Hướng dẫn học sinh lớp 10, lớp 11 làm bài tập Địa lý - Pdf 18

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Làm bài tập thực hành là một phần rất quan trọng của việc học tập môn
Địa lý. Vì vậy trong các đề thi môn Địa lý (Thi tốt nghiệp + Học sinh giỏi
và tuyển sinh) thường có 2 phần: Lý thuyết và bài tập. So với câu hỏi lý
thuyết thì câu hỏi thực hành thường dễ đạt điểm tối đa hơn vì yêu cầu của
câu hỏi thường là vẽ biểu đồ dựa vào số liệu cho trước hoặc là nhận xét ,
giải thích số liệu. Nhưng trên thực tế: Số lượng học sinh không làm được
hoặc chỉ làm được một phần bài tập lại tương đối nhiều vì đa số các em có
kỹ năng làm bài tập rất yếu .
Từ thực tế của trườngTHPT Trần Phú (Nói riêng) và các trường
THPT(nói chung) tôi nhận thấy: Việc rèn luyện cho các em học sinh thành
thạo các kỹ năng vẽ, nhận xét và giải thích các bài tập thực hành Địa lý là
một bộ phận quan trọng của công tác giảng dạy Địa lý. Công việc này
không những giúp các em có thể đạt kết quả cao trong các kỳ thi mà còn
làm cho các em có hứng thú hơn khi học Địa lý. Đồng thời cũng đóng góp
tích cực vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy Địa lý trong các trường
THPT vì thông qua các bài tập thực hành học sinh sẽ hiểu hơn, dễ nhớ hơn các
bài học lý thuyết .
Từ yêu cầu của một bài thi, yêu cầu của bộ môn và thực trạng học tập Địa
lý của học sinh :Tôi lựa chọn dề tài : “Hướng dẫn học sinh lớp 10, lớp 11
làm bài tập Địa lý.”
Đề tài gồm 3 phần:
1. Hướng dẫn học sinh nhận dạng bài tập, phân loại và vẽ biểu đồ.
2. Xử lý số liệu khi vẽ .
3. Tìm mối quan hệ để phân tích số liệu .
Nội dung đề tài rất rộng nên tôi chỉ đi sâu về một số bài tập cơ bản trong
sách giáo khoa Địa lý lớp10, lớp11.Đề tài được đúc kết từ kinh nghiệm của
bản thân qua quá trình giảng dạy; sự tham khảo, học hỏi kinh nghiệmcủa
một số đồng nghiệp.
Mong rằng: Đề tài sẽ giúp các em học sinh lớp10, lớp11 có thể đạt được
kết quả cao hơn trong các bài thi.

:
Loại này phù hợp với những bài tập yêu cầu về so sánh quy mô hay cơ
cấu. Dạng bài tập này cũng có thể vẽ biểu đồ vuông nhưng ít khi xử dụng vì
mất nhiều thời gian vẽ và khả năng truyền tải thông tin hạn chế(Chia phần
lẻ khó hơn biểu đồ tròn).
Trong bài tập trang 9 – SGK - Địa lý 11 có bài tập yêu cầu vẽ biểu đồ thể
hiện về diện tích của nước Anh so với diện tích các thuộc địa của Anh và
Thế Giới trong các năm 1947 và 1960 theo số liệu sau :
Năm Diện tích nước
Anh (Km2)
Diện tích các thuộc
địa Anh (Triệu Km2)
Diện tích thế giới
(Triệu Km2)
1947 244000 10,3 135
1960 244000 5,2 135
2
Học sinh có thể biết vẽ 2 biểu đồ tròn nhưng không biết là bán kính các biểu
đồ bằng nhau hay không bằng nhau.Ta có thể đưa ra gợi ý: Diện tích của mỗi
hình tròn biểu thị số liệu diện tích nào trong bảng? Để thể tích thế giới có thay
đổi không? (không đổi) vậy phải vẽ 2 biểu đồ có bán kính bằng nhau. Nhưng đối
với dạng bài tập để thể hiện số dân: Ví dụ: phần (b) của bài thực hành trang 9 thì
càn cho học sinh biết được dân số là một đại lượng luôn thay đổi theo thời gian
như thế phải vẽ 2 biểu đồ tròn có bán kính khác nhau (rõ ràng học sinh có thể tự
phân tích được). Qua các bài thực hành này giáo viên cần cho học sinh thấy
được: Đối với các bản số liệu cho phép thể hiện cả quy mô và cơ cấu thì phải vẽ
các biểu đồ có bán kính khác nhau.
2 - Dạng biểu đồ miền
- Đối với bảng số liệu và bài tập yêu cầu thể hiện cả quy mô và cơ cấu
trong nhiều năm (4 năm, 6 năm , 8 năm )

