“Tránh những sai sót Khi sử dụng MTBT casio fx-500ms
trong quá trình thực hành giải toán “
Phần I : CƠ SỞ THỰC TIỄN
1*/ Cơ sở lý luận :
Thực tế cho thấy Toán học là nền tảng cho mọi ngành khoa học, là chiếc chìa
khoá vạn năng để khai phá và thúc đẩy sự phát triển cho mọi ngành khoa
học, kinh tế, quân sự trong cuộc sống. Chính vì vậy việc dạy và học bộ môn
toán trong nhà trường đóng vai trò vô cùng quan trọng dạy toán chiếm vị trí số
một trong các môn học của nhà trường, đối với giáo viên dạy toán là niềm tự
hào song đó cũng là thử thách vô cùng lớn. Để dạy toán và học toán tốt thì
Thày và Trò không ngừng rèn luyện và đầu tư trí và lực vào nghiên cứu học
hỏi. Để nâng cao chất lượng dạy và học toàn ngành giáo dục đã thực hiện
dạy và học theo phương pháp đổi mới, đối với môn toán trong trường THCS
cũng vậy, ngoài những yêu cầu bắt buộc về đổi mới phương pháp dạy học nói
chung thì môn toán cũng có những yêu cầu riêng về đổi mới. Vì là môn khoa
học mũi nhọn, nền tảng cho các môn học khác do đó việc áp dụng khoa học
kỹ thuật, công nghệ thông tin vào dạy và học là điều bắt buộc. Thật vậy khi
chúng ta và học sinh cùng chứng minh hay xây dựng thành công một công
thức toán học …nhưng vì thời gian đi tìm kết quả cụ thể cho bài toán đó
thường giao cho học sinh về nhà làm, điều này gây cho học sinh những tâm lý
không tin tưởng và đương nhiên các công thức trên mất rất nhiều công sức
nhưng sức thuyết phục lại không cao, làm cho học sinh không có hứng thú
học tập vì không nhìn thấy ngay thành quả học tập của mình, làm cho học
sinh lười và hay ỉ lại để, gảI quyết vấn đề đó Bộ Giáo dục & Đào tạo đã cho
phép học sinh giáo viên sử dụng máy tính bỏ túi (MTBT) CASIO FX-500MS
vào thực hành giải toán, hàng năm có tổ chức các kỳ thi các cấp về giải toán
trên máy tính nhằm đánh giá kết quả dạy và học toán nhằm từng bước đưa
bộ môn toán ngày càng phát triển.
Thực hiện nhiệm vụ năm học cũng như được sự phân công của Ban giám
hiệu nhà trường THCS Tân Việt, qua quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi vài
năm gần đây bản thân tôi thấy việc sử dụng máy tính để thực hành giải toán
mềm cho máy tính, do đó máy tính không có cảm xúc như con người được,
nó chỉ thực hành theo lệnh đã lập trình trong nó. Điều này không phải ai cũng
hiểu, ai cũng biết. Do đó cả thầy và trò đều không kiểm tra lại kết quả trên
giấy nữa, ai lại nghi ngờ máy tính bao giờ, và cứ như thế tất cả niềm tin, hứng
thú bị dập tắt hết khi kết quả bài kiểm tra, bài thi bị điểm yếu do kết quả sai,
điều đó ảnh hưởng không nhỏ đên các giờ dạy lý thuyết. Việc nghiên cứu tính
năng của máy lại phụ thuộc vào trình độ ngoại ngữ của mỗi giáo viên, vì các
hướng dẫn sử dụng của MTBT lại viết bằng tiếng Anh do đó việc giáo viên
không nắm vững tính năng là điều dễ hiểu.
c) Các tài liệu
Các tài liệu viết về tính năng của MTBT trên thị trường và các nhà xuất bản
giáo dục không nhiều. Các tài liệu chủ yếu viết về các loại toán và cách thực
hành loại toán đó trên MTBT, chủ yếu viết về tính năng ưu việt của máy tính
để quảng cáo sản phẩm. Trong nhà trường THCS giáo viên không có sách
giáo khoa, sách giáo viên riêng cho việc dạy và học giải toán trên MTBT. Bài
học nào có thể áp dụng được trên MTBT thì sách giáo khoa viết cách trình
bày lời giải và cách thực hành trên MTBT FX-220A hoặc FX-500A, những loại
MTBT thuộc thế hệ cũ không vận dụng được cho MTBT FX-500MS. Trong khi
đó thị trường phát triển không ngừng, tuổi thọ của mỗi thế hệ MTBT là rất
ngắn. Khi viết hướng dẫn sử dụng MTBT các nhà sản suất chỉ viết về tính
năng ưu việt, tính năng mới còn những tính năng cần phải chú ý khi sử dụng
ai lại khoe ra. Do đó khi dạy và học toán, thầy trò sẽ gặp nhiều khó khăn .
