Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp - Pdf 18

MỞ ĐẦU
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi,
còn theo nghĩa rộng gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Từ khi ra đời cho đến nay, nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong
việc phát triển kinh tế nói chung và bảo đảm sự sinh tồn của loài người nói riêng.
Ăng-ghen đã khẳng định: nông nghiệp là ngành có ý nghĩa quyết định đối với
toàn bộ thế giới cổ đại. Ý nghĩa quyết định của nông nghiệp không chỉ đúng
trong thế giới cổ đại mà ngay cả hiện nay và thời gian sau này ý nghĩa đó vẫn
còn nguyên giá trị. Loài người không thể sống nổi nếu thiếu những sản phẩm
nông nghiệp.
Giai đoạn hiện nay, con người đang phải đối mặt với nhiều thách thức
trong vấn đề lương thực - thực phẩm. Vấn đề đặt ra đối với nông nghiệp là cần
đảm bảo lượng lương thực thực phẩm an toàn - đủ cung cấp cho nhu cầu con
người. Để đạt được điều đó bên cạnh việc đưa những tiến bộ khoa học vào sản
xuất nông nghiệp, chúng ta cần nghiên cứu và áp dụng những hình thức tổ chức
lãnh thổ nông nghiệp sao cho phù hợp với tài nguyên, điều kiện sản xuất (khoa
học, công nghệ, tập quán sản xuất, tiêu dùng,…), đặc điểm phân công lao động
xã hội mỗi quốc gia,… để tạo được hiệu quả cao nhất trong sản xuất nông
nghiệp.
Nghiên cứu và tìm hiểu tổ chức lãnh thổ nói chung và tổ chức lãnh thổ
nông nghiệp nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của địa lý kinh tế xã hội. Vấn đề
này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Trong địa lý học Xô Viết, nhiều
nhà khoa học có tên tuổi như KI.I Ivanôp, V.G.Kriuchkov… đã công bố nhiều
công trình liên quan đến tổ chức lãnh thổ nông nghiệp.
Trong khoa học Địa lý Việt Nam, về phương diện lý luận có rất ít tài liệu
nghiên cứu một cách sâu sắc về tổ chức lãnh thổ nông nghiệp. Liên quan đến các
vấn đề này chỉ có một vài nghiên cứu lẻ tẻ về phân vùng nông nghiệp Việt Nam:
đó là công trình nghiên cứu của tác giả Minh Chi đã được công bố vào những
năm 60. Cũng trong thời gian này, ở khoa Địa Lý trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội, nhà giáo Nguyễn Văn Quang đã đưa vào giảng dạy giáo trình “Phân cùng
nông nghiệp” trong đó đề cập tới nguyên tắc, phương pháp và nội dung cụ thể.

đổi hàng hóa, phân công lao động xã hội được khởi đầu và kết thúc bởi sự trao
đổi hay buôn bán hàng hóa. Nó được biểu hiện cụ thể dưới hai hình thức cơ bản
nhất là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ.
a) Phân công lao động xã hội theo ngành chính là tổ chức lao động xã hội
theo các ngành để tạo ra những sản phẩm cụ thể đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Phân công lao động xã hội theo ngành phản ánh trình độ phát triển của
nền kinh tế của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện. Phân
công lao động xã hội theo ngành phát triển từ thấp đến cao; từ nông nghiệp đến
cả công nghiệp ròi có cả dịch vụ. Sự kiện tách chăn nuôi khỏi trồng trọt, tách các
ngành phi nông nghiệp khỏi khu vực nông nghiệp là ý nghĩa đó. Khoa học - công
nghiệp càng phát triển, trình độ nguồn nhân lực càng cao, nhu cầu tiêu dùng của
xã hội càng đa dạng, chất lượng càng cao thì sự phân công lao động xã hội theo
ngành càng phát triển.
Quá trình phân công lao động xã hội theo ngành đã kéo theo quá trình
phân công lao động xã hội theo lãnh thổ; nói cách khác, đã có phân công lao
động xã hội theo ngành thì tất yếu phải có phân công lao động xã hội theo lãnh
thổ. Đó là hai hiện tượng kinh tế xã hội liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi trình bày
về phân công lao động xã hội C.Mac cho rằng trong nền kinh tế - xã hội, phân
công lao động xã hội theo ngành phải đựơc thể hiện cụ thể bằng phân công lao
động xã hội theo lãnh thổ. Khi bàn về vấn đề này V.I.Lênin nói đại ý rằng, phân
công lao động xã hội theo lãnh thổ, chuyên môn hóa sản xuất của các vùng về
một loại sản phẩm, thậm chí về một bộ phận nào đó của sản phẩm có quan hệ
trực tiếp với phân công lao động xã hội nói chung.
b) Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ chính là tổ chức lao động hội
theo ngành gắn với lãnh thổ, làm cho mỗi lãnh thổ có chức năng riêng công năng
tương đối khác nhau. Quá trình thực hiện cụ thể hóa phân công lao động theo
lãnh thổ cũng chính là thực hiện phân công lao động xã hội ở các lãnh thổ cấp bé
hơn và đồng thời với việc phát huy tác dụng của các mối liên hệ kinh tế giữa các
lãnh thổ (có cả liên hệ giữa các lãnh thổ với các trung tâm). Quá trình này lôi
cuốn các vùng vào trao đổi hàng hóa cho nhau và qua đó mang lại lợi ích cho các

Trong quá trình phân công lao động theo lãnh thổ có sự phân hoá về chức
năng giữa các vùng. Do vậy tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể phân công lao động
một mặt tạo nên sự cân bằng giữa các lãnh thổ và mặt khác cá thể hoá các lãnh
thổ ấy khi lự chọn một số ngành chuyên môn hoá.
Về bản chất, phân công lao động theo lãnh thổ chính là việc gắn các
ngành (các xí nghiệp) vào những lãnh thổ thích hợp, bảo đảm mối quan hệ giữa
chung với nhau và sự phát triển hài hoà giữa chuyên môn hoá và liên hợp hoá,
tạo ra sự phát triển giữa ngành với ngành, giữa ngành với lãnh thổ. Phân công
lao đông xã hội theo lãnh thổ không phải là bất biến mà là một phạm trù kinh tế,
xã hội, lịch sử. Nó phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
con người với tự nhiên trong quá tình sản xuất và đời sống. Các mối quan hệ này
thay đổi theo thời gian và phát triển không ngừng, từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp.
1.2. Các hình thức thể hiện phân công lao động theo lãnh thổ
Về phạm vi không gian, phân công lao động theo lãnh thổ có thế chia
thành 6 hình thức với mức độ khác nhau. (IU.G. Xauskin 1973).
a) Phân công lao động trên phạm vi toàn thế giới
Hiện nay phân công lao động thuộc dạng này chịu tác động mạnh mẽ của
các khối (liên minh) kinh tế, chính trị. Các tập đoàn tư bản lớn luôn thâm nhập
và mở rộng thị trường đầu tư và tiêu thụ. Điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình phân công lao động quốc tế. Việc phân công lao động dựa vào lợi thế về
điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, lao động, giao thông vận tải, vốn và
công nghệ của mỗi quốc gia để có thể sản xuất và trao đổi hàng hoá, tạo điều
kiện phát triển nền kinh tế. Ngày nay, việc phân công lao động quốc tế càng
được đẩy mạnh. Thực tiễn cho thấy rằng không phải quốc gia nào cũng có đầy
đủ các yếu tố để tự đảm bảo mọi nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội. Vì thế phân
công lao động quốc tế vừa là nhu cầu của mỗi quốc gia, vừa mang tính xu thế tất
yếu.
b) Phân công lao động trong phạm vi một quốc gia
Trong điều kiện hiện nay, xu thế toàn cầu hoá, khu vực hóa nền kinh tế

Phân công lao động địa phương là phân công lao động trong nội bộ của
một tỉnh, giữa thành phố và vùng ngoại vi. Các hình thức phân công lao động
theo lãnh thổ nói trên được biểu hiện cụ thể trên một không gin nhất định với
mức độ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao.
2. Khái niệm tổ chức lãnh thổ
Con người luôn luôn gắn với một lãnh thổ nhất định, nơi họ sống và làm
việc. Chính ở đây họ đã tạo ra được một hệ thống mối quan hệ qua lại hợp lý
nhất giữa con người với tự nhiên. Hệ thống này, một mặt, cho phép con người sử
dụng tốt nhất các nhân tố lãnh thổ của sản xất và chi phí xã hội thấp nhất, hiệu
quả kinh tế cao nhất và mặt khác, tạo nên điều kiện thuật lợi cho cuộc sống và
lao động của mình. Đó là bản chất của việc tổ chức xã hội theo lãnh thổ. Tổ chức
xã hội theo lãnh thổ bao gồm hai hình thức chủ yếu: tổ chức nền sản xuất xã hội
và tổ chức môi trường sống của con người, trong đó hình thức thứ nhất giữ vai
trò quyết định.
Nhiều nhà khoa học thuộc hàng loạt các lĩnh vực chuyên môn đã đưa ra
khái niệm tổ chức sản xuất theo lãnh thổ với những quan niệm ít nhiều có sự
khác nhau.
Theo quan điểm của trường phái địa lý Xô Viết, tổ chức lãnh thổ là sự sắp
xếp, bố trí và phối hợp các đối tượng có ảnh hưởng lẫn nhau, có mối quan hệ qua
lại giữa các hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư nhằm sử dụng hợp lý các nguồn
lực để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường.
Theo quan điểm của các trường phái địa lý Phương Tây, tổ chức lãnh thổ
(còn gọi là tổ chức không gian kinh tế xã hội) được coi là sự lựa chọn về nghệ
thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn nhằm tìm kiếm một tỷ lệ, quan hệ hợp
lý về phát triển kinh tế - xã hội giữa các ngành hoặc giữa các vùng trong cùng
một quốc gia có xét đến mối liên hệ giữa các quốc gia để tạo ra các giá trị mới.
Theo quan điểm này, về mặt địa lý, tổ chức không gian kinh tế xã hội được xem
như là một hoạt động có tính chất định hướng tới sự công bằng về không gian
giữa trung tâm và ngoại vi, giữa các cực với không gian ảnh hưởng nhằm giải
quyết việc làm, cân đối giữa nông thôn và thành thị, bảo vệ môi trường sống của

