng nhau cấp tài chính cho các
đầu tư thân thiện với môi trường.
Chứng chỉ Carbon, một nhân tố đóng góp tài chính cho dự án sẽ không còn là những giấc
mơ của tương lai. Đầu tư thân thiện với môi trường trong các lĩnh vực như năng lượng gió, thủy
điện, biomass và sử dụng khí Methane sẽ tạo ra dòng tiền từ việc bán các sản phNm năng lượng
sơ cấp và cả bán chứng chỉ Carbon. Với những dự án chuyển đổi sử dụng năng lượng như phát
điện sử dụng diesel sang sử dụng khí tự nhiên, thân thiện với môi trường, chứng chỉ Carbon có
thể được sử dụng để chi trả cho một phần chi phí của dự án đầu tư. Điều tương tự như vậy cũng
sẽ được áp dụng vào các dự án nhằm hiện đại hoá, thay thế những công nghệ cũ đã lạc hậu, tiêu
thụ nhiều năng lượng trong ngành đúc, luyện kim. Điều kiện tiên quyết để có được sự thành công
của các dự án này là phi tạo ra được chứng chỉ Carbon.
Khi các dự án khác nhau (xem ví dụ báo cáo quỹ Carbon năm 2002) đ• được thử nghiệm.
Hình 3.1: Khai thác tiềm năng Carbon của DEG
(1) Tài chính dự án: Là một nhà cung cấp tài chính, DEG sẽ cấu trúc và cấp vốn cho các đầu
tư thân thiện với môi trường ở các nước đang phát triển và các nước trong thời kỳ quá độ và các
công ty có dự án. Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, các dự án có thể gồm kế hoạch sử dụng
năng lượng gió, thủy năng hoặc sử dụng Methane từ các bãi chôn lấp. Với các dự án chuyển đổi
sử dụng năng lượng và dự án hiện đại hoá, DEG có thể cung cấp một phần vốn cho các nhà máy
mới (thông thường có thể lên tới 35% tổng đầu tư).
(2) Tư vấn CO
2
: DEG thực hiện việc kiểm tra lượng CO
2
cho các công ty có dự án. Việc
kiểm tra ban đầu này bao gồm: (1) Bo đm rằng dự án chính thức tuân theo những đòi hỏi khung
tài chính từ DEG; (4) DEG sẽ không chấp nhận chức năng ủy thác nếu nguồn tài chính dự án
không từ DEG.
(4) Trung gian môi giới: DEG có thể hoạt động như một nhà trung gian cho các công ty có
dự án với tư cách môi giới chứng chỉ Carbon đặc biệt cho quỹ Carbon KfW. Tuy nhiên, tài chính
của dự án phải từ DEG là điều kiện tiên quyết có nghĩa là DEG không chỉ đơn thuần là người
môi giới.
DEG
Vd. Quỹ Carbon KfW
Công ty Dự án
Vd. năng lượng gió ở Trung Quốc
(1) Tài chính dự án
(2) Tư vấn CO
2
(3) Ủy thác CO
2
(4) Trung gian môi giới
(1)
(2)
(3)
(4)
Sách hướng dẫn về CDM
22
Để biết thêm thông tin xin vui lòng liên hệ:
Ông David Rusnok
DEG - Deutsche Investitions- und
Entwicklungsgesellschaft mbH
Belvederestrasse 40, 50933 Koeln (Cologne), Germany
3.3. Quỹ Carbon khác
3.3.1. Quỹ Carbon Italy
(Hoạt động và cơ hội)
Bộ Môi trường và Đất đai của Italy đã có thỏa thuận với WB để lập quỹ mua “giảm thiểu
phát thải” (ERs) từ những những dự án mang lại lợi ích môi trường toàn cầu và chuyển giao
công nghệ sạch cho phát triển bền vững ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế
đang chuyển đổi.
Quỹ Carbon Italy bắt đầu vận hành vào tháng 3 năm 2004 với những đóng góp của cả cá
nhân và cộng đồng và được điều hành bởi WB, (nhưng đang phát triển một danh mục các dự án
đủ điều kiện theo quy định). Quỹ này hỗ trợ các dự án tạo ra giảm thiểu phát thi phù hợp theo
N ghị định thư Kyoto mà cụ thể là CDM và c chế đồng thực hiện (JI) cũng như là hệ thống buôn
bán phát thải của EU. Vốn ban đầu của quỹ này là 15 triệu USD và do Bộ Môi Trường Italy cung
cấp.
Sách hướng dẫn về CDM
23
Italy có mục tiêu giảm thiểu phát thải đầy tham vọng và khó có thể đạt được bằng các biện pháp
trong nước và thiếu các khoản đầu tư tốn kém, ước tính 6.5%. Quỹ này đưa ra một lựa chọn để
có được sự giảm thải để đạt được mục tiêu giảm thiểu phát thải của Italy. Quỹ này mở ra cho
các các nhân và tổ chức của riêng Italy. Phần đóng góp ít nhất của mỗi chủ thể tham gia là 1 triệu
USD. Quy mô giới hạn của quỹ là 80 triệu USD.
Quỹ Carbon của Italy vận hành tưng tự các quỹ Carbon khác qun lý bởi WB. Quỹ dùng
để mua những phần giảm thiểu phát thải từ các dự án và chi trả cho những lượng giảm thải đã
được kiểm chứng. N hững người tham gia quỹ nhận được 1 tỷ lệ phân chia “giảm thiểu phát thải”
dựa trên mức độ đóng góp quỹ. Phần “giảm thiểu phát thải” mua từ quỹ sẽ được cấp chứng chỉ
trên cơ sở N ghị định thư Kyoto và có thể được sử dụng để thực hiện các kết quả giảm thiểu phát
thải KN K bắt buộc và tự nguyên theo hệ thống nguyên tắc của N ghị định thư Kyoto và những
nguyên tắc khác. Quỹ Carbon Italy có thể trợ giúp các đối tác tham gia có được lượng giảm thiểu
phát thải lớn nhất của năm 2012, kể từ khi quỹ này hy vọng bắt đầu chuyển phần giảm thiểu phát
thi trong năm 2005-2006, lên tới 60% của tổng giảm thiểu phát thải tạo ra trong năm 2012.
Thông tin chi tiết về quỹ Carbon của Italy xem trên trang web www.italiancarbonfund.org
Phương pháp chuNn được ACG lựa chọn để tiến hành bao gồm phân tích và đánh giá các dự án,
phân tích những hướng dẫn chung của chính phủ, những thỏa thuận và công nghệ của mô hình
kinh doanh dự án. Là một phần của mô hình, ACG chuNn bị ma trận rủi ro và xem xét thật kỹ
Sách hướng dẫn về CDM
24
cách thức giảm nhẹ rủi ro để bảo đảm rằng tất cả các rủi ro đã được tính đến. N hững vấn đề về
mặt luật pháp được nêu ra bằng cách xem xét cấu trúc của các hợp đồng pháp lý để đảm bảo các
yêu cầu đang được thực hiện. Liên quan đến khía cạnh tài chính của dự án, ACG xác định tính
hợp lệ các dữ liệu tài chính, các phương án đường cơ sở cũng như cung cấp/làm rõ phần nợ/có
trong tài chính của dự án.
Phần quan trọng khác trong hoạt động của ACG là quản lý tài sản Carbon. Là chuyên gia trong
lĩnh vực này, ACG cùng nhau làm việc với các Bên liên quan đến dự án từ khâu thiết kế tới xây
dựng, vận hành, thu hoạch và chuyển giao, đảm bảo các dự án được thực hiện không phải chỉ
hoạt động một lần.
Phần xương sống trong mô hình thương mại của ACG nằm ở khâu xây dựng năng lực.
ACG cung cấp các giải pháp nâng cao năng lực độc đáo, tập trung vào việc trợ giúp cho các
nước đang phát triển ở Châu Á duy trì những kiến thức cơ bản và phát triển thêm sau khi hoàn
thành công tác nâng cao năng lực. Cam kết đối với các dự án CDM ở Châu Á là phát triển dài
hạn và chúng ta có thể thấy các bài học nâng cao năng lực cốt lõi cho các Bên liên quan đến dự
án ở mọi cấp độ là chìa khoá để phát triển các dự án CDM chất lượng cao.
Hiện nay, ACG đang phát triển quỹ Carbon Châu Á (ACF) thông qua các ngân hàng tư
nhân, các cá nhân có nhiều tài sản, các liên chi nhánh ngân hàng, và các nhà đầu tư nhằm có
được quỹ để vận hành. Cho tới nay, nhóm đã nhận được cam kết lên tới hơn 15 triệu EURO. Quỹ
sẽ giúp đỡ chủ của các dự án có quy mô từ nhỏ đến lớn trong việc tìm kiếm nguồn tài chính bổ
sung cho phần vốn góp của các dự án. Quỹ này sẽ nhìn vào danh mục đầu tư của các dự án để
giảm thiểu rủi ro về mặt tài chính. ACG có mạng lưới liên kết rộng khắp, có khả năng thực hiện
các công việc có định hướng kết quan trong một khoảng thời gian rất ngắn, với những Bên liên
quan đến dự án, ACG cung cấp một cách tiếp cận hữu hiệu cho các dịch vụ tư vấn Carbon, tài
chính dự án và thương mại Carbon.
Xét về mặt cấu trúc, quỹ Carbon Châu á được thiết kế để tối ưu hoá hiệu quả của những quy định
N ghị định thư Kyoto là bản thỏa thuận của nhiều quốc gia nhằm giảm phát thải KN K,
nguyên nhân dẫn tới hiện tượng ấm lên của trái đất trong khoảng giữa những năm 2008-2012. Hệ
thống buôn bán phát thải của Liên minh Châu Âu là một công cụ pháp lý do liên minh Châu Âu
soạn tho thể hiện cam kết của ngành công nghiệp Châu Âu giảm phát thải KN K bắt đầu từ năm
2005 bằng việc sử dụng hệ thống buôn bán phát thải như một công cụ quan trọng để giảm chi phí
xét trên quan điểm tổng thể.
Tổ chức này cũng tập trung vào việc có được chứng chỉ giảm thiểu phát thải từ việc thực
hiện các dự án theo cơ chế JP và CDM của N ghị đinh thư Kyoto ở Trung và Đông Âu. N hững d
ự
án này có thể là nâng cao hiệu suất năng lượng, chuyển đổi nhiên liệu, thu hồi khí Methane hoặc
là giảm thiểu phát thải của các ngành công nghiệp.
EcoSecurities, được thành lập năm 1997, do một số các chuyên gia trong lĩnh vực này, và
gần đây đã được bầu là “tư vấn JI và CDM tốt nhất” do các độc giả của tạp chí “Tài chính môi
trường” ra đời cách đây 3 năm. Với văn phòng ở Anh, Mỹ, Brazil, Hà Lan và Úc EcoSecurity là
nhà tư vấn lớn nhấ
t về vấn đề thay đổi khí hậu, đặc biệt trong buôn bán quyền phát thải và những
dịch vụ tư vấn chiến lược trong ngành. EcoSecurity đã phát triển hoặc tư vấn cho những dự án
giảm thiểu phát thải CO
2
trên 30 nước và có ý kiến tư vấn cho hơn 15 chính phủ về chính sách
thay đổi khí hậu. EcoSecurity đã kiến tạo và giao dịch với một số thương vụ buôn bán chứng chỉ
giảm thiểu phát thải có giá trị lớn nhất trên thế giới tính đến thời điểm hiện tại và hiện nay đang
bán quyền phát thải từ hệ thống khí gas chôn lấp của riêng mình, vận hành ở Brazil.
Standard Bank London, một phần của ngân hàng Standard Bank trong nhóm các ngân
hàng N am Phi tập trung rất nhiều vào ngành năng lượng, khai khoáng và kim loại đang có ưu thế
tại thị trường toàn cầu và tận dụng kinh nghiệm duy trì việc tăng vốn góp, vốn vay và những quỹ
trung gian cho những dự án này, không kể chúng thuộc loại sạch hoặc loại tái tạo. N gân hàng có
nhiều khách hàng là các tập đoàn và chính phủ, các đối tượng sẽ nhận được nhiều lợi ích tài
chính có giá trị từ chứng chỉ Carbon t
ạo ra từ các dự án giảm thiểu phát thải trên toàn thế giới.