Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
Nhóm 06 –MBA11B
1
ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
oOo
TIỂU LUẬN NHÓM CUỐI KHÓA
MÔN: LUẬT KINH DOANH
Tên đề tài:
CÔNG TY HỢP DANH
Gỉảng viên : LS.TS Trần Anh Tuấn.
Nhóm thực hiện : Nhóm 06
1. Nguyễn Nguyên Bằng.
2. Nguyễn Chí Công.
3. Huỳnh Thị Mỹ Hạnh.
Lớp : MBA11B-2011.
Năm: 2011
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
MỤC LỤC
1.2. Phân loại công ty. 4
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
LỜI NÓI ĐẦU
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu một sự thay đổi lớn trong pháp
luật về doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời phản ánh được tư tưởng và mục tiêu nổi
bật của luật Doanh nghiệp năm 2005 là hình thành một khung pháp lý chung, bình đẳng
áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp.
Bên cạnh các loại hình doanh nghiệp quen thuộc như Công ty TNHH một thành
viên, Công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân,
Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng đề cập đến Công ty hợp danh. Hiện tại, tuy loại
hình này không phổ biến tại Việt Nam nhưng Luật Doanh nghiệp 2005 đã có những đổi
mới so với Luật Doanh nghiệp 1999 để tạo điều kiện thông thoáng cho công ty hợp
doanh. Theo quy định, tất cả các thành viên đều có tư cách thương nhân, nhưng công ty
không có tư cách này. Tuy nhiên, trong trường hợp Người quản lý là người ngoài công
Nhóm 06 –MBA11B
3
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
ty thì chính công ty mang tư cách thương nhân, bởi vì khi đó, Người quản lý khi thực
hiện các hành vi nhân danh công ty và phải chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
trước các thành viên.Thành viên hợp danh theo pháp luật thương mại Pháp không hạn
chế là cá nhân, mà còn bao gồm cả pháp nhân. Từ đó có thể hình thành mô hình kinh
doanh kết hợp, cho phép tránh được trách nhiệm vô hạn của cá nhân thành viên mà vẫn
có thể khai thác được những điểm mạnh của công ty hợp danh. Ví dụ: một công ty hợp
danh có tất cả các thành viên hợp danh là pháp nhân song thực ra, việc điều hành công
ty do các cá nhân là người đứng đầu pháp nhân thành viên thực hiện. Vì thế mà mặc dù
quy trình, thủ tục công ty hợp danh ở Pháp rất nghiêm ngặt, song công ty hợp danh vẫn
hiện diện với một số lượng đáng kể trong nền kinh tế Pháp.
1.2. Phân loại công ty.
Trên thế giới hiện nay có nhiều cách phân loại công ty khác nhau ở các nước khác nhau
nhưng cách xác định mô hình công ty phổ biến nhất mà các nhà khoa học pháp lí
thường sử dụng là dựa vào tính chất của sự liên kết và chế độ trách nhiệm của các thành
viên công ty. Theo cách này công ty được chia làm hai loại: công ty đối nhân và công ty
đối vốn.
1.2.1. Công ty đối nhân.
Công ty đối nhân được thành lập trên cơ sở sự thân cận, tín nhiệm lẫn nhau giữa
các thành viên là chính, việc góp vốn chỉ là thứ yếu. Những công ty đối nhân xuất hiện
đầu tiên ở một số nước ở châu Âu nơi có điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn
bán. Hiện nay điển hình nhất cho loại công ty đối nhân là công ty hợp danh. Nói chung
ở trên thế giới theo pháp luật kinh doanh của các nước thì công ty đối nhân không có tư
cách pháp nhân, bởi tài sản của các thành viên và taì sản của công ty không có sự tách
biệt rõ ràng, công ty đối nhân có trách nhiệm vô hạn về trách nhiệm của mình.
1.2.2. Công ty đối vốn.
Thành viên góp vốn là cá nhân hoặc tổ chức. Thành viên góp vốn có quyền được
chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại điều lệ công ty. Thành viên góp vốn không
tham gia quản lý công ty và không hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Họ chỉ
được tham gia thảo luận và biểu quyết về việc bổ sung, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ
của thành viên góp vốn được quy định trong điều lệ công ty, về việc tổ chức lại và giải
thể công ty. Khi công ty giải thể họ được chia giá trị tài sản còn lại khi công ty giải thể
theo quy định trong điều lệ công ty. Với những quyền hạn hạn chế như vậy, thành viên
góp vốn có nghĩa vụ góp đủ số vốn đã cam kết. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách
Nhóm 06 –MBA11B
5
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị số vốn đã cam kết góp vào
công ty.
1.3.2.2 Đặc điểm về hoạt động đại diện cho công ty trong các giao dịch pháp lý
Theo khoản 1 điều 137 luật DN 2005 mọi thành viên hợp danh đều đại diện cho
công ty, đều tham gia vào quan hệ pháp luật nhân danh công ty.
1.3.2.3 Đặc điểm về trách nhiệm của công ty
Công ty hợp danh chịu trách nhiệm về hoạt động của mình không giới hạn trong
phạm vi vốn điều lệ được đăng kí tại cơ quan đăng kí kinh doanh. Các thành viên hợp
danh cùng nhau chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty bằng toàn bộ tài sản riêng
của mình. Vì vậy công ty hợp danh là loại doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn.
PHẦN II: QUY CHẾ PHÁP LÍ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY
HỢP DANH.
2.1. Quy chế pháp lí thành lập và hoạt động của công ty hợp danh.
Quy chế pháp lí thành lập và hoạt động của công ty hợp danh được quy định
trong Luật Doanh Nghiệp 2005 và được chi tiết hoá tại Nghị định của Chính phủ số
43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng kí Doanh Nghiệp và Nghị định số
102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh
nghiệp.
2.2. Thủ tục thành lập công ty hợp danh.
đăng kí kinh doanh cấp tỉnh thực hiện việc tiếp nhận đơn, hồ sơ đăng kí kinh doanh và
phải giao giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.
Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cho
doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ nếu:
- Ngành, nghề kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh.
- Tên doanh nghiệp được đặt đúng theo quy định của pháp luật.
- Hồ sơ đăng kí kinh doanh hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp.
- Nộp đủ lệ phí đăng kí kinh doanh theo quy định.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, doanh nghiệp được khắc dấu và
có quyền được sử dụng con dấu của mình.
Trường hợp vi phạm một trong các điều kiện nêu trên thì Phòng đăng kí kinh
doanh phải thông báo ngay cho người thành lập doanh nghiệp biết bằng văn bản trong
thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, nêu nội dung cần sửa đổi và cách thức cần
Nhóm 06 –MBA11B
7
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
sửa đổi. Quá thời hạn nói trên mà không có thông báo thì tên của doanh nghiệp coi như
được chấp nhận, hồ sơ đăng kí kinh doanh đựơc coi là hợp lệ.
Nếu sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ đăng kí kinh doanh mà không nhận được
giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu
nại đến Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh, nơi tiếp nhận hồ sơ đănh kí kinh doanh. Sau
thời hạn 7 ngày kể từ ngày nộp đơn khiếu nại mà không nhận được trả lời của Phòng
đăng kí kinh doanh cấp tỉnh thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại lên
UBND cấp tỉnh hoặc kiện ra toà hành chính cấp tỉnh nơi nộp hồ sơ đăng kí kinh doanh
theo quy định của pháp luật.
Kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, doanh nghiệp có quyền
hoạt động kinh doanh mà không cần phải xin phép bất cứ cơ quan nhà nước nào, trừ
trường hợp doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có điều kiện.
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh do Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh cấp có hiệu
lực trong phạm vi toàn quốc.
2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn.
Được qui định tại Điều 140 Luật Doanh Nghiệp 2005 như sau:
- Thành viên góp vốn có quyền:
+ Tham gia thảo luận và biểu quyết về việc bổ sung, sửa đổi các quyền và nghĩa vụ của
thành viên góp vốn được qui định trong điều lệ công ty; về việc tổ chức lại, giải thể
công ty.
+ Được chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu điều lệ
công ty không qui định khác.
+ Được chia lợi nhuận, được chia giá trị tài sản còn lại khi công ty giải thể theo điều lệ
công ty.
+ Được nhận thông tin về hoạt động kinh doanh và quản lý công ty, xem sổ kế toán và
hồ sơ khác của công ty.
+ Các quyền khác do điều lệ công ty quy định.
- Nghĩa vụ của thành viên góp vốn:
+ Góp đủ số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ry trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty.
+ Không tham gia quản lý công ty, không được hoạt động kinh doanh nhân danh công
ty.
+ Chấp hành đúng nội qui và quyết định của công ty.
+ Nghĩa vụ khác do điều lệ công ty qui định.
Nhóm 06 –MBA11B
9
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
2.3.3. Tổ chức, quản lý công ty hợp danh.
Các vấn đề về tổ chức quản lý công ty hợp danh được qui định tại Điều 137 Luật Doanh
Nghiệp 2005 với nội dung như sau:
- Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên hợp danh, là cơ quan quyết định cao
nhất của công ty. Hội đồng thành viên quyết định tất cả các hoạt động của công ty. Khi
biểu quyết, mỗi thành viên hợp danh chỉ có một phiếu.
- Quyết định về các vấn đề sau đây phải được tất cả các thành viên hợp danh có quyền
vốn của công ty khi được tất cả các thành viên hợp danh đồng ý trừ trường hợp điều lệ
công ty qui định khác.
Thành viên hợp danh được tiếp nhận vào công ty chỉ chịu trách nhiệm về các nghiã vụ
của công ty phát sinh sau khi đăng ký thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh.
2.4.2. Chấm dứt tư cách thành viên.
- Tư cách thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau:
+ Đã chết hoặc bị toà án tuyên bố là đã chết.
+ Mất tích, bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự.
+ Tự nguyện rút khỏi công ty.
+ Bị khai trừ khỏi công ty.
- Trong trường hợp chấm dứt tư cách thành viên theo qui định tại hai điểm trên thì công
ty vẫn có quyền sử dụng tài sản tương ứng với trách nhiệm của người đó để thực hiện
các nghĩa vụ của công ty.
- Trường hợp tư cách thành viên chấm dứt theo qui định tại hai điểm cuối ở trên thì
người đó phải liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của công ty đã phát sinh trước khi
đăng ký việc chấm dứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh.
- Tư cách thành viên chấm dứt khi thành viên đó chuyển nhượng phần vốn góp của
mình cho người khác.
2.4.3. Rút khỏi công ty.
Thành viên hợp danh được quyền rút khỏi công ty nếu được đa số thành viên hợp còn
lại đồng ý. Khi rút khỏi công ty phần vốn góp được hoàn trả theo giá thoả thuận hoặc
theo giá được xác định dựa trên nguyên tắc qui định trong điều lệ công ty. Sau khi rút
khỏi công ty người đó vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty
trước khi đăng ký rút khỏi công ty, chấm dứt tư cách thành viên với cơ quan đăng ky
kinh doanh. Trường hợp tên của thành viên đã rút khỏi công ty được sử dụng để đặt tên
công ty thì người đó có quyển yêu cầu công ty đổi tên.
Nhóm 06 –MBA11B
11
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
Thành viên góp vốn có quyền rút phần vốn góp của mình ra khỏi công ty nếu được đa
công ty bị hợp nhất thành phần vốn góp công ty hợp nhất.
Thời hạn thực hiện hợp nhất.
Dự thảo Điều lệ công ty hợp nhất.
Nhóm 06 –MBA11B
12
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
- Các thành viên của các công ty bị hợp nhất thông qua hợp đồng hợp nhất, Điều
lệ công ty hợp nhất, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Giám đốc
(giám đốc) công ty hợp nhất và tiến hành đăng ký kinh doanh công ty hợp nhất theo
quy định của Luật (hồ sơ đăng ký kinh doanh phải kèm theo hợp đồng hợp nhất).
- Hợp đồng hợp nhất phải được gửi đến các chủ nợ và thông báo cho người lao
động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua.
- Trường hợp hợp nhất mà theo đó công ty hợp nhất có thị phần từ 30% đến 50%
trên thị trường liên quan thì đại điện hợp pháp của công ty bị hợp nhất phải thông báo
cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất, trừ trường hợp pháp luật
về cạnh tranh có quy định khác. (Cấm các trường hợp hợp nhất mà theo đó công ty hợp
nhất có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp pháp luật về
cạnh tranh có quy định khác).
- Sau khi đăng ký kinh doanh:
Các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại
Công ty hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm
về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ.
Sáp nhập doanh nghiệp: theo luật doanh nghiệp 2005 tại chương 8 điều 152 có quy
định khác rõ ràng, cụ thể như sau:
Sáp nhập doanh nghiệp là: Một hoặc một số công ty cùng loại có thể sáp nhập vào một
công ty khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:
- Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty
nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu:
Nhóm 06 –MBA11B
14
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có
quyết định gia hạn.
Theo quyết định của chủ DN đối với DNTN; của tất cả thành viên hợp
danh đối với Cty hợp danh; của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu Cty đối với Cty
TNHH; của Đại hội đồng cổ đông đối với Cty cổ phần.
Cty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật
này trong thời hạn 06 tháng liên tục.
Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác
- Thủ tục giải thể doanh nghiệp: theo điều 158 luật doanh nghiệp 2005:
Quyết định giải thể doanh nghiệp (đã được thông qua): quyết định này bao gồm
các nội dung chính như sau:
Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp.
Lý do giải thể.
Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của doanh
nghiệp (thanh lý hợp đồng không được vượt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua
quyết định giải thể)
Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động.
Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Chủ DNTN, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị
trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp (trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định
thành lập tổ chức thanh lý riêng).
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể phải
được gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ
và lợi ích liên quan, người lao động trong doanh nghiệp và phải được niêm yết công
khai tại trụ sở chính và chi nhánh của doanh nghiệp. (trường hợp mà pháp luật yêu cầu
Trong trường hợp này, người đại diện theo pháp luật, các thành viên đối với công ty
trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên, các thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, các thành viên
hợp danh đối với công ty hợp danh liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán.
PHẦN III: TÌNH TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG TY HỢP DANH Ở VIỆT NAM.
3.1. Thực trạng và một số hạn chế về qui chế pháp lý thành lập và hoạt động công
ty hợp danh.
3.1.1. Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng hoạt động của công ty hợp danh
hiện nay ở Việt Nam.
Như đã trình bày ở trên, qui chế pháp lý về thành lập và hoạt động của công ty
hợp danh trong Luật Doanh nghiệp 2005 đã đánh dấu sự phát triển mới của Luật Doanh
Nhóm 06 –MBA11B
16
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
nghiệp, đáp ứng được yêu cầu thực tế của nền kinh tế, trong giai đoạn đất nước mở rộng
hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực đặc biệt là về kinh tế, đẩy nhanh công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Loại hình doanh nghiệp mới ra đời đã tạo nhiều hơn nữa cho
sự lựa chọn của các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm và trình độ quản lý cuả các
nước phát triển.
So sánh công ty hợp danh với các loại hình doanh nghiệp khác ta thấy một số ưu
điểm sau:
- Thứ nhất, so với doanh nghiệp tư nhân thì công ty hợp danh có khả năng huy
động vốn lớn hơn bởi công ty hợp danh là sự kết hợp hai thành viên hợp danh trở lên
ngoài ra còn có thể có thành viên góp vốn trong khi đó doanh nghiệp tư nhân chỉ có một
cá nhân thành lập doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh. Như vậy, công ty
hợp danh có thể mở rộng qui mô kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh trên thị
trường là hơn hẳn doanh nghiệp tư nhân. (Điểm giống nhau ở hai loại hình doanh
nghiệp naỳ là chúng đều không có tư cách pháp nhân bởi tài sản của thành viên không
3.1.2. Một số hạn chế của qui chế pháp lý về công ty hợp danh.
Qua nội dung trình bày ở trên ta có thể thấy được khái quát chung về qui chế
pháp lý thành lập và hoạt động của công ty hợp danh. Nhưng thực tế cho thấy số công
ty hợp danh ở nước ta rất hạn chế, nguyên nhân có thể do đây là loại hình doanh nghiệp
mới còn ít người biết đến, ngoài ra còn có thể có nguyên nhân khác trong đó trực tiếp
đến sự phát triển của loại hình doanh nghiệp là qui chế pháp lý. Một số hạn chế về qui
chế pháp lý về công ty hợp danh có thể nhận thấy như sau:
- “Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề
nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty”. Như vậy, thành viên hợp danh phải là người có trình độ chuyên môn và uy tín
nghề nghiệp. Qui định này mang tính chất chung chung, không có qui định cụ thể đối
với trình độ chuyên môn của thành viên hợp danh, hơn nữa luật cũng không qui định
loại ngành nghề kinh doanh nào bắt buộc khi hoạt động phải thành lập theo loại hình
công ty hợp danh.
- Thứ hai, “Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, tiến hành các hoạt
động kinh doanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ cuả
công ty”. Theo qui định này, các thành viên hợp danh có thể tự do, độc lập tiến hành
hoạt động kinh doanh nhân danh công ty, nhưng các nghĩa vụ phát sinh của từng thành
viên hợp danh khi hoạt động kinh doanh độc lập thì các thành viên khác cũng phải liên
đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Đặc biệt là khi các thành viên hợp
Nhóm 06 –MBA11B
18
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
danh thành lập doanh nghiệp, nhưng hoạt động kinh doanh là mang tính độc lập giữa
các thành viên, cùng hoạt động một ngành nghề đăng ký kinh doanh, cũng có thể nhân
danh công ty và lợi nhuận thu được thì thành viên nào làm thì thành viên đó hưởng,
nhưng khi phát sinh nghĩa vụ, có thể dẫn tới phá sản của một trong thành viên hợp danh
thì tất cả các thành viên còn lại cũng có nguy cơ tương tự. Đây có thể là một qui định
làm hạn chế việc phát triển loại hình doanh nghiệp này.
- Thứ ba: “Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn
xin được đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục các hạn chế, hoàn thiện hơn chế độ
pháp lý về công ty hợp danh như sau:
- Thứ nhất, đối với các ngành nghề đòi hỏi trách nhiệm cao thì luật nên qui định
bắt buộc đối với chủ thể kinh doanh này phải thành lập công ty hợp danh. Một số ngành
nghề kinh doanh cần trách nhiệm cao như: dịch vụ pháp lý; dịch vụ y tế; dịch vụ thiết
kế công trình; kiểm toán; môi giới chứng khoán đối với các loại này người thành lập
doanh nghiệp cũng như tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi trình độ chuyên môn
nhất định, bởi những loại ngành nghề này rất rễ gây ra thiệt hại về người và tài sản. Vì
vậy qui định bắt buộc thành lập công ty hợp danh đối với những chủ thể kinh doanh các
loại ngành nghề nêu trên là tăng phần trách nhiệm đối với các chủ thể này, giảm bớt
thiệt hại đáng tiếc có thể xẩy ra.
- Thứ hai, theo qui định thì các thành viên hợp danh có thể tự mình tiến hành hoạt
động kinh doanh. Tuy nhiên cần phải qui định rằng việc tiến hành hoