Thuốc dùng trong một số bệnh thận potx - Pdf 18

Thuốc dùng trong một số bệnh thận Thận có thể mắc nhiều bệnh như suy thận cấp, suy thận mạn,
viêm cầu thận cấp, mạn, bệnh nang thận, ung thư thận, hội chứng thận
hư, viêm thận - bể thận cấp và mạn, sỏi thận Việc chẩn đoán, đánh giá
một người mắc bệnh thận là rất quan trọng
Thận có thể mắc nhiều bệnh như suy thận cấp, suy thận mạn,
viêm cầu thận cấp, mạn, bệnh nang thận, ung thư thận, hội chứng thận
hư, viêm thận - bể thận cấp và mạn, sỏi thận Việc chẩn đoán, đánh giá
một người mắc bệnh thận là rất quan trọng, không phải là khó khăn vì
các bệnh thận khác nhau đều có dấu hiện triệu chứng đặc thù. Dưới đây
là thuốc dùng đặc trị trong một số bệnh thận thường gặp. Suy thận cấp
Các biểu hiện chính là giảm lượng nước tiểu (thiểu niệu, vô niệu),
tăng urê và kali máu nhanh gây nên tình trạng không đào thải được các chất
thải, không điều chỉnh được điện giải toan kiềm, thể tích. Bệnh diễn biến
qua 4 giai đoạn: khởi đầu như giảm lượng nước tiểu (tiểu ít dần) sang toàn
phát với thiểu niệu, urê máu, kali máu tăng cao, thở nhanh, tăng huyết áp,
thiếu máu, có thể vàng da, vàng mắt, giai đoạn này bệnh nhân có thể tử vong
do kali trong máu tăng, phù phổi cấp. Giai đoạn tiểu nhiều tới 2-3 lít/ngày,
các triệu chứng giảm dần rồi sang giai đoạn hồi phục, hết các triệu chứng
lâm sàng chỉ số sinh học trở lại bình thường nếu chữa trị đúng và kịp thời.
Các chỉ số về tỉ lệ creatinin huyết thanh, tỷ lệ creatinin nước
tiểu/huyết thanh, natri nước tiểu và áp lực thẩm thấu nước tiểu giúp cho việc
xác định nguyên nhân suy thận cấp: nguyên nhân trước thận như giảm thể
tích, mất nước, mất máu dùng thuốc lợi tiểu cao, tụt huyết áp, suy tim sung
huyết, co hoặc dãn mạch do nhiễm khuẩn, sốc do thuốc huyết áp chẹn alpha
hoặc ức chế men chuyển và các thuốc chống viêm không steroid hoặc do suy

nước - điện giải, chống nhiễm khuẩn bằng các kháng sinh, trị thiếu máu, trị
toan máu. Chú ý đặc biệt người đái tháo đường phụ thuộc insulin.
Dinh dưỡng sao cho đủ calo, ít protein nhưng đủ acid amin và
vitamin. Ăn nhạt, kiêng chua, uống ít nước. Lọc máu hoặc ghép thận theo
chỉ định của thầy thuốc.
Viêm cầu thận cấp
Là bệnh cấp tính sau một đợt nhiễm khuẩn. Bệnh sinh do lắng đọng
phức hợp miễn dịch. Biểu hiện phù sau viêm nhiễm (đường hô hấp, họng,
da ), sau 7-15 ngày. Đái ít hoặc vô niệu, protein niệu. Đái ra máu đột ngột
thường có hồng cầu, protein, máu vi thể. Tăng huyết áp, thiếu máu nhẹ, suy
tim, tăng urê máu, giữ muối và nước gây phù ngoại vi, hố mắt, tăng lipid
máu. Khi protein niệu tăng lên, tiến triển thành hội chứng thận hư.
Điều trị: Làm các xét nghiệm cần thiết. Dựa trên sự phân loại về tổ
chức học, có tăng sinh hay không tăng sinh, với nguyên tắc làm chậm quá
trình dẫn đến suy thận. Nói chung, dùng thuốc cũng giống như suy thận là
chống phù, tăng huyết áp bằng furosemid, methyldopa, ức chế men chuyển,
nifedipin với liều lượng vừa phải tránh quá mạnh gây tiến triển nhanh tới
suy thận. Dùng các thuốc kháng sinh phù hợp như penicillin hoặc
cephalosporin và corticosteroid trị các đợt viêm nhiễm và tránh các biến
chứng. Dùng các vitamin nhóm B và C. Có gợi ý nên dùng các thuốc độc hại
tế bào trong một số thể viêm cầu thận.
Dinh dưỡng: Giảm chất đạm, ăn nhạt, uống ít nước.
Theo dõi bệnh nhân đều đặn hằng tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm.
Tình trạng bệnh tốt nếu hết phù, huyết áp bình thường, hết protein niệu và
hồng cầu niệu, urê máu bình thường. Tình trạng sẽ xấu đi nếu urê máu tăng,
protein niệu kéo dài.
Viêm cầu thận mạn
Có tổn thương tiểu cầu thận dần dần, phù và protein niệu tái đi tái lại,
cuối cùng dẫn đến suy thận mạn.
Viêm thận - bể thận cấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status