dùng biểu đồ cột.
+Đối tượng với dạng bài tập có nhiều đại lượng với nhiều đơn vị khác
nhau, ví dụ : bài tậpp 3 – trang 135 – SGK.
Yêu cầu của bài tập là vẽ biểu đồ thể hiện sản lượng than, điện dầu mỏ, xi
măng , thép của Ân Độ trong các năm 1950 và 1991.Dựa theo bảng số liệu:
Sản phẩm Sản lượng năm 1950 Sản lượng năm 1991
Than 33 triệu tấn 224,5 triệu tấn
Điện 5,1 tỷ Kwh 309,4 Kwh
Thép 1,4 triệu tấn 52 triệu tấn
Trong trường hợp này ta có thể chuyển thành các đại lượng tương đối rồi
vẽ một biểu đồ cột và đường kết hợp.
Với nhiều dạng biểu đồ như vậy, cùng một lúc học sinh có thể khó nhớ,
vậy ta phải củng cố lại trong các giờ thực hành và hướng dẫn làm bài tập về
nhà. Phải luôn luôn nhắc nhở học sinh lưu ý khi vẽ biểu đồ là:Trên các trục
toạ độ cần phải ghi rõ danh số (ví dụ: Nghìn tấn, nghìn ha, triệu kw, )và
nghi rõ mốc thời gian (đối với trục ngang). Các trục phải có mũi tên chỉ
chiều tăng lên của giá trị (đối với biểu đồ tròn, vuông, cột) thì không nhất
thiết phải như vậy.
Cần rèn cho học sinh một thói quen khi vẽ phải ghi tên biểu đồ và có bảng chú giải.
Với sự rèn luyện thường xuyên trong các giờ thực hành, tôi tin rằng học sinh
nắm được các dạng biểu đồ và lựa chọn được biểu đồ thích hợp khi làm bài tập.
XỬ LÝ CÁC SỐ LIỆU KHI VẼ VÀ NHẬN XÉT
Biểu đồ là cách thể hiện trực quan của chuỗi số liệu. Vì vậy khi vẽ và
nhận xét trước hết ta phải tìm hiểu rõ đặc điểm biến động của chuỗi số liệu
để phát hiện xem có sự thay đổi đột ngột (tăng hay giảm đột ngột ) của hiện
tượng không ? để khi nhận xét có thể chia thành các giai đoạn.
1 - Ví dụ 1

:
Trong bài tập số 2- trang109 SGK11

1972 54
1979 53
1981 35
1985 45
1987 49,8
6
Đối với loại bài tập này: Khi nhận xét về sự phát triển công nghiệp dầu
mỏ của An-Giê-Ri nhiều học sinh đi vào nhận xét từng năm một. Để tránh
nhận xét vụn vặt ta có thể đặt câu hỏi: Nhìn vào bảng số liệu ta thấy sự phát
triển ngành khai thác khí của An-Giê-Ri như thế nào? Tăng hay giảm? có
thể nhận xét thành mấy ý. Như vậy học sinh có thể biết được cần phải chia
theo các giai đoạn để nhận xét cho ngắn gọn.
Tóm lại:Để học sinh nhận dạng đúng loại bài tập và sử lý tốt các số liệu
thì trong mỗi giờ thực hành hoặc trước khi giao bài tập về nhà ta cần phải
hướng dẫn học sinh dọc kỹ đề bài để thấy được yêu cầu và phạm vi cần
phân tích. Cần tìm ra mỗi quan hệ giữa các số liệu không được bỏ sót các dữ
liệu. Nếu cần thì có thể chuyển từ số liệu tuyệt đối sang các số liệu tương
đối để thể hiện cho rõ hơn, Phải tìm các giá trị nhỏ nhất, Lớn nhất và trung
bình,đặc biệt là các số liệu có tính đột biến.
TÌM CÁC MỐI QUAN HỆ ĐỂ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Khi phân tích biểu đồ và bảng số liệu thống kê ta cần đọc kỹ yêu cầu của
đề bài và tìm ra tính quy luật hay mối quan hệ nào đó giữa các số liệu để
tìm lời giải thích cho phù hợp.
Ví dụ 1:
Trong bảng số liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nứơc TBCN phát
triển trang72 SGK 11:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản so với các nước tư bản khác (tính theo %).
Thời gian Nhật bản Anh Hoa kỳ Pháp
1986 2,4 3,3 2,8 2,1
1988 5,7 4,3 4,4 3,4

thay đổi của số liệu cần hướng dẫn học sinh nhớ lại các kiến thức đã học.
Cụ thể: Lao động trong nông nghiệp giảm và tỉ lệ lao động công nghiệp,
dịch vụ tăng do yếu tố nào? nếu không nhiều học sinh lại nhầm tưởng đó là
lao động của ngành nông nghiệp giảm, hoặc giá trị ngành nông nghiệp giảm.
Ví dụ 3

:
Khi giải thích và phân tích bảng số liệu về sự phát triển ngành dầu mỏ
của An – Giê- Ri(SGK trang144 lớp11).
Học sinh dễ ràng nhận thấy sự thay đổi của các số liệu:
Cụ thể:
8
Giai đoạn 1: 1966- 1979:S/lượng dầu mỏ tăng.
Giai đoạn 2: 1979 – 1981: S/ lượng dầu mỏ giảm.
Giai đoạn 3: 1985-1987: S/ lượng dầu mỏ tăng.
Học sinh có thể dễ dàng giải thích vì sao sản lượng dầu mỏ của An –Giê-Ri
tăng nhanh? Nhưng lại rất khó giải thích vì sao giảm? Như vậy giáo viên cần
phải đưa ra một loạt hệ thống các câu hỏi:
+ Có phải các mỏ dầu đã cạn kiệt? Với câu hỏi này nhiều học sinh sẽ trả
lời là do các mỏ đang cạn( khoáng sản là loại tài nguyên cạn kiệt).
+Dùng câu hỏi tiếp theo: vậy tại sao đến 1985 lại tăng?Lúc này ta phải
hướng dẫn các em nhìn sang bảng giá trị đóng góp trong tổng xuất khẩu và
đóng góp trong thu nhập quốc dân.
Với câu hỏi này học sinh có thể trả lời được: Việc giảm sản lưọng dầu mỏ
liên quan tới hoạt động của khối OPEC và là chủ trương của An-Giê-Ri khi
tập trung và phát triển ngành dầu khí theo chiều sâu và gây sức ép với các
công ty nước ngoài trong việc mua bán dầu.
+Viêc tăng sản lượng dầu năm1987 đến1994 ta có thể gợi ý về tình hình
năng lượng trên thế giới trong những năm qua để học sinh dễ tìm ra câu trả
lờithích hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status