B- MỤC ĐÍCH –NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP
a) Mục đích :
Nhằm nâng cao chất lượng giải toán trên MTBT. Giải quyết khó khăn về thời
gian nghiên cứu tính năng của MTBT, và tạo niềm tin cho giáo viên trong quá
trình hướng dẫn học sinh thực hành giải toán trên MTBT làm chủ kiến thức.
Giúp cho thày và trò trong dạy và học đạt được kết quả cao trong các kỳ thi,
kỳ thi học sinh giỏi giải toán trên MTBT khối THCS, học sinh có niềm tin và kỹ
năng vận dụng MTBT vào giải toán. Góp phần nâng cao chất lượng dạy và
quá trình học sinh thực hành so sánh kết quả của học sinh tôi thấy kết quả sai
chiếm trên 80% nhưng các máy tính không báo lỗi, các bài toán thực hành
trên máy rất đơn giản, yêu cầu học sinh trình bày quy trình bấm máy không
sai, kiểm tra lại quy trình của giáo viên với học sinh mới phát hiện ra quy trình
của học sinh tuy không sai, máy không báo lỗi nhưng có một số quy trình liên
quan đến tính năng kỹ thuật của MTBT mà giáo viên và học sinh chưa được
trang bị. Do vậy tôi chủ tâm tập trung nghiên cứu sâu tính năng của máy tính.
Sau rất nhiều lần thực hành trên máy, trong quá trình dạy và học cũng như ôn
luyện học sinh giỏi giải toán trên MTBT CASIO FX-500MS tôi đã tích luỹ được
một số kinh nghiệm: “Tránh những sai sót Khi sử dụng MTBT casio fx-
500ms trong quá trình thực hành giải toán “.
B* - NHỮNG KINH NGHIỆM THỰC TẾ :
1/những sai sót do chức năng hiển thị kết quả :
Với máy tính FX-500MS màn hình hiển thị gồm 2 dòng, dòng trên hiển thị biểu
thức nhập vào từ phím, dòng dưới hiển thị kết quả phép toán. -Khả năng nhập
tối đa 79 ký tự, dữ liệu là số thực, số phức. màn hình nhập hiển thị và cách
nhập gần giống như cách viết thông thường trên giấy. - khả năng hiển thị kết
quả không quá 10 chữ số, nếu các chữ số của của kết quả vượt quá 10 chữ
số thì kết quả được hiển thị ở dạng khoa học hoặc làm tròn.
a) Kết quả là số thập phân vượt quá 10 chữ số máy tính sẽ hiển thị kết
quả sau khi làm tròn : Khi kết quả của phép tính là số thập phận vượt quá
10 chữ số( tổng các chữ số của phần nguyên và phần thập phân) thì máy tính
sẽ cát bớt chữ số thập phân đi và làm tròn chữ số thập phân thứ 11 theo quy
tắc.
Ví dụ : số 1:23 có là số TPVH tuần hoàn không? Nếu là số TPVHTH hãy xác
định chu kỳ của số đó.
+ Thực hành trên máy : 1:23 = cho kết quả là : 0.04347826 và học sinh thản
nhiên kết luận số trên không phải số TPVHTH điều đó nếu ta không hiểu tính
năng của máy tính thì ta dễ dàng thừa nhận kết quả trên.
+ Nhưng thực tế không phải thế mà số 1:23 là một số TPVHTH là: 1: 23 = 0.
sai, muốn có kết quả đúng ta cần kiểm tra lại, và thực hành tính toán trên
giấy .
d) Kết quả đúng là số vô tỉ nhưng máy tính hiển thị kết quả là số TP.
