Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước trong công trình thuỷ lợi là một loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt,
Nhà nước đã giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý.
Là sản phẩm nên Nước cũng cần đảm bảo chất lượng như các loại sản
phẩm khác khi cấp cho các hộ tiêu dùng.
Để đảm bảo chất lượng nước phục vụ cho hộ tiêu dùng theo yêu cầu của
từng đối tượng sử dụng, và góp phần tăng cường công tác quản lý, Trường Đại
học Thuỷ lợi được Bộ giao thực hiện dự án “ Đo đạc khảo sát diễn biến, xác
định nguồn gây ô nhiễm chất lượng nước trong hệ thống công trình thuỷ lợi
phục vụ công tác quản lý”, tại Hệ thống thuỷ nông Bắc Nghệ An và hệ thống
thuỷ nông Nam Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng khu IV cũ, có truyền thống giàu lòng yêu
nước và tinh thần cách mạng, đất đai rộng lớn, tiềm năng phát triển kinh tế còn
nhiều. Nhưng Nghệ An cũng là một trong các tỉnh có khí hậu khắc nghiệt, sản
xuất gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.
Để đảm bảo tính vững chắc cho sản xuất nông nghiệp, công tác thuỷ lợi ở
Nghệ An đã sớm hình thành và phát triển. Từ những năm ba mươi của thế kỷ
trước, người Pháp đã cho đặt hệ thống trạm đo khí tượng thuỷ văn trên lưu vực
sông Cả, các công trình thuỷ lợi lớn đã được xây dựng tại đây là hệ thống tưới
Đô Lương và hệ thống tưới Nam Đàn.
Hệ thống thuỷ nông Bắc Nghệ An do Công ty khai thác công trình Thuỷ
lợi Bắc Nghệ An quản lý.
Vùng hưởng lợi của hệ thống thuỷ nông Bắc Nghệ An (Hệ thống tưới Đô
Lương) được giới hạn bởi những dãy núi ở phia Bắc và đê Sông Lam ở phía
Tây, Tây Nam; phía Bắc giáp lưu vực sông Hoàng Mai và Thanh Hoá, phía Tây
giáp Sông Cả và huyện Tân Kỳ, Anh Sơn, phía Nam giáp khu tưới Nam Hưng
Nghi, phía Đông giáp Biển Đông.
Trên khu vực hệ thống đi qua, toàn bộ chất thải sinh hoạt, chất thải của sản
thống thuỷ nông Bắc Nghệ An và hệ thống thuỷ nông Nam Nghệ An phục vụ
công tác quản lý.
Trường Đại học Thủy lợi 2
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
PHẦN II
THỰC HIỆN DỰ ÁN
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VÙNG DỰ ÁN
I - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1. Vị trí địa lý, diện tích, dân số
Nghệ An có vị trí địa lý:
- 18,35 đến 20
0
vĩ Bắc,
- 103,50 đến 105,50
0
kinh đông,
- Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá
- Phía Tây giáp nước Lào
- Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh,
- Phía Đông giáp với Biển Đông
Tỉnh Nghệ An có thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, 17 huyện với tổng diện
tích 1.849.300 km
2
, dân số tính đến năm 2003 là 2.977.300 người, mật độ dân số
vào loại thấp 180 người/km
2
, tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã, các thị trấn
đậu…
2.2 - Đặc điểm về thảm phủ thực vật - Quĩ đất
Rừng của tỉnh Nghệ An hầu hết nằm trong lưu vực Sông Cả, đa dạng và
phong phú, có nhiều loại gỗ quí hiếm như bách xanh, thông đỏ, trắc, gụ, giáng
hương, pơ mu…Nhiều loài chim thú hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam như
Sao La, Voi, Hổ Đông Dương….