vào các dấu hiệu nội dung địa lý, tách chúng ra phù hợp với mục đích nghiên
cứu. Mỗi đối tượng địa lý riêng biệt lại tạo ra một không gian địa lý độc lập, bao
gồm không gian vật lý của đối tượng và trường địa lý của nó. Trường địa lý là
một phạm vi mà trong giới hạn của nó thể hiện sự tác động của một đối tượng
địa lý lên các đối tượng và hiện tượng địa lý khác. Không gian vật lý của từng
đối tượng địa lý riêng biệt ứng với tính không liên tục, còn trường thì ứng với
tính liên tục của không gian địa lý.
Các đối tượng địa lý phức tạp tương ứng với không gian địa lý phức tạp.
Không gian địa lý phức tạp này được hình thành bằng cách giao nhau, xâm nhập
lẫn nhau giữa các trường của các đối tượng riêng biệt.
Có nhiều dạng không gian trong địa lý, song đáng chú ý là khái niệm không
gian tuyệt đối và không gian tương đối. Không gian tuyệt đối là một cái khung
trong đó sẽ ghi các đối tượng và sự kiện. Không gian tương đối là khi không
gian trở thành vừa là “vỏ” vừa là “ruột”. Những hiện tượng mà các nhà địa lý
phân tích đã được xem như những bộ phận của không gian; thêm nữa, còn cần
thiết cho việc định chất của không gian.
Ngoài ra, còn có một số định nghĩa khác về không gian địa lý như: Phạm vi
không gian địa lý là bề mặt Trái đất và sinh quyển (O. Dollfus 1970); Không
gian địa lý là không gian con người có thể tới được, sử dụng được (J. Gottmann).
Theo cách hiểu này thì không gian địa lý đồng nghĩa với “môi trường địa lý”.
- Không gian kinh tế
Theo quan điểm địa lý, thì “không gian kinh tế chỉ là một phần của không
gian địa lý. Không gian kinh tế bao gồm những khu vực ở đó có những điểm
quần cư ổn định hay tạm thời, những khu vực có kết cấu hạ tầng kỹ thuật, nhờ đó
có thể thực hiện sự hợp tác, trao đổi và tiếp xúc giữa các khu vực hay điểm quần
cư. Không gian kinh tế gồm cả đất nông nghiệp, rừng đang khai thác, các nguồn
nước, các khu vực nghỉ ngơi, giải trí, du lịch” (S. Lezixki, 1974). Như vậy, khi
xác định không gian kinh tế, theo định nghĩa trên, người ta tập trung nghiên cứu
những phần nào của không gian địa lý có các công trình nhân tác và các hoạt
động (kinh tế, văn hóa, khoa học, chính trị, giao tiếp…) của con người diễn ra

hợp các đối tượng và có tính thứ bậc ít hơn.
Theo E. B. Alaev, không gian kinh tế phản ánh các mối quan hệ về quản lý.
Mỗi đối tượng kinh tế hay tập hợp các đối tượng có quan hệ về mặt quản lý tạo
nên trường kinh tế. Sự đan cắt của các trường địa lý khác nhau tạo nên không
gian kinh tế. Mỗi không gian kinh tế đều có vùng trung tâm và vùng ngoại vi.
Khi cắt nghĩa về mặt địa lý một không gian kinh tế, ta có khái niệm không gian
địa lý kinh tế.
Như vậy, trong quan niệm của E. B. Alaev, không gian kinh tế có thể được
xem xét theo hai cách:
- Theo sự phân bố của đối tượng kinh tế (quan điểm địa lý);
- Theo mối quan hệ về quản lý (quan điểm kinh tế).
Rất đáng chú ý là quan điểm của các nhà địa lý Pháp trong tác phẩm
“Mondes Nouveaux” (1990) do Roger Brunet chủ biên. Theo quan điểm của các
tác giả Pháp, có thể hiểu rằng ở đây quan niệm về không gian kinh tế đồng nghĩa
với quan niệm về không gian địa lý kinh tế. R. Brunet viết: “Không gian địa lý là
sản phẩm của con người, là sản phẩm của xã hội, và trở thành công cụ và môi
trường để xã hội tự tái sản xuất”. Các nhà địa lý nghiên cứu các không gian địa
lý luôn quan tâm đến sự định vị của các đối tượng điểm, đường, các mạng lưới.
Không gian địa lý có thể được định nghĩa là tập hợp các vị trí. Xét về góc độ sản
xuất, không gian có hai mặt:
- Không gian là tổng thể các địa điểm, các mạng lưới, được ở và sử dụng
=> không gian có giá trị sử dụng;
- Không gian là tổng thể các mảnh có chủ sở hữu => không gian có giá trị
trao đổi.
Các không gian sản xuất là các không gian địa lý cơ bản. Hệ thống sản xuất
theo không gian được trình bày trong sơ đồ sau:
Sơ đồ hệ thống sản xuất theo không gian
Bốn hành động cơ bản được phối hợp trong cơ chế quản lý (về chính trị,
văn hóa, kinh tế, xã hội). Chúng phối hợp với nhau từng đôi một, làm sinh ra
bốn hành động khác (các hình chữ nhật trong sơ đồ). Có bốn cấu trúc không

thể tự nhiên nhất định, một kết cấu tài nguyên nhất định sẽ có một cơ cấu kinh tế
tương ứng. Việc sử dụng các điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử, vị trí địa lý khác
nhau, là cơ sở tác động qua lại các thành phần đó.
Như vậy, với mỗi lãnh thổ có một lịch sử hình thành nhất định, hay nói rõ
hơn không gian kinh tế - xã hội có phạm vi của mình, trong đó chứa đựng các
thành phần con người, tự nhiên và sản xuất. Mỗi thành phần đó bao hàm các yếu
tố cấu thành không đứng riêng lẻ, cô lập nhau và chúng có vai trò nhất định tác
động qua lại quan hệ theo các kiểu khác nhau.
Phân hóa không gian kinh tế - xã hội của một khu vực có thể coi như hiện
trạng phân bố không gian kinh tế - xã hội của khu vực đó ở một thời điểm nhất
định, chịu sự tác động của phương án tổ chức không gian kinh tế - xã hội ở thời
điểm trước đó (nếu có), hoặc hình thành do sự tương tác khách quan của các yếu
tố tạo nên không gian kinh tế - xã hội.
Sự tương tác của các trường địa lý đan cắt nhau tạo nên một không gian địa
lý kinh tế -xã hội. Các trường địa lý này bao gồm trường sản xuất, trường xã hội
(trường dân cư) và trường sinh thái (trường tài nguyên). Mỗi trường địa lý ở cấp
bậc cao lại được phân chia thành các trường ở cấp bậc thấp hơn. Ví dụ trường
sản xuất có thể chia ra các trường sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp…
Đến lượt mình, mỗi trường sản xuất ở cấp bậc này lại được chia thành các
trường ở cấp bậc thấp hơn nữa, như trong trường sản xuất nông nghiệp chia ra
trường sản xuất ngành trồng trọt, trường sản xuất ngành chăn nuôi…
Mỗi trường địa lý, dù ở cấp bậc nào đi nữa, cũng có những tác động qua lại
với các đối tượng địa lý khác xung quanh nó. Sự tương tác giữa các trường địa lý
tạo nên một không gian địa lý kinh tế - xã hội. Sự tương tác này xảy ra ở mọi cấp
bậc phân chia.
Như vậy, tổ chức lãnh thổ là sự sắp các đối tượng địa lý trên lãnh thổ nhất
định theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội do chủ thể của phát triển vùng tổ chức
(đó chính là cơ quan quản lý nhà nước quy định trong hiến pháp hiện hành). Các
hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội theo các vùng lớn hoặc theo các khu
vực đặc biệt mà các lãnh thổ có đối tượng trọng điểm đầu tư. Tổ chức lãnh thổ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status