Các bệnh lây qua đường sinh dục (SEXUALLY TRANSMTTED DISEASES) pot - Pdf 18


TRƯỜNG ……………………
KHOA……………………
[\[\

Các bệnh lây qua đường sinh dục

(SEXUALLY TRANSMTTED
DISEASES)

CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC
(SEXUALLY TRANSMTTED DISEASES) 1/ CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC
THÔNG THƯỜNG NHẤT
Tỷ lệ mắc bệnh thật sự của hầu hết các bệnh lây truyền bằng đường
sinh dục (sexually transmitted diseases) không được biết rõ bởi vì không
phải tất cả các trường hợp đều được báo cáo. Nhìn toàn bộ, người ta ước tính
rằng các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ảnh hưởng lên khoảng 12
triệu người ở Hoa Kỳ mỗi năm. Chlamydia được ước tính gây nhiễm trùng 4
triệu người mỗi năm và là một vấn đề y tế quan trọng đối với các phụ nữ trẻ
bởi vì các di chứng vô sinh và có thai ngoài tử cung. Vào năm 1996, có
498.884 trường hợp đã được báo cáo. Tỷ lệ mắc bệnh lậu (gonorrhea) đạt
cao điểm 1 triệu trường hợp mỗi năm trong những năm cuối 1970 nhưng

không phải là bệnh lây truyền bằng đường sinh dục) tạo nên một khí hư
trắng, như sữa đông (curdlike) dính vào thành âm đạo. Các hyphae hiện diện
trên các bệnh phẩm potassium hydroxide. Việc sử dụng kháng sinh gần đây
là một yếu tố nguy cơ cho bệnh nấm candida, cũng như đái đường và HIV.
Điều trị bằng fluconazole (Diflucan) với liều duy nhất và bằng đường miệng
hoặc bằng bất cứ thuốc nào thuộc loại imidazoles ( miconazole,
clotrimazole, terconazole, butoconazole ) dùng tại chỗ. Các bệnh nhân
thường tự điều trị lấy không cần toa, với thuốc chống nấm trước khi đến
khám phòng cấp cứu, không biết rằng nguyên nhân của khí hư là một nhiễm
trùng khác với nhiễm nấm.Viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis)
không phải là một bệnh lây bằng đường sinh dục nhưng là một biến đổi của
hệ sinh thái vi khuẩn (microbial ecosystem) với sự tăng trưởng nhanh chóng
của Gardnerella vaginalis và các loài khác. Chẩn đoán được thực hiện bằng
cách tìm các tế bào mối (clue cells) trên bệnh phẩm ướt, và điều trị với
metronidazole (Flagyl).
Viêm âm đạo do Trichomonas, nguyên nhân thông thường đứng hàng
thứ ba, là một bệnh lây truyền bằng đường sinh dục thật sự. Bệnh gây ra một
khí hư màu lục, sủi bọt (frothy) và cổ tử cung có thể đỏ (erythematous) và
bở (friable) ( strawberry cervix). Chẩn đoán căn cứ vào việc tìm thấy những
trichomonads di động trên bệnh phẩm ướt hay trong nước tiểu. Điều trị với
metronidazole. Một khí hư với số lượng bạch cầu đáng kể không bao gồm
nấm, các tế bào mối (clue cells) hay Trichomonads có thể là do viêm cổ tử
cung nhầy mủ (mucopurulent cervicitis).
3/ BỆNH TRICHOMONAS ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ NHƯ THẾ NÀO ?
Thuốc điều trị chuẩn của bệnh trichomonas là metronidazole (Flagyl),
2g bằng đường miệng với liều duy nhất. Có thể cho metronidazole 500mg, 2
lần mỗi ngày trong 7 ngày. Những cách điều trị này thường đưa đến tỷ lệ
chữa lành vượt quá 90%. Cần ghi nhận là metronidazole dưới dạng gel dùng
bằng đường âm đạo ít hiệu quả hơn nhiều ( <50% ) trong điều trị bệnh do
trichomonas, có lẽ là do thuốc dùng tại chỗ không có thể đạt được những

Metronidazole (Flagyl) , liều duy nhất 2g, bằng đường miệng (được
dung nạp tốt hơn nếu liều lượng được cho trong nhiều giờ) hoặc
Metronidazole, 375-500mg, 2 lần mỗi ngày trong 7 ngày bằng đường miệng
8/ VIÊM ÂM ĐẠO DO VI KHUẨN (BACTERIAL VAGINOSIS)
CÓ PHẢI LÀ MỘT BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC
KHÔNG ?
Nguyên nhân của viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis)
không hoàn toàn được biết rõ .Tính chất có thể lây truyền của khuẩn chí
(flora) đã được chứng minh bởi Gardener và Dukes vào năm 1955, nhưng rõ
ràng là việc hiện diện của khuẩn chí không thôi không đủ để gây triệu
chứng, bởi vì vi khuẩn gây bệnh ( một bộ phận của khuẩn chí âm đạo bình
thường), thường chỉ hiện diện với số lượng thấp. Các phụ nữ không bao giờ
có quan hệ sinh dục hiếm khi bị bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial
vaginosis), và có một mối liên hệ giữa bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn và
một tiền sử có nhiều người bạn tình phối ngẫu.Tuồng như cũng có một liên
hệ vững chắc giữa các báo cáo về một người bạn tình phối ngẫu mới và sự
phát triển bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn.Tuy nhiên đây chỉ là những mối
liên hệ. Hầu hết cac nhà thẩm quyền tin rằng căn bệnh được phát sinh bởi
nhiều yếu tố chứ không phải chỉ đặc biệt là do lây truyền bằng đường sinh
dục.
9/ MỘT KHI VIÊM ÂM ĐẠO DO VI KHUẨN (BACTERIAL
VAGINOSIS) ĐÃ ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN, CÓ CẦN ĐIỀU TRỊ NGƯỜI
BẠN TÌNH PHỐI NGẪU KHÔNG ?
Đôi khi có thể thử điếu trị người bạn phối ngẫu trong những trường
hợp viêm âm đạo do vi khuẩn (bacterial vaginosis) dai dẳng khó chữa.Tuy
nhiên chiến lược này đã không chứng tỏ là cải thiện tỷ lệ chữa lành bệnh
hoặc làm giảm tỷ lệ bệnh tái hồi. Điều trị thường quy các bạn tình phối ngẫu
do đó không được khuyên thực hiện.
10/ MỘT THANH NIÊN TRONG THỜI KỲ HOẠT ĐỘNG SINH
DỤC VÀ BỊ KHÓ TIỂU. TRIỆU CHỨNG NÀY CÓ THỂ LÀ DO

- Chlamydia trachomatis là nguyên nhân của :
- hầu hết các viêm niệu đạo ở đàn ông và các viêm cổ tử cung của phụ
nữ, các viêm kết mạc có thể vùi (conjonctivites à inclusions) (sérotypes D và
K)
- bệnh viêm hạch bạch huyết hoa liễu (lymphogranulomatose
vénérienne) (sérotypes L1 và L3
- bệnh mắt hột (trachome) (sérotypes A và C)
- Chlamydia pneumoniae là nguyên nhân của viêm phổi không điển
hình
(pneumopathies atypiques).
- Chlamydia psittaci là nguyên nhân của bệnh vẹt (psittacosis)
15/ NHỮNG TRIỆU CHỨNG THƯỜNG THẤY NHẤT CỦA
NHIỄM TRÙNG BỞI CHLAMYDIA TRACHOMATIS NƠI PHỤ NỮ
?
- nhiễm trùng thường không có triệu chứng.
- đôi khi có thể nhận thấy :
- khí hư không nhiều, ít hôi thối, nhầy mủ (mucopurulent) hoặc lẫn
máu.
- triệu chứng viêm bàng quang (tiểu khó, tiểu nhiều) có nước tiểu
trong với tiểu bạch cầu (leucocyturie).
- cổ tử cung thường xuất huyết
16/ NHỮNG BIẾN CHỨNG THƯỜNG THẤY NHẤT CỦA
NHIỄM TRÙNG BỞI CHLAMYDIA TRACHOMATIS NƠI PHỤ NỮ
?
- viêm noãn quản (salpingite) với các nguy cơ thứ phát :
- vô sinh do noãn quản (stérilité tubaire)
- có thai ngoài tử cung
- bệnh viêm vùng chậu mãn tính
- hội chứng Fitz-Hugh-Curtis hoặc viêm quanh gan ( péri-hépatite )
- lây truyền Chlamydia trachomatis cho trẻ sơ sinh lúc sinh

20/ CÓ THỂ ĐIỀU TRỊ VỚI LIỀU DUY NHẤT CHO NHIỄM
TRÙNG BỞI CHLAMYDIA KHÔNG CÓ BIẾN CHỨNG KHÔNG
Có, azithromycin (Zitromax) với liều duy nhất 1g là một thuốc điều trị
hiệu quả đối với nhiễm trùng đường niệu sinh dục dưới bởi Chlamydia, bao
gồm viêm niệu đạo (urethritis) và viêm cổ tử cung (cervicitis). Điều trị liều
duy nhất không thích hợp đối với nhiễm trùng đường niệu sinh dục trên, như
viêm mào tinh hoàn (epididymitis) và bệnh viêm vùng chậu (pelvic
inflammatory disease) (PID). Phép điều trị đơn giản hóa này hắn là điều trị
hiệu quả cho những bệnh nhân không tuân thủ trong điều trị.
21/ ĐỂ ĐIỀU TRỊ VIÊM NIỆU ĐẠO DO CHLAMYDIA ,
NHỮNG KHÁNG SINH NÀO HIỆN NAY ĐƯỢC KHUYÊN SỬ
DỤNG ?
Doxycycline (Vibratab), 100mg, 2 lần mỗi ngày, trong 7 ngày, bằng
đường miệng.
hoặc
Azithromycin (Zitromax), liều duy nhất 1g, bằng đường miệng
Những thuốc thay thế :
Ofloxacin (Tarivid), 300mg, 2 lần mỗi ngày, trong 7 ngày, bằng
đường miệng.
hoặc
Levofloxacin ( Tavanic), 500mg mỗi ngày, trong 7 ngày
hoặc
Erythromycin (Erythroforte), 500mg, 4 lần mỗi ngày, trong 7 ngày,
bằng đường miệng.
hoặc
Erythromycin ethylsuccinate, 800mg, 4 lần mỗi ngày, trong 7 ngày,
bằng đường miệng.
Trong thời kỳ thai nghén :
Erythromycin (Erythroforte), 500mg, 4 lần mỗi ngày, trong 7 ngày,
bằng đường miệng.

hoặc
Ofloxacin (Tarivid), liều duy nhất 400mg, bằng đường miệng
hoặc
Levofloxacin ( Tavanic), liều duy nhất 500mg, bằng đường miệng
+
Doxycycline (Vibratab), 100mg , 2 lần mỗi ngày, trong 7 ngày, bằng
đường miệng ( khả năng nhiễm trùng kết hợp với Chlamydia )
hoặc
Azithromycin (Zitromax), liều duy nhất 1g, bằng đường miệng
Nếu nghỉ lậu cầu đề kháng với quinolone :
Ceftriaxone, liều duy nhất 125 mg, tiêm mông
hoặc
Cefixime, liều duy nhất 400mg, bằng đường miệng
25/ ĐỨNG TRƯỚC MỘT VIÊM NIỆU ĐẠO DO LẬU CẦU,
NHIỄM TRÙNG LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC NÀO
CŨNG PHẢI ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ ĐỒNG THỜI ?
- Chlamydia
26/ Ý NGHĨA CỦA VIỆC TÌM THẤY VIÊM CỐ TỬ CUNG
NHÀY MỦ NƠI MỘT PHỤ NỮ ĐAU BỤNG DƯỚI ?
Bình thường chất tiết nội mạc tử cung (được nhận thấy ở lỗ ra từ ống
nội cổ tử cung) phải trong suốt. Sự hiện diện của một chất tiết nhầy mủ từ lỗ
cổ tử cung, có thể xuất hiện với màu vàng khi nhìn trên một que có đầu
mang bông trắng (Q-tip dương tính), gợi ý viêm cổ tử cung nhầy mủ
(mucopurulent cervicitis). Viêm cổ tử cung nhầy mủ, thường nhất được gây
nên bởi lậu cầu hay Chlamydia, là dấu hiệu báo trước của nhiễm trùng
đường sinh dục trên ( ví dụ : pelvic inflammatory disease : bệnh viêm vùng
chậu). Bệnh viêm vùng chậu là một chẩn đoán dựa trên những tiêu chuẩn
lâm sàng gồm có nhạy cảm đau lúc lay động cổ tử cung (cervical motion
tenderness), nhạy cảm đau ở phần phụ (adnexal tenderness) và nhạy cảm đau
bụng dưới. Những bệnh nhân đau nặng với bệnh viêm vùng chậu cần phải

của họ, về sự tiếp xúc với đĩ điếm ở các vùng khác nhau. Các vết loét sinh
dục là một đồng yếu tố nguy cơ (risk cofactor) quan trọng trong việc lan
truyền HIV.
- Herpes simplex virus (HSV) : Trong hầu hết các vùng của Hoa Kỳ,
herpes sinh dục gây nên bởi HSV là nguyên nhân thông thường nhất của vết
loét sinh dục. Nhiễm trùng nguyên phát bởi HSV dẫn đến những bệnh nặng,
nhiễm độc với sốt, khó ở và hạch vùng bẹn. Chẩn đoán được thực hiện bằng
cách cấy siêu vi khuẩn hoặc thử nghiệm tìm kháng nguyên. HSV là một
bệnh thường tái diễn và bệnh nhân có thể thải siêu vi trùng mặc dầu không
có triệu chứng. Bệnh này không thể chữa lành nhưng điều trị với thuốc
kháng siêu vi như acyclovir có thể làm rút ngắn thời gian của các triệu
chứng. Điều trị ngăn chặn (suppressive therapy) lâu dài có thể ngăn ngừa
những đợt loét bộc phát.
- Hạ cam mềm (Chancroid) : cũng còn được gọi là vết loét mềm (soft
sore), bệnh này được gây nên bởi Hemophylus ducreyi, một vi khuẩn rất khó
cấy. Tỷ lệ mắc bệnh ở Hoa Kỳ đã giảm cho đến cuối những năm 1980, là lúc
những đợt bộc phát đã được ghi nhận ở vài đô thị. Bây giờ bệnh trở thành
dịch địa phương (endemic) ở một vài vùng của Hoa Kỳ. Về phương diện
lâm sàng, hội chứng này gây nên một nốt sần đau, không cứng
(nonindurated), sau đó trở thành một vết loét (ulcer). Hạch đau ở vùng bẹn
được nhận thấy trong hơn 50% các trường hợp. Các phương thức điều trị
gồm có azithromycin hoặc ceftriaxone với liều duy nhất hoặc điều trị 1 tuần
với erythromycin hoặc ciprofloxacin.
- Giang mai : Giang mai nguyên phát được thể hiện bởi một vết loét
cứng (indurated) và không đau, gọi là săng hay hạ cam (chancre). Chẩn đoán
được thực hiện bằng khám trực tiếp một chất thanh dịch trên kính hiển vi có
nền đen ( dark-field examination ) để tìm xoắn khuẩn (spirochetes). VDRL
(venereal disease research laboratory) test nên được thực hiện nơi bất cứ ai
có thể bị giang mai. Điều trị giang mai nguyên phát với penicillin G
benzathine, 2,4 triệu đơn vị tiêm mông.

SECONDAIRE) ?
- có thể rất thay đổi (giang mai thứ phát : tay giả vờ vĩ đại)
- thường phân tán (disséminé)
- các thương tổn nói chung không gây ngứa.
- những dấu chứng cổ điển nhất là :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status