Ví dụ : thực hiện phép tính : 4√2 +2006 – 5√2
+ Thực hành trên máy tính : (4√2 ) +2006 – (5√2 ) = thì kết quả sẽ hiển
thị là : 2004.585786 . Nhưng thực tế phép toán trên ta nhẩm ngay được kết
quả là 2006- √2 .
* Nguyên nhân : Do chức năng hiển thị của máy tính gần như cách viết thông
thường. Riêng kết quả là biểu thức chứa dấu căn thì các nhà sản xuất chưa
thể hiện được đây là nhược điểm của thế hệ máy tính này. Song khi bán máy
thì các nhà sản xuất không thông báo cho khách hàng, khi gặp những bài
toán như trên máy tính hiển thị kết quả là số TP.
* Cách khác phục : Khi xảy ra hiện tượng trên ta cần xác định kết quả đó là
gần đúng "≈”, muốn có kết quả đúng ta cần kiểm tra lại, và thực hành tính
toán trên giấy.
e)Kết quả nghiệm của hệ PT hay phương trình trên tập số phức nhưng
học sinh vẫn công nhận nghiệm đó trên số thực .
Ví dụ : Giải phương trình : x
2
+ 2x + 2006 = 0.
+ Thực hành trên máy tính : MODE MODE 1 ► 2
+ Nhập hệ số : a? 1 = ; b? 2 = ; c? 2006 = thì kết quả hiển thị là : x1 = -1 ; x2
= -1 .Nhưng thực tế khi giải phương trình trên bằng công thức nghiệm ta có
ngay phương trình vô nghiệm.
* Nguyên nhân : Do chức năng xử lý của máy tính là giải toán trên cả trường
số phức. Do đó phương trình trên vô nghiệm trên trường số R nhưng có
nghiệm trên trường số phức. Học sinh không hiểu ký hiệu R- l trên góc trên
bên phải màn hình máy tính là thông báo cho biết kết quả trên máy đang ở
trường số phức.
* Cách khác phục : Khi xảy ra hiện tượng trên ta cần xác định kết quả đó là
Ví dụ : thực hiện phép tính : A= (√18)/2
+ Thực hành trên máy : Cách 1: √ 18 ┘2 = cho kết quả là : A = 3 (phân số
thực hiện tối giản trước khi khai căn ) và học sinh thản nhiên công nhận kết
quả trên.
+ Cách 2 : (√18 )┘2 = cho kết quả là : A ≈2.121320344 (phân số tối giản
sau khi khai căn) một lần nữa học sinh lại vô tư nhận lấy kết quả.Thật sự bế
tắc cho giáo viên để khảng định một kết quả đúng, nếu ta không nắm vứng
tính năng này của máy tính.
*Nguyên nhân : Do tính năng của máy tính đã thiết kế mức độ ưu tiên tối giản
phân số trước khi thực hiện các phép toán khác trong biểu thức tính.
* Cách khác phục : Khi có kết quả phép toán ở kết quả cách 1 là sai, kết quả
đúng ở cách 2, giáo viên cần giải thích khắc sâu cho học sinh tính năng này
và khắc sâu các quy tắc ưu tiên mà toán học đã quy định. Nhập lại biểu thức
trên máy nếu tử và mẫu có những biểu thức phức tạp tốt nhất ta nên cho các
biểu thức ở tử hay mẫu vào trong ngoặc, sau đó kiểm tra lại trên giấy.
c) Phép toán nội hàm được ưu tiên hơn các phép toán cơ bản :
Đây là một tính năng được thiết kế trong các hàm sin, cos, tan hay sin-1,
cos-1, tan-1 nếu ta không biết tính năng này thì khi thực hành trên máy dễ
nhận được kết quả sai mà không hay biết.
Ví dụ :
Tính giá trị của biểu thức: A= ( sin3n - cos3n )/ tag1,5n(biết n =30
o
)
Thực hành trên máy : Gán 30
0
vào biến A trong máy tính : 30 o,,, shift sto A
trên màn hình hiển thị (30 o,,, →A)
+ Cách 1 ; ((sin3xa) – (cos3xa)) +(tan1.5xa) = cho kết quả là : A ≈
-36.13749381 (Các hàm sin, cos , tan thực hiện tính sin3
o
hành giải toán sẽ cho kết quả sai, mặc dù chúng ta nhập đúng biểu thức và
giá trị của biểu thức và máy tính không báo lỗi. Người sử dụng nhận kết quả
sai mà cứ chắc chắn là một kết quả đúng.
a)Biến nhớ và bộ nhớ độc lập M+ có chức năng khác nhau :
+ Các biên nhớ có ký hiệu là A, B,C,D,E,F,X,Y,M kênh chữ màu đỏ có chức
năng lưu nhớ biểu thức toán học nhập vào chứ không lưu nhớ kết quả của
phép toán hiển thị ở dòng kết quả.
+ Biến nhớ độc lập ký hiệu là M+ kênh chữ màu trắng, có chức năng cộng giá
trị hiển thị ở dòng kết quả vào bộ nhớ sau mỗi lần ấn M+ . Nếu ta không biết
tính năng này thì khi thực hành trên máy sử dụng bộ nhớ không đúng mục
đích, chức năng của mỗi bộ nhớ dễ nhận được kết quả sai mà không hay
biết.
Ví dụ: Thực hiện tính deta của phương trình : ax
2
+ bx + c = 0. với yêu cầu
các hệ số a, b, c nhập vào từ bàn phím sau đố lấy kết quả tính deta ra, mà
không phải nhập biểu thức tính deta cho mỗi lần tính.
+ Thực hành trên máy :
-Gán giá trị hệ số a vào biến A trong máy tính: 3 shift sto A trên màn hình hiển
thị (3→A).
- Gán giá trị hệ số b vào biến B trong máy tính: 3 shift sto B trên màn hình
hiển thị (3 →B).
- Gán giá trị hệ số c vào biến C trong máy tính: 2 shift sto C trên màn hình
hiển thị (2→C) Với các hệ số ( a=3 ; b= 3 ; c=2)- Gán biểu thức tính deta là
b2 – 4ac vào biến D :
ALPHA B x
2
- 4 ALPHA A ALPHA C shift sto D trên màn hình hiển thị (B
2
-
7 SHIFT ;20 DT
8 SHIFT ;35 DT
9 SHIFT ;10 DT
10 SHIFT;20 DT
+ Gọi kết quả : SHIFT S-SUM 2 = kết quả tổng số điểm là 800
+ SHIFT S-VAR 1 = kết quả điểm trung bình là 8
- Tính tổng số điểm ,và điềm trung bình bắn vào bia của xạ thủ II:
+ Gọi chương trình thống kê : MODE 2 (màn hình hiện chữ SD)
+ Nhập dữ liệu : 6 SHIFT ;10 DT
7 SHIFT ;10 DT
8 SHIFT ;30 DT
9 SHIFT ;20 DT
10 SHIFT ;30 DT
+ Gọi kết quả : SHIFT S-SUM 2 = kết quả tổng số điểm là 1650
+SHIFT S-VAR 1 = kết quả điểm trung bình là 8.25 Kết quả tính cho xạ thủ
thứ II là kết quả sai.Kết quả đúng là tổng điểm là 850 và điểm trung bình là 8.5
*Nguyên nhân : Do khi tính cho xạ thủ thứ hai ta quên một thao tác quan trọng
là xoá dữ liệu bài toán thống kê cũ trong bộ nhớ bằng cách : SHIFT CLR 1 =
AC Máy tính lấy cả dữ liệu của xạ thủ I cộng với dữ liệu của xạ thủ II để tính
tổng điểm, điểm trung bình cho xạ thủ II.
*Cách khác phục : Khi kết thúc mỗi bài toán thống kê ta phải xoá dữ liệu của
bài toán cũ trong bộ nhớ bằng cách ấn : SHIFT CLR 1 = AC sau đó mới nhập
dữ liệu cho bài toán thống kê mới thì mới có kết quả đúng .
Phần III : KẾT LUẬN
Vì tính năng của mỗi loại máy tính hiện có trên thị trường khác nhau, tuổi thọ
của mỗi thế hệ máy tính rất ngắn, khi chúng ta có đầy đủ tài liệu, cũng như
nắm vững các tính năng của máy tính và sử dụng chúng thành thạo thì máy
tính đó đã lạc hậu. Do đó các kinh nghiệm viết trên đây không thể áp dụng
cho các loại máy tính được, hoặc không thể áp dụng cho tất cả các thế hệ
máy tính được. Những kinh nghiệm trên chỉ có thể vận dụng cho loại máy tính