Theo số liệu thống kê, năm 1999 độ che phủ của rừng ở Nghệ An là trên
35 %. Đến năm 2002, do có chính sách giao đất giao rừng, Chương trình trồng
mới 5 triệu ha rừng, và các Chương trình phát triển kinh tế miền núi đã có tác
động đến công tác trồng và bảo vệ rừng, độ che phủ rừng đã đạt 42,,67 %, trong
đó rừng tự nhiên chiếm 90 %. Vốn ngân sách Nhà nước do Trung ương quản lý
từ 1996-1999 cũng đã đầu tư 10.200 triệu đồng cho các dự án của Chương trình
773 góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Về đất đai, theo số liệu thống kê năm 2002, tổng diện tích đất của tỉnh
Nghệ An là 1649,3 ngàn ha, trong đó đất nông nghiệp 198,5 ngàn ha, đất lâm
nghiệp có rừng 703,7 ngàn ha ( rừng trồng 10,4 ngàn ha), đất chuyên dùng 61,3
ngàn ha, đất ở 15,1 ngàn ha, đất chưa sử dụng các loạị 670,7 ngàn ha, chiếm
40,66 % tổng diện tích đất đai toàn tỉnh
Trường Đại học Thủy lợi 4
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
3. Đặc điểm thời tiết khí hậu
Năm 2005, đặc điểm thời tiết khí hậu vùng Bắc Trung Bộ nói chung và
vùng Dự án nói riêng rất khắc nghiệt: nhiệt độ tăng cao, mưa ít, đến cuối
tháng 6 vẫn chưa có lũ tiểu mãn, mực nước Sông Lam thấp hơn trung
bình nhiều năm, mới tháng 2 tình hình hạn hán đã trở nên nghiêm trọng.
Một số số liệu về khí tượng thuỷ văn năm 2005 dưới đây đã cho thấy điều
nêu trên
Đặc trưng nhiệt độ tháng tại một số trạm (
0
C)
1
23,6
Năm
2005
Đô
Lương
TB
nhiều
năm
17,
3
17,
9
20,
6
24,
2
27,
5
28,
6
29,
1
27,
9
26,
4
24,
3
24,
4
21,
4
18,
5
23,8
Năm
2005
3.1 - Mưa: Theo tài liệu khí tượng thuỷ văn, lượng mưa hàng năm tương
đối thấp, bình quân 1.400-2.500 mm/năm. Lượng mưa lớn nhất tập trung vào
tháng 9 và 10, chiếm tới 40 % -50 % tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa nhỏ
nhất thường vào tháng 2 tháng 3, chỉ chiếm 15-20% lượng mưa cả năm. Các
trung tâm mưa lớn là thượng nguồn Sông Hiếu, lưu vực Sông Giăng (2.000-
2.400mm/năm), trung tâm mưa nhỏ là Cửa Rào, Mường Xén, chỉ đạt 1.100-
1.400mm/năm; thành phố Vinh có lượng mưa trung bình, năm 2003, 2004 đều ít
mưa. Tại trạm khí tượng thuỷ văn Vinh, lượng mưa năm 2003 đo được 1610
mm/năm/ năm 2004 là 1611 mm/năm.
Trường Đại học Thủy lợi 5
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Lượng mưa tháng, năm (mm) trung bình nhiều năm
tại một số trạm ( Năm 2005 so với trung bình nhiều năm)
Trạm Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
M.g
Xén
TB
nhiều
năm
6,7 6,2 27,0 75,3 139,5 158,8 150,1 217,2 195,2 121,2 22,7 6,4 1126
khí bình quân từ 82 %-85 %, tháng 1 có độ ẩm cao nhất 95 %, thấp nhất là
tháng 7 chỉ còn 36-38 %. Năm 2003, 2004 không theo qui luật trên, độ ẩm
không khí đo tại trạm Vinh tháng 1 90-91 %, tháng 7 70-75 %
3.3 - Bức xạ và bốc thoát hơi nước: Theo tài liệu đo đạc của các trạm khí
tượng, số giờ nắng trung bình năm từ 1.500-1.800 giờ, lượng bức xạ nhiệt tổng
đạt bình quân 120-150 Kcal/cm
2
năm, lượng bốc thoát hơi nước trên 950 mm,
tập trung vào các tháng 5,6,7,8, chiếm gần 60 % lượng bốc hơi cả năm, nhất là
các tháng có gió Lào.
Lượng bốc hơi bình quân tháng tại một số trạm (mm)
Trường Đại học Thủy lợi 6
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
TT
Tháng
Trạm
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
1
Cửa
Rào
59,0 62,4 81,3 93,2 105 89,2 96,9 71,6 55,9 51,6 45,7 55,2 857
2
Đô
Lương
40,0 33,3 40,2 53,0 83,8 109 129 83,9 55,0 54,6 50,0 51,1 789
3
Vinh
39,4 28,9 35,5 54,1 110 155 180 121 65,6 59,9 54,7 50,5 954
Số giờ nắng trung bình tháng tại một số trạm
Trạm Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trường Đại học Thủy lợi 7
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
4. Đặc điểm về thuỷ văn
Diện tích tỉnh Nghệ An hầu hết nằm trong lưu vực Sông Cả. đặc điểm
thuỷ văn tỉnh Nghệ An phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm thuỷ văn lưu vực Sông
Cả.
4.1 - Đặc điểm về lưu lượng: Lưu vực Sông cả có lượng chảy khá dồi dào
nhưng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Mô duyn dòng chảy
trung bình năm vùng thượng nguồn Sông Cả đạt 20 l/s.km
2
, vùng trung lưu đạt
25 l/s.km
2
, vùng hạ lưu đạt 25-30 l/s.km
2
.
Sông Cả có nhiều nhánh, địa hình lại chia cắt và phức tạp, chế độ thuỷ văn
của các sông nhánh khác nhau, mùa mưa trên mỗi sông nhánh chỉ 3-4 tháng và
xảy ra trong khoảng thời gian khác nhau. Trong mùa lũ, mỗi con lũ chỉ kéo dài
khoảng 3-4 ngày, nhưng do mùa lũ trên sông nhánh lệch nhau làm cho mùa lũ
dòng chính Sông Cả phía hạ du kéo dài từ tháng 6 đến tháng 12, và thời gian lũ
kéo dài từ 12-15 ngày gây hậu quả lũ lụt cho phía hạ du.
Tổng lượng dòng chẩy trên Sông Cả khoảng 21-24.10
9
m
3
/năm, tập trung
vào mùa mưa tới trên 80 % nên về mùa khô vẫn rất thiếu nước. Mùa kiệt bắt
đầu từ tháng 1 và kết thúc vào cuối tháng 8, và dòng chảy kiệt phân bố rất không
đều nhau, và lệch pha về thời gian và không gian nên cũng có tác dụng giảm
Trường Đại học Thủy lợi 8
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Lưu lượng kiệt nhất đo tại một số trạm
Trạm Flv
Thời kỳ tháng 3-4
Thời kỳ tháng 6-7
( km
2
)
Q
(m
3
/s)
M
(l/s.km
2
)
Ngày Q (m
3
/s)
M
(l/s.km
2
)
Ngày
Mường Xén 2620 9,7 3,7 20/4/1980
Năm 2005
Cửa Rào 12800 45,2 3,5 12/5/1965
Dừa 20800 64 3,0 13/3/1980
Yên Thượng 23000 61,4 2,7 61,4 2,7 14/9/1977
Cơ cấu ngành Năm 1996 Năm 2000 Năm 2002
Kinh tế chung (%) 100 100 100
Nông lâm thuỷ sản 47,96 44,3 41,2
Công nghiệp-xây dựng 14,32 18,6 19,6
Dịch vụ 37,99 37,1 39,2
Tốc độ tăng trởng GDP 6,79 6,32 8,25
Cơ cấu kinh tế trên đây phản ảnh rõ nét nền kinh tế của Nghệ An vẫn là
Nông-Lâm-Thuỷ sản; công nghiệp phát triển với tốc độ tương đối cao, xu thế cơ
cấu kinh tế giảm ở khu vực Nông-Lâm nghiệp và tăng ở khu vực công nghiệp
dịch vụ, nhưng còn thấp so với toàn quốc.
1. Về sản xuất Nông nghiệp:
Theo số liệu thống kê, diện tích cây lương thực có hạt của Nghệ An từ năm
2000 đến nay tăng không đáng kể, mức tăng bình quân vào loại thấp , nhưng sản
lượng đạt mức tăng cao hơn so với mức tăng chung của cả nước.
Diện tích cây lương thực có hạt năm 2004 tăng 4,6 %, sản lượng tăng 16,3
% so năm 2003; diện tích lúa cả năm của tỉnh Nghệ An từ 2000 đến nay tăng ít
(8,2 %), nhưng sản lượng tăng cao (30,06 %) do tăng năng suất, ngoài các yếu
tố về giống, về các biện pháp kỹ thuật thuỷ lợi chắc chắn đã đóng góp một
phần quan trọng trong kết quả này.
Mô hình kinh tế trang trại hình thành và phát triển, với loại hình sản xuất đa
dạng và phong phú (trang trại trồng cây lâu năm, trồng cây hàng năm, chăn nuôi,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản ) đã góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư vào
sản xuất nông nghiệp và nâng cao mức sống người dân.
Diện tích và sản lượng cây lương thực có hạt
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004
Trường Đại học Thủy lợi 10
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Diện tích ( nghìn ha):
- Cả nước
nhiều hơn, chỉ bằng 92,6 % năm 2000.
Diện tích rừng trồng tập trung
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 ước 2004
Diện tích ( nghìn ha):
- Cả nước
- Nghệ An
196,4
10,9
190,8
10,5
198
10,4
192
9,2
194,3
10,1
3. Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Trong cơ cấu kinh tế, giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
của tỉnh Nghệ An có mức tăng trưởng cao cả về công nghiệp do Trung ương và
do địa phương quản lý. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2003, chỉ số
giá trị sản xuất công nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý tăng 19 %, chỉ số
giá trị sản xuất công nghiệp địa phương tăng 15,3 %, chỉ số giá trị sản xuất
công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12,7 % (theo giá so sánh năm 1994), công
nghiệp Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế, đã bước đầu
hình thành các cụm công nghiệp tập trung như:
- Cụm công nghiệp Hoàng Mai sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng
- Cụm công nghiệp Đô Lương gồm chế biến gỗ, cơ khí, sản xuất công cụ
máy móc nông nghiệp và cơ khí quốc phòng,
- Khai thác quặng thiếc ở Quế Phong, Quỳ Hợp, khai thác đá quí ở Quỳ
Châu
tính đến thời điểm 30/9/2003, bình quân mỗi xã có 1,5 trờng tiểu học, 1 trường
trung học cơ sở; 5 xã có 1 trường trung học phổ thông, tập trung ở các xã và
huyện vùng trung du và đồng bằng, chưa phát triển đồng đều ở các huyện vùng
cao; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông năm học 2002-2003 97,33 %, cao hơn
bình quân trong cả nước (92,13 % ), toàn tỉnh đã hoàn thành phổ cập tiểu học.
Mạng lới y tế chăm sóc sức khoẻ người dân được quan tâm, theo số liệu
thống kê, bình quân trên 10.000 dân có 3 bác sĩ, 5 y sĩ và 8 y tá, tuy nhiên vùng
sâu vùng xa vẫn tồn tại bệnh sốt rét, nếu không được kiểm soát thường xuyên,
sẽ có nguy cơ phát thành dịch.
Trường Đại học Thủy lợi 12
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Mức sống ở các vùng nông thôn cũng được nâng cao, 86 % số xã đã có
điện (371/431 xã ), cuộc sống sinh hoạt và tinh thần của nhân dân được nâng
cao, số hộ đói nghèo đã giảm từ 160.000 hộ vào năm 1998, xuống còn 87.599
hộ vào năm 2000, đưa tỷ lệ hộ đói nghèo từ 27,83 % (1998) xuống còn 13,97
% vào năm 2000.
Lực lượng lao động của tỉnh Nghệ An khá dồi dào, trong tổng số
2.597.000 người ở khu vực nông thôn thì số người ở độ tuổi lao động (>15 tuổi
đến 44 tuổi) chiếm 82 % (2.137.220 người ), đó là nguồn lực to lớn và quí giá
cho phát triển kinh tế xã hội.
Trường Đại học Thủy lợi 13
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
CHƯƠNG II
SỰ PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI
Là một trong những tỉnh có khí hậu khắc nghiệt, kinh tế của tỉnh Nghệ An
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, từ thời Pháp, công tác thuỷ lợi ở Nghệ An sớm
được hình thành và phát triển, có thể tạm chia ra các thời kỳ như sau:
1- Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám
Ngân sách Nhà nước do Trung ương quản lý cũng đã đầu tư > 235 tỷ
đồng, cùng với nguồn thu thuỷ lợi phí, thuế nông nghiệp và dân đóng góp >330
tỷ đồng để kiên cố hoá hơn 2 triệu 600 ngàn km kênh mương các hệ thống thuỷ
nông Bắc và Nam Nghệ An, hệ thống thuỷ nông Kim Liên, nâng cấp hệ thống
trạm bơm Tả Thanh Chương , nhiều công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ được xây
dựng, tăng diện tích được chủ động tưới tiêu, góp phần nâng cao năng xuất và
sản lượng sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Đặc biệt, bằng nguồn
vốn vay ADB và WB, từ 1994-2002, Nhà nước đx đầu tư trên 550 tỷ đồng sửa
chữa, nâng cấp hai hệ thống thuỷ nông Bắc và Nam Nghệ An, bảo năng lực thiết
kế của Hệ thống Bắc và tăng thêm diện tưới cho hệ thống Nam Nghệ An 6.000
ha
4 - Hiện trạng thuỷ lợi
Tỉnh Nghệ An nằm trong lưu vực Sông Cả và một phần thuộc lưu vực
Sông Hiếu. Theo tài liệu Qui hoạch thuỷ lợi, hiện trạng thuỷ lợi Nghệ An có thể
chia theo vùng lưu vực như sau :
Vùng lưu vực Sông Hiếu
Bao gồm các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân
Kỳ. Phía Bắc giáp lưu vực Sông Chu và Lào, Tây giáp lưu vực Sông Cả, Đông
và Nam giáp lưu vực Sông Bùng. Toàn bộ vùng này dựa vào nguồn nước Sông
Hiếu để phát triển sản xuất và sinh hoạt. Công trình thuỷ lợi vùng này rất đa
dạng và có tính độc lập cao. Tính đến 2003, toàn bộ vùng đã xây dựng được 146
hồ chứa và đập dâng, 16 trạm bơm điện lấy nước dọc sông Hiếu tới cho 24,7 %
tổng diện tích canh tác; hiệu quả công trình cũng chỉ đạt trên 52 % do thiếu
nguồn và công trình xuống cấp.
Vùng lưu vực Sông Cả
Rộng lớn, bao gồm các tiểu vùng Thượng Sông Cả gồm các huyện Kỳ
Sơn,Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn có nguồn nước dồi dào nhất, nhưng ít
công trình (10 trạm bơm điện tập trung ở huyện Anh Sơn, 57 hồ chứa có qui mô
tưới <100 ha) và diện tích tưới chỉ chiếm trên 40 % diện tích canh tác. Tiểu
vùng Trung Sông Cả (huyện Thanh Chương) được hệ thống hồ chứa và trạm
- Hồ chứa nước Khe Đá: dung tích hữu ích 16,6 triệu m
3
có nhiệm vụ cấp
nước tới cho trên 725 ha đất canh tác, cấp nước sinh hoạt và nuôi trồng thuỷ sản
cho huyện Tân Kỳ.
Và quan trọng hơn cả là hai hệ thống thuỷ nông Bắc Nghệ An và hệ thống
thuỷ nông Nam Nghệ An
HỆ THỐNG THUỶ NÔNG BẮC NGHỆ AN
Hệ thống thuỷ nông Bắc Nghệ An (Hệ thống tưới Đô Lương) được người
Pháp xây dựng từ năm 1933 đến năm 1936 là hệ thống tưới tiêu kết hợp. Theo
thiết kế, đập chắn nước ngang Sông Cả tại Đô Lương với mức nước dâng 9,95 m
đưa nước qua cống Mụ Bà vào kênh chính, chuyển nước từ Sông Cả sang lưu
vực Sông Bùng với lưu lượng thiết kế lấy vào kênh là 33,6 m
3
/s , cung cấp nước
tưới và tiêu thoát lũ cho 29.147 ha đất nông nghiệp thuộc 4 huyện Đô Lương,
Trường Đại học Thủy lợi 16
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu (tưới tự chảy 22.461 ha, tưới bằng bơm
6.686 ha), cấp nước sinh hoạt cho các huyện trên. Về tiêu, nước lũ sẽ theo các
kênh tập trung vào kênh tiêu Vách Bắc và thoát vào Sông Bùng qua cống tiêu
Bầu Rú.
Công trình đầu mối gồm
- Đập Đô Lương có 12 khoang và 1 cửa xả cát. Chiều rộng mỗi khoang 23
m. Khoang số 12 là đập tràn cố định bằng bê tông, 11 khoang còn lại có cửa tự
động bằng thép. Về mùa cạn, cửa đập kéo lên cao độ +9,95 để đa nước vào
kênh. Mùa lũ cửa sập xuống cao độ 9,05 để tháo lũ.
- Cống xả cát đặt ở bờ trái đập, gồm 1 cửa tự động bằng thép, chiều rộng
21 m. Mùa cạn, cửa nâng lên để giữ nước, mùa lũ, cửa sập xuống để xả cát và
kết hợp xả lũ.
Trên kênh cấp II có khoảng 540 công trình, kênh cấp III có tổng chiều dài
khoảng 110 km và 560 công trìnhảtên kênh các loại, đảm bảo việc cấp nước và
giao thông thuỷ trong vùng có công trình.
Công trình tiêu
Về mùa lũ, nước được tập trung vào hệ thống kênh nhánh đổ vào kênh
chính qua 9 cống tiêu là Vũng Bùn, Lý Thành, Trụ Thạch, Trung Thành, Bắc
Thành, Mô Hóp, Xuân Thành, Cửa Chùa và Yên Lý. Nước lũ được tiêu thoát
qua hệ thống kênh nhánh và đổ vào kênh chính, tiêu thoát ra sông Bùng tại
Đông Hà qua cống tiêu Bầu Rú.
HỆ THỐNG THUỶ NÔNG NAM NGHỆ AN
Hệ thống thuỷ nông Nam Nghệ An do Công ty khai thác công trình Thuỷ
lợi Nam Nghệ An quản lý.
Vị trí địa lý
Hệ thống thuỷ nông Nam Nghệ An ( Hệ thống tưới Nam Đàn) nằm ở phía
Đông Nam của tỉnh Nghệ An, bao gồm các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên,
Nghi Lộc, T.P Vinh và thị xã Cửa Lò, được bao bọc bởi 2 con sông: Sông Cam
ở phía Bắc và Sông Cả ở phía Nam.
- Phía Bắc giáp huyện Diễn Châu và Yên Thành,
- Phía Nam giáp Sông Lam ( Sông Cả),
- Phía Tây giáp vùng đồi núi của 2 huyện thanh Chương và Đô Lương
- Phía Đông giáp Biển Đông
Tổng diện tích tự nhiên: 672 km2, trong đó vùng đồi núi 177 km2, vùng
đồng cao và đồng bằng 495 km2
Nhiệm vụ công trình :
Là hệ thống tưới tiêu kết hợp, Công trình thuỷ nông Nam Nghệ An được
Pháp xây dựng từ năm 1936-1941, lấy nước từ sông Lam qua cống Nam Đàn.
Theo thiết kế, hệ thống cung cấp nước tưới và tiêu thoát lũ cho khoảng 35.000
Trường Đại học Thủy lợi 18
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
ha đất canh tác của 3 huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, thành phố Vinh
Trường Đại học Thủy lợi 19
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Các công trình trên kênh: Có khoảng 300 cống tưới và 20 cống tiêu, 19
cầu máng và 8 xi phông, 114 trạm bơm, đảm bảo việc tưới tiêu và các hoạt động
khác trong hệ thống, trong đó có 2 trạm bơm lớn mới được xây dựng thời kỳ
1995-2000 là Trạm bơm Thọ Sơn và trạm bơm Hưng Đông.
Công trình tiêu
- Công trình tiêu úng, ngăn lũ: Các công trình tiêu gồm có Cống đầu mối
Bến Thuỷ, 6 cống tiêu trên kênh chính là Nghi Quang, Thượng Xá, Nghi Khánh,
Bến Thuỷ, 3A, 3B và các trạm bơm tiêu Hưng Châu, Hưng Lợi.
Về mùa mưa, nước trong khu hưởng lợi hầu hết tập trung vào các kênh
dẫn trên đổ ra biển theo 2 cửa là cống Bến Thuỷ và Cửa Lò. Khi mực nước
trong sông Lam cao hơn trong đồng thì cống Bến Thuỷ đóng lại, lúc này toàn
bộ lượng nước tiêu dồn qua kênh Gai và sông Cấm rồi đổ ra biển tại Cửa Lò;
một phần diện tích phía Đông đường 1A thuộc Nghi Lộc, Bắc T.P Vinh và thị
xã Cửa Lò tiêu ra cửa Nghi Khánh, Thượng Xá(sông Cấm), cửa Rào Đừng,
Hói Cống (sông Lam)
- Cống Bến Thuỷ: được Pháp xây dựng năm 1936-1941, là công trình đầu
mối chủ yếu, có tác dụng tiêu lũ, ngăn mặn, giữ ngọt và giao thông thuỷ. Cống
bằng bê tông cốt thép có:
- Tám cả quay biên rộng 4 mét : Bc = 32 mét
- Một cửa van cung : B = 5 mét
- Âu thuyền : B = 5 mét
- Cao trình đáy cống : - 2,5 mét
- Cao trình đỉnh cống : + 5,54 mét
- Lưu lượng tiêu : Qmax= 256 m3/s
Công tác thuỷ lợi của tỉnh Nghệ An, qua nhiều thời kỳ đều được quan
tâm xây dựng, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất. Trong xu thế
chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, giảm diện tích trồng trọt, nhất là diện
tích trồng lúa, tăng diện tích nuôi thuỷ sản và các ngành sản xuất khác, chuyển
Đợt khảo sát này có thể xem xét mức độ ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh
hoạt và rửa trôi đồng ruộng trong đầu mùa lũ.
Thời gian khảo sát trong tháng được định theo sự thông báo về tình hình
nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước và tình hình vận hành hệ thống của ban
Giám đốc các Công ty Quản lý công trình thuỷ lợi Bắc và Nam Nghệ An
Trong các đợt khảo sát chi tiết, các mẫu nước được lấy sâu 0,5 mét, xa bờ
1 mét, được sử lý bằng hoá chất và chuyển về phòng thí nghiệm trong thời gian
qui định. Một số chỉ tiêu chất lượng nước được đo đạc ngay tại hiện trường như
độ dẫn điện, nhiệt độ, DO….
Căn cứ vào vị trí lấy mẫu và kết quả thí nghiệm mẫu năm 2004, trong
đợt khảo sát thực địa năm 2005, Dự án đã tiến hành điều chỉnh một số vị trí lấy
Trường Đại học Thủy lợi 21
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
mẫu, chỉ điều chỉnh một số điểm trên cơ sở chọn nơi có mặt cắt kênh rộng hơn,
vận tốc nhỏ hơn vị trí cũ một chút, tạo điều kiện lắng đọng cục bộ, dễ thu được
các thông số ô nhiễm; hoặc vị trí mới gần nguồn gây ô nhiễm hơn để kiểm soát
nguồn và mức độ gây ô nhiễm. Các vị trí được điều chỉnh là B4, B8 trên Hệ
thống thuỷ nông Bắc Nghệ An, K3, K9 ở Hệ thống thuỷ nông Nam Nghệ An. Lý
do điều chỉnh của từng vị trí được thuyết minh trong Báo cáo khảo sát thực địa.
Vị trí lấy mẫu nước
TT Vị trí
Ký
hiệu Ghi chú
I Hệ thống Thuỷ nông Bắc Nghệ An
1 Trước cống Mụ Bà B1 Khống chế CLN vào hệ thống
2 Trên kênh chính B2 Khống chế nước thải sau thị trấn Đô Lương
3 Đầu kênh Vân Tràng
B3 Khống chế CLN cấp nước cho khu canh tác
có diện tích > 550 ha
4
Trên kênh chính sau
ngã ba Yên Lý
B13 Cấp nước cho kênh N22, khu canh tác có
diện tích >550 ha
14 Trên kênh chính N 26
B14 Khống chế nước thải khu dân cư huyện
Quỳnh Lưu
15
Trên kênh N17 đi
Quỳnh Văn
B 15 Khống chế CLN trước cấp nước cho khu
canh tác có diện tích >550 ha
II
Hệ thống thuỷ nông Nam Nghệ An
Trường Đại học Thủy lợi 22
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
1
Cửa lấy nước trước
cống Nam Đàn
K1 Khống chế CLN vào hệ thống
2 Trên kênh chính K2 Khống chế CLN thải từ thị trấn Nam Đàn
3 Trên kênh chính
K3 Khống chế CLN cấp cho khu SX và thị trấn
Hưng Nguyên
4
Cuối kênh thải khu
Hưng Nguyên (Cầu
Bùng)
K4 Khống chế CLN thải sau thị trấn Hưng
Nguyên
Chợ Cầu)
K12 Kiểm tra CLN thải sinh hoạt trên kênh chính
trước khi đổ vào S. Cam
13 Cống Nghi Quang
K13 Kiểm tra CLN cấp cho sinh hoạt và sản xuất
thị xã Cửa Lò
14 Kênh xả thị xã Cửa Lò K14 Kiểm tra CLN thải thị xã Cửa Lò
Tổng số : 29 vị trí lấy mẫu nước, tổng số mẫu thí nghiệm 348 mẫu
- Thí nghiệm chỉ tiêu hoá lý thông thường : 29 mẫu/đợt x 4 đợt =116 mẫu
- Thí nghiệm các chỉ tiêu vi sinh 116 mẫu
- Thí nghiệm các chỉ tiêu kim loại nặng 116 mẫu
Trường Đại học Thủy lợi 23
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Chỉ tiêu phân tích chất lượng nước
Chỉ tiêu hoá lý toàn phần
1. Độ pH
2. Độ dẫn điện (EC)
3. Tổng chất rắn hoà
tan(TSS)
4. BOD
5. DO
6. COD
7. Nat ri
8. Canci (Ca)
9. Magie (Mg)
10. Sắt (Fe) tổng số
11. Sulfate
12. Chloride
13. Ammonium
14 . Nitrite
Tại hệ thống Bắc Nghệ An, nhiệt độ của nước tại các điểm lấy mẫu dao
động từ 30
0
C dến 31,9
0
C vào tháng 5, 30,4 đến 31,3
0
C vào tháng 6.
Trường Đại học Thủy lợi 24
Khảo sát diễn biến CLN – công trình TL Nghệ An
Tại Hệ thống thuỷ nông Nam Nghệ An, nhiệt độ của nước dao động từ
21,5 đến 23,5
0
C trong đợt I và II. Trong đợt III, từ 28,6 đến 32,6
o
C, và đợt
IV, tuy đo trong ngày có gió Đông-Nam mạnh, thời tiết dễ chịu hơn, nhưng
nhiệt độ vẫn cao, từ 29,7 đến 32,9
o
C.
Nhiệt độ không khí trong đợt III và IV (cuối mùa xuân và đầu mùa hè)
đã ở mức 35-36
o
C kèm theo gió Lào khô nóng, thể hiện tính khốc liệt của thời
tiết khí hậu đã xẩy ra ngay từ cuối vụ xuân.
Qua 4 đợt lhảo sát, Dự án có nhận xét nhiệt độ của nước trong hệ thống
thuỷ nông Bắc Nghệ An và Nam Nghệ An chưa bị ảnh hưởng của các hoạt
động sản xuất công nghiệp như nước thải của nhà máy nhiệt điện, đốt nóng các
vật liệu ven bờ sông mà nhiệt đọ của nước thay đổi theo nhiệt độ không khí,
thể hiện như bảng sau: