NỘI THÔNG KHÍ QUẢN VÀ XỬ LÝ ĐƯỜNG HÔ HẤP - Phần 1 - Pdf 18

NỘI THÔNG KHÍ QUẢN VÀ XỬ LÝ ĐƯỜNG
HÔ HẤP
Phần 1
(TRACHEAL INTUBATION AND AIRWAY
MANAGEMENT)

1/ĐƯỜNG DẪN KHÍ (AIRWAY) LÀ GÌ ?
Đường dẫn khí (airway) là ống dẫn qua đó không khí và oxy phải đi
qua trước khi vào tới phổi. Đường dẫn khí bao gồm những cấu trúc cơ thể
học đi từ mũi và miệng đến thanh quản và khí quản.
2/ XỬ LÝ ĐƯỜNG DẪN KHÍ (AIRWAY MANAGEMENT) LÀ
GÌ ?
Xử lý đường dẫn khí (airway management) là đảm bảo rằng đường
dẫn khí vẫn thông thương. Đó là giai đoạn đầu tiên trong ABC của hồi sức
cơ bản : B = breathing (hô hấp), C = circulation (tuần hoàn).
3/ TẠI SAO XỬ LÝ ĐƯỜNG DẪN KHÍ ĐI TRƯỚC XỬ LÝ HÔ
HẤP (BREATHING) VÀ TUẦN HOÀN (CIRCULATION) ?
Nếu đường dẫn khí (airway) hoàn toàn bị tắc, không có oxy nào có thể
đi đến phổi và không có CO nào có thể rời khỏi phổi. Nếu oxy không đi đến
phổi, tim và tuần hoàn sẽ không có oxy để phân bố cho các cơ quan sinh tử
của cơ thể.
4/ KỂ CÁC CÁCH XỬ LÝ ĐƯỜNG DẪN KHÍ ?
Đường dẫn khí (airway) có thể vẫn thông suốt mà không cần bất cứ
can thiệp nào và có thể được xử lý với nội thông khí quản (tracheal
intubation) hay không. Xử lý đường dẫn khí (airway management) không
nội thông khí quản có thể bao gồm một số thao tác. Nơi những bệnh nhân
hôn mê, lưỡi thường làm tắc đường dẫn khí. Những thao tác mở đường dẫn
khí gồm có thao tác nghiêng đầu-nâng cằm lên (head tilt/chin lift maneuver).
Đặt những canun miệng hay mũi (oral or nasal airway) cũng có thể giúp giữ
đường dẫn khí thông suốt. Sự sử dụng mặt nạ mặt (face mask) với thiết bị
túi-van (ambu-bag) là bước tiếp theo trong việc xử lý đường dẫn khí. Nơi đa

giảm thông khí (hypoventilation), pC02 dần dần tăng cao, làm hạ pH của
máu (nhiễm toan hô hấp).Với nồng độ C02 tăng cao dần, bệnh nhân cuối
cùng bị hôn mê (CO2 narcosis). pH toàn thể thấp có thể được liên kết với
tính kích thích và co bóp bất thường của cơ tim. Nếu những biến cố này xảy
ra, bệnh nhân có thể cần phải được nội thông khí quản và thông khí cơ học.
Sự thông khí hỗ trợ (assisted ventilation) cũng có thể được thực hiện mà
không cần nội thông khí quản, nhưng trong hầu hết các bệnh nhân, mục đích
này dễ đạt được hơn với nội thông khí quản. Mức độ chính xác của pH hay
pC02 đòi hỏi thông khí hỗ trợ, phải được xác định đối với mỗi bệnh nhân.
Những yếu tố quan trọng gồm có nguyên nhân của sự giảm thông khí và tính
mãn tính của nó. Nhiễm toan hô hấp mãn tính (ví dụ nơi một bệnh nhân với
bệnh phổi tắc mãn tính) thường được dung nạp tốt hơn so với nhiễm toan hô
hấp cấp tính. Thiếu máu cục bộ cơ tim, suy tim sung huyết, và gia tăng áp
lực nội sọ là vài yếu tố làm dễ sự sử dụng thông khí cơ học sớm hơn.
4. Gia tăng công hô hấp. Bình thường các cơ hô hấp đảm trách dưới
5% sự tiêu thụ oxy toàn cơ thể. Nơi những bệnh nhân với suy hô hấp, điều
này có thể gia tăng lên đến 40%. Có thể khó đánh giá công hô hấp bằng
thăm khám lâm sàng.Tuy nhiên những bệnh nhân có hơi thở nhanh và nông,
sự sử dụng các cơ phụ hô hấp, hay hô hấp nghịch lý, ta có thể tiên đoán một
công hô hấp cao. Khí huyết động mạch (pH, pC02, và p02) có thể bình
thường nơi những bệnh nhân như thế. Nhiên hậu, các cơ hô hấp mệt và suy,
gây nên sự hấp thu oxy và thông khí không thích đáng. Nội thông khí quản
và thông khí cơ học là cần thiết để làm giảm công hô hấp. Thông khí cơ học
đôi khi có thể thực hiện mà không cần nội thông khí quản, nhưng đáng tin
cậy hơn nếu được thực hiện với nội thông.
5. Bảo vệ đường dẫn khí. Nơi bệnh nhân thức tỉnh, các phản xạ bảo vệ
của đường dẫn khí bình thường ngăn ngừa hít dịch dạ dày vào phổi. Những
bệnh nhân với trạng thái tâm thần bị biến đổi do một số nguyên nhân có thể
mất những phản xạ bảo vệ này. Việc mất các phản xạ bảo vệ đường dẫn khí
khiến họ có nguy cơ cao bị viêm phổi do hít dịch (aspirartion pneumonia),

Nội thông mù cũng có thể được thực hiện bằng thông “ngược” (rétrograde)
trong đó một dây dẫn (guide) được đưa xuyên qua màng nhẫn-giáp
(cricothyroid membrane) và đi xuyên qua miệng. Dây dẫn (guide) này sau
đó được sử dụng như là một vật chỉ đường để đưa ống nội thông khí quản
vào khí quản.
9/ NHỮNG THUỐC NÀO CÓ THỂ ĐƯỢC CHO ĐỂ LÀM DỄ
NỘI THÔNG KHÍ QUẢN ?
Khi sử dụng soi thanh quản trực tiếp (direct laryngoscopy), hai loại
thuốc có thể được cho để làm dễ sự nội thông khí quản : các thuốc an thần
(sedatives) hay thuốc giảm đau (analgesics) và các thuốc giãn cơ (muscle
relaxants). Các thuốc an thần và giảm đau được cho để làm giảm đau do soi
thanh quản và làm cùn phản ứng huyết động. Các thuốc giãn cơ có thể làm
cho soi thanh quản trực tiếp dễ thực hiện hơn.
10/ NHỮNG NGUY CƠ LÚC SỬ DỤNG CÁC THUỐC NÀY ?
Những nguy cơ chính của những thuốc an thần và giảm đau trong
khung cảnh này là hạ huyết áp và giảm áp hô hấp. Các thuốc giãn cơ gây bại
liệt tất cả các cơ vân, kể cả các cơ hô hấp. Nếu không thông được khí quản,
bệnh nhân có thể không thở tự nhiên lại được nếu các thuốc an thần, các
thuốc giảm đau, hay các thuốc giãn cơ đã được cho. Những
bệnh nhân bệnh nặng dễ bị hạ huyết áp và giảm áp hô hấp
hơn do những thuốc này
11/ DỤNG CỤ NÀO NÊN ĐƯỢC SỬA SOẠN TRƯỚC KHI
THỰC HIỆN SOI THANH QUẢN TRỰC TIẾP ?
Trước khi thực hiện soi thanh quản (laryngoscopy), tất cả các dụng cụ
phải được kiểm tra. Những dụng cụ này gồm có lưỡi đèn soi thanh quản
(laryngoscope blades), cán đèn soi thanh quản (laryngoscope handles), máy
hút, nguồn oxy, ống hút (suction catheter), bóng tự thổi phồng (self-inflating
bag) hay vòng thở (breathing circuit), mặt nạ mặt (face mask), canun miệng
(oral airway), canun mũi (nasal airway), các thuốc an thần, các thuốc giãn cơ
(muscle relaxants), truyền tĩnh mạch, và máy theo dõi bệnh nhân.

Độ co giãn dưới hàm thích đáng (adequate submandibular
compliance). Với thủ thuật soi thanh quản, mô dưới hàm được xê dịch về
phía trước để bộc lộ thanh quản. Thuật ngữ độ co giãn (compliance) để chỉ
sự thay đổi thể tích đối với một sự thay đổi áp lực nào đó. Đèn soi thanh
quản được sử dụng để tạo áp lực và làm giảm thể tích mô cản không cho
nhìn thấy thanh quản. Nếu độ co giãn dưới hàm thấp (ví dụ cổ bị nhận phóng
xạ, áp xe dưới hàm), có thể không tạo đủ sức để bộc lộ thanh quản.
14/ “ ĐƯỜNG DẪN KHÍ KHÓ ” (DIFFICULT AIRWAY) LÀ GÌ
? MỘT SỰ NỘI THÔNG KHÓ (DIFFICULT INTUBATION) LÀ GÌ ?
Đường dẫn khí khó (a difficult airway) là một tình huống lâm sàng
trong đó thầy thuốc gây mê hoặc nhà lâm sàng chuyên khoa khác thấy khó
khăn trong việc thông khí với mặt nạ (mask ventilation) hay nội thông khí
quản (tracheal intubation). Nội thông khó (difficult intubation) có thể được
định nghĩa là sự nội thông cần hơn 3 lần soi thanh quản hay soi thanh quản
lâu hơn 10 phút. Mặc dầu định nghĩa độc đoán, việc không có khả năng duy
trì một đường dẫn khí thông suốt (có hay không có nội thông khí quản) có
thể được liên kết với thương tổn não bộ do thiếu oxy và tử vong.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status