Giáo Trình Kiến Trúc Máy Tính - Nguyễn Hữu Lộ phần 7 - Pdf 18

Cấn Trúc Máy Tính
-79-

Hình 3.13: Một thí dụ sơ đồ cấu tạo của 1 chip DRAM
3. Một số khái niệm về bộ nhớ khác:
- Bộ nhớ chớp nhoáng (Flash Memory)
Trong ít năm gần đây, một loại bộ nhớ không bay hơi mới đã xuất hiện trên thò
trường, thường được sử dụng thay thế cho các ổ đóa mềm và cứng trong những máy tính
xách tay (notebook). Đó là bộ nhớ flash. Cấu trúc của chúng cơ bản như EEPROM. Do
vậy chỉ cần điện thế cỡ 12 V là có thể cho phép thực hiện 10 000 chu trình xoá và lập
trình. Bộ nhớ flash có thể hoạt động gần mềm dẻo như DRAM và SRAM nhưng lại
không mất số liệu khi bò cắt điện.
Mục đích sử dụng chính của bộ nhớ flash là để thay thế cho các ổ đóa mềm và ổ
đóa cứng dung lượng nhỏ> Do nó là mạch tích hợp nên có ưu điểm là kích thước nhỏ và
tiêu tán năng lượng thấp, không bò ảnh hưởng của va đập. Các đóa cứng chất rắn dựa
trên cơ sở các bộ nhớ flash có lợi thế về công suất tiêu thụ cũng như giá thành có dung
lượng tới vài MByte. Các card nhớ loại này cũng có ưu điểm là không gặp phải vấn đề
mất thông tin như trường hợp RAM CMOS khi pin Ni-Cd bò hỏng. Thời gian lưu trữ
thông tin trong bộ nhớ flash ít nhất cũng là 10 năm còn thì phải là 100 năm, trong thời
gian này thì các đóa mềm và cứng đã bò hỏng rồi.
- Bộ nhớ cache (khay)
Với các cpu tốc độ nhanh (trên 33MHz), cần phải xen các trạng thái đợi khi truy
xuất dữ liệu tới các DRAM rẻ tiền nhưng có thời gian thâm nhập chậm (60-120ns).
Điều đó làm giảm hiệu suất của toàn máy tính. Có thể giải quyết bằng cách dùng các
SRAM có thời gian thâm nhập ngắn hơn (20-25ns, thâ.m chí 12ns) nhưng giá thành lại
rất đắt. Bộ nhớ cache kết hợp được các lợi điểm nhanh của SRAM và rẻ của DRAM
để xây dựng được một bộ nhớ có hiệu suất cao cho PC. Giữa CPU và bộ nhớ chính
bằng DRAM, người ta xen vào một bộ nhớ SRAM nhanh có dung lượng nhỏ bằng 1/10
hoặc 1/100 lần bộ nhớ chính gọi là cache; dưới sự điều khiển của bộ điều khiển cache,
Nguyễn Hữu Lộc Khoa Vật Lý
Cấn Trúc Máy Tính

ngoại vi PCI ( peripheral component interconnect ) .

Các hệ thống bus sử dụng trong máy tính (như ISA, EISA hoặc MCA) ảnh hưởng
đến tốc độ xử lý các thông tin hình ảnh. Chi tiết các loại bus này và các bus khác sẽ
được đề cập đến trong chương 3. Bus ISA có 16 bit dữ liệu hoạt động ở tần số 8.33
MHz. Các bus EISA và MCA có 32 bit dữ liệu nhưng chỉ hoạt động ở tần số thứ 10
MHz . Các tần số vừa nêu là các tốc độ bus, không phải là tốc độ của CPU . Để cải
thiện giới hạn này, người ta đổ xung bus cục bộ VESA (VL–Bus) 32–bit hoạt động ở
tốc độ đầy đủ ở CPU lên đến 40 MHz. Khi hệ thống bus PCI được áp dụng , số bit dữ
liệu được xử lý đồng thời là 64 bit với tốc độ 66MHz .

Nguyễn Hữu Lộc Khoa Vật Lý
Cấn Trúc Máy Tính
-81-
Cho đến hiện nay những người sử dụng máy tính đã được nghe nhiều về các
board video đa phương tiện (Multimedia ) có khả năng sử lý các ảnh tónh và ảnh động,
xử lý tính hiệu hình, xử lý đồ hoạ v.v… . Cũng như các board video xử lý ảnh động ba
chiều ( 3– D ) . Trên các board video loại này người ta dùng chip chuyên dùng ASIC
để nén và giải nén tín hiệu video theo giải thuật của MPEG .
IV. Giao tiếp
Một hệ thống máy tính có kích thước nhỏ đến trung bình tiêu biểu bao gồm một
chip vi xử lý, các chip nhớ và một số bộ điều khiển I/O, tất cả đều được nối qua một
bus. Ta đã nghiên cứu chi tiết về các bộ nhớ, các bộ vi xử lý và các bus. Phần này sẽ
xem xét phần cuối cùng, các chip I/O. Qua những chip này máy tính truyền thông với
thế giới bên ngoài.
1. Các chip I/O
Có nhiều chip I/O đã được sử dụng và cũng có nhiều chip mới sản xuất đang
được giới thiệu. Các chip thông dụng bao gồm các UART, USART, các bộ điều khiển
CRT, các bộ điều khiển đóa và các PIO. UART (Universal Asynchronous Receiver
Transmitter) là một chip có thể đọc một byte từ bus dữ liệu và ở từng thời điểm xuất

ứng, số 8-bit sẽ xuất hiện trên các đường tín hiệu xuất và sẽ duy trì giá trò (được chốt)
cho tới khi thanh ghi được ghi lần nữa. Để dùng cổng làm một cổng nhập, CPU chỉ
phải đọc thanh ghi tương ứng.
Các chế độ hoạt động kh
nhập 2 chiều. Thí dụ để xuất dữ liệu cho một thiết bò không luôn luôn sẵn sàng
nhận dữ liệu trong chế độ bắt tay, 8255A sẽ đưa dữ liệu lên cổng xuất và đợi thiết bò
ngoại vi gởi 1 xung trở về báo rằng vừa nhận dữ liệu và yâu cầu dữ liệu kế. Mạch
logic cần thiết để chốt những xung như vậy và làm cho chúng có giá trò đối với CPU
được bao gồm bên trong phần cứng của 8255A.
Từ sơ đồ chức năng của 8255A chúng ta thấy ngoài 24 chân cho 3 cổng, 8255A
ó 8 đường dữ liệu nối trực tiếp với bus dữ liệu và các đường khác: một đường
chọn chip, các đường điều khiển đọc và ghi dữ liệu, 2 đường đòa chỉ và một đường để
thiết lập lại trạng thái ban đầu cho chip. Hai đường đòa chỉ chọn một trong 4 thanh ghi
nội, tương ứng với các cổng A, B, C và thanh ghi trạng thái. Thanh ghi này có các bit
xác đònh cổng nào là cổng nhập và cổng nào là cổng xuất và những chức năng khác.
Bình thường, 2 đường đòa chỉ của 8255A được nối với các bit thấp nhất của bus đòa chỉ.
2. Giải mã đòa chỉ.
Cho đến lúc này chúng ta đã sơ bộ biết qua cách chọn chip đối với các chip bộ
nhớ v
O được chọn theo một trong hai cách : như một thiết bò I/O thực sự hoặc như
một p
à các chip I/O đã khảo sát. Mục này giúp chúng ta xem xét kỹ hơn vấn đề này.
Hãy xét một máy vi tính đơn giản bao gồm một CPU 8-bit với 16 đường đòa chỉ, một
EPROM 2K x 8 bit cho chương trình, một RAM 2K x 8 bit cho dữ liệu và một PIO. Hệ
thống nhỏ này có thể được dùng như một mẫu (prototype) cho bộ não của một đồ chơi
hoặc của một thiết bò đơn giản. Trong sản xuất EPROM có thể được thay thế bằng
ROM.
PI
hần của bộ nhớ. Nếu được chọn như một thiết bò I/O, chúng ta phải xác đònh một
không gian đòa chỉ I/O rõ ràng, thí dụ sử dụng tín hiệu


Hình 3.15 : Vò trí của EPROM, RAM và PIO trong không gian đòa chỉ 64K
Phương pháp tốt hơn để nhận được cùng kết quả là dùng một cổng OR có 5 ngõ
vào, đường
đòa c
5 ngõ vào này được nối với các đường đòa chỉ A11-A15. Nếu và chỉ nếu 5
hỉ này đều bằng 0, do vậy
CS
được xác lập (xác lập ở mức thấp). Trên thực tế
không có cổng OR 5 ngõ vào ở các họ SSI chuẩn. Cổng NOR 8 ngõ vào được sản xuất
nhiều và có số ngõ vào tương đối thích hợp, ta sử dụng cổng này bằng cách nối đất 3
ngõ vào không dùng và đảo tín hiệu ngõ ra để có cùng kết quả với cổng OR 5 ngõ
vào, như trong hình 3.13 (a). Theo quy ước, các ngõ vào không sử dụng sẽ không được
vẽ trên sơ đồ mạch.
Ta cũng dùng cùng nguyên tắc như vậy cho RAM. Các byte của RAM ứng với
các đòa chỉ nhò phân có dạng 10000xxxxxxxxxxx, nên cần thêm một cổng đảo cho
đườn
å xác lập CS cho PIO chỉ khi trên bus đòa chỉ xuất
hiện đúng đòa chỉ như trình bày trong hình vẽ. Ta sử dụng 2 cổng NAND 8 ngõ vào một
g đòa chỉ A15 như trên hình vẽ.
Giải mã đòa chỉ cho PIO hơi phức tạp hơn do PIO được chọn bởi 4 đòa chỉ có dạng
11111111111111xx. Một mạch có the
Nguyễn Hữu Lộc Khoa Vật Lý
Cấn Trúc Máy Tính
-84-
cổng OR 2 ngõ vào để nối các đường trên bus đòa chỉ với chân
CS
của PIO. Để thiết
lập mạch logic giải mã đòa chỉ cho hình 3.16 (a), cần dùng 6 chip SSI : 4 chip 8 ngõ
vào, 1 cổng OR 2 ngõ vào và một chip có 3 cổng đảo.Tuy nhiên, nếu máy tính thực sự

Ranh giới giữa phần cứng và phần mềm không được xác đònh rõ, hơn nữa lại
thường xuyên dòch chuyển. Các máy tính trước đây có các lệnh số học, logic, dòch, so
sánh, lập vòng, v.v. … được thực thi trực tiếp bởi phần cứng. Với mỗi một lệnh, hòên
hữu một mạch phần cứng riêng biệt để thực hiện lệnh này. Người ta có thể tháo ốc các
bản mạch cũ (back panel) và chỉ ra các thành phần điện tử dùng cho lệnh chia, tối
thiểu cũng về mặt nguyên tắc.
Trên các máy tính lớp hiện nay, không còn đủ khả năng tách riêng các mạch chia
do bởi chúng không hiện hữu. Tất cả các lệnh có thể có có ở lớp máy qui ước (thí dụ
các lệnh số học, logic, dòch, so sánh và lập vòng) được thực thi từng bước bởi một trình
phiên dòch chạy trên lớp vi chương trình .
Ngày nay, thay vì tìm kiếm các mạch chia chúng ta lấy ra một bảng liệt kê của vi
chương trình và tìm kiếm phần chương trình phiên dòch các lệnh chia.
Mặc dù các phương trình ơ ûmột lớp có thể được thực thi bởi một trình phiên dòch,
và m phiên ực thi bởi một trình phiên dòch
khác ệ thống lớp bậc â tận. Lớp dưới cùng phải là một
máy phần cứng thực sự với các mạch tích hợp, các nguồn cùng lớp và các đối tượng
“cứng“ tương tự khác, chúng đã được đề cập đến trong chương trước. Trong chương
này chúng ta sẽ nghiên cứu cách thức vi chương trình điều khiển các thành phần phần
cứng và cách thức vi chương trình p của lớp máy quy ước. Ngày nay,
có những máy không đươ õng chính vì vậy nên với
lớp nay chúng ta chỉ khảo ôi.
ặc dù trình dòch này cũng có thể được th
, h này không thể tiếp tục đến vo
hiên dòch các lệnh
ïc vi chương trình hoá (máy RISC), cu
sát sơ lược có tính chất lòch sử mà thø
Do cấu trúc của lớp vi chương trình, gọi là vi cấu trúc, được xác đònh bởi phần
cứng nên thường thô sơ và khó lập trình. Các khảo sát về đònh thì thường quan trọng và
chúng đã dẫn Rosin ( 1974 ) đến đònh nghóa vi chương trình là “sự hiện thực các hệ
thống hợp lý đày triển vọng thông qua sự phiên dòch trên các máy không hợp lý “ .

Các máy tính lớn hơn và đắt tiền hơn thường có nhiều thanh ghi hơn các máy nhỏ
và rẽ tiền, chúng phải sử dụng bộ nhớ chính để lưu trữ các kết quả trung gian. Trên
một số máy tính, một nhóm thanh ghi được đánh số 0, 1, 2 … , n - 1 có giá trò ở lớp vi
chương trình còn được gọi là cục bộ (local) hay bộ nhớ nháp (Scratchpad memory).
Một thanh ghi có thể đặt trưng hoá bằng một con số cho biết thanh ghi lưu trữ bao
bit. Thông tin đặt trong thanh ghi sẽ tồn tại cho đến khi có một thông tin khác
thay thế. Qúa trình đọc thông tin ra khỏi mo
hanh ghi này. Nói cách khác, khi một thanh ghi được đọc, một bản sao nội dung
của thanh ghi được tạo ra và bản gốc trong thanh ghi không bò xáo trộn.
2. Bus nội:
Bus nội là tập hợp các đường dây truyền tín hiệu theo dạng song song. Thí dụ:
dung của một thanh ghi được sao chép đến một
hống đã khảo sát ở chương 3, các bus này chỉ kết
nối hai thành phần do vậy không cần các đường đòa chỉ hoặc các đường điều khiển
bao q
hướng chuyển
dữ lie
các bus được dùng để cho phép nội
thanh ghi khác. Không giống bus hệ t
uát chỉ cần n đường dữ liệu và trong trường hợp tổng quát một hoặc hai đường
điều khiển cũng đủ. Các bus được dùng do bởi việc chuyển song song tất cả các bit
cùng một lúc sẽ nhanh hơn nhiều so với truyền nối tiếp từng bit một ở mỗi thời điểm.
Một bus có thể là đơn hướng (unidirectional) hay song hướng (bidirectional). Bus
đơn hướng chỉ có thể chuyển dữ liệu theo một chiều trong khi bus song
äu theo cả hai chiều nhưng không đồng thời. Các bus đơn hướng điển hình được
dùng để nối hai thanh ghi, một thanh ghi luôn luôn là nguồn và thanh ghi còn lại luôn
luôn là đích. Các bus song hướng điển hình được dùng khi bất kỳ thanh ghi nào trong
tập thanh ghi cũng có thể là nguồn hoặc là đích.
Nhiều thành phần có khả năng tự kết nối hoặc không kết nối về mặch đòên với
bus (nhưng vẫn kết nối về mặt vật lý. Các kết nối này có thể được thực hòên hoặc

Cấn Trúc Máy Tính
-88-
Hình 4.1 b) trình bày một thanh ghi 16 bit với 2 bus xuất , mỗi bus được điều
khiển bơiû một tín hiệu OE khác nhau
II. MỘT VÍ DỤ VỀ VI CHƯƠNG TRÌNH: Hình 4.2: Sơ đồ khối của 1 CPU đơn giản của một máy tính điện tử thiết kế theo
phương pháp vi chương trình hoá.
Để thực hiện một lệnh cộng (ADD) cần một hệ tối thiểu các phép vi toán:
Ký tự gợi nhớ Ghi chú
MAR-M Nối MAR với BUS M
MBR-M Nối MBR với BUS M
PC-D Nối PC với BUS D
IA-D Nối IA (của IR) với BUS D
AC-D Nối Accumulator với BUS D
MTS Nối BUS M với BUS S qua ALU
DTS Nối BUS D với BUS S qua ALU
S-MAR Nối BUS S với MAR
Nguyễn Hữu Lộc Khoa Vật Lý
Cấn Trúc Máy Tính
-89-
S-MBR Nối BUS S với MBR
S-PC Nối BUS S với PC
S-IR Nối BUS S với IR
S-AC Nối BUS S với AC
R Đọc nội dung trong Mem ra MBR
W Viết nội dung từ MBR vào Mem
PLUS Cộng nội dung có trên BUS D và BUSM tại ALU và
đưa ra BUS S

ình thiết kế

Nguyễn Hữu Lộc Khoa Vật Lý
Cấn Trúc Máy Tính
-90-
CHƯƠNG 4:


Ra giữa phần cư lại
thường xuyên dòch chuyển. Các máy tính trước đây
sánh, lậ , v.v. … được một lệnh, hòên
hữu một mạch phần cứng riên tháo ốc các
bản m nh chia, tối
thiểu
rên các máy tính lớp hiện nay, không còn đủ khả năng tách riêng các mạch chia
do bởi chúng không hiện hữu. Tất cả các lệnh có thể có có ở lớp máy qui ước (thí dụ
á ho , dòch ùnh v òng hực bư một
phiên dòch chạy trên lớp vi chương trình .
nay, t ay vì tìm k ám các m hia chu g ta lấy ät ba ê cu vi
chương trình và tìm kiếm phần chương trình phiên dòch các lệnh chia.
dù các hương trìn ơ ûmột lớp có thể được thực thi bởi một trình phiên dòch,
được thực thi bởi một trình phiên dòch
ống lơ bậc này k ông the tục đến vô tận. Lớp dưới cùng phải là một
máy phần cứng thực sự với các mạch tích hợp, các nguồn cùng lớp và các đối tượng
na g ta sẽ hiên cứu c ùch thức ơng tr h điều các th hần p àn
cứng và cách thức vi chương trình phiên dòch
có nh RISC), cũng chính vì vậy nên với
lớp n òch sử mà thôi.
Do cấu trúc của lớp vi chương trình, gọi là vi cấu trúc, được xác đònh bởi phần
cứng nên thường thô sơ và khó lập trình. Các kh nh thì thường quan trọng và

øy chún ng a vi chư ìn khiển ành p ha
các lệnh của lớp máy quy ước. Ngày nay,
áõng máy không được vi chương trình hoá (m
ày chúng ta chỉ khảo sát sơ lược có tính chất l
ảo sát về đò
( 1974 ) đến đònh nghóa vi chúng đã d
thống hợp lý đày triển vọng
biệt: Thực thi các trình phiên dòch cho
ác. Mục đích của thiết kế này hiển nhiên dẫn đến một tổ chức được t
và thực thi các lệnh của lớp máy quy ước,
á trường hợp, các lệnh phức tạp hơn nữa.
sẽ bắt đầu việc khảo sát
Nguyễn Hữu Lộc Khoa Vật Lý
Cấn Trúc Máy Tính
-91-
phần này hoặc được tìm thấy tron ạch số hoặc đã được khảo sát
trong chương trước, ở đây ắt.
I. NHẮC LẠI LỚP VẬT LÝ:
g các tài liệu về m
chúng ta chỉ nhắc lại một cách tóm t

1. Các thanh ghi:
Thanh ghi là thành phần lưu trữ thông tin. Lớp vi chương trình luôn luôn có một
số thanh ghi nhằm lưu dữ thông tin cần thiết cho việc xử lý lệnh đang được phiên dòch.
Các thanh ghi đại khái cũng giống như bộ nhớ chính, điểm khác nhau là các thanh ghi
được đặt bên trong bộ xử lý nên chúng được đọc và ghi nhanh hơn so với việc đọc và
ghi ca
ïc đánh số 0, 1, 2 … , n - 1 có giá trò ở lớp vi
chươn
h ghi lưu trữ bao

dùng để nối hai thanh ghi, một thanh ghi luôn luôn là n
là đích. Các bus song hướng điển hình được dùng khi bất kỳ thanh ghi nào trong
tập thanh ghi cũng có thể là nguồn hoặc là đích.
Nhiều thành phần có khả năng tự kết nối hoặc không kết nối về mặch đòên với
bus (nhưng vẫn kết nối về mặt vật lý. Các kết nối này có thể được thực hòên hoặc
không trong vài ngiây
a trạng thái (tristate bus) vì mỗi một đường của bus có thể là 0, 1 hoặc không kết
nối. Các bus ba trạng thái được sử dụng rộng
úng đều có khả năng đưa thông tin lên bus .
Nguyễn Hữu Lộc Khoa Vật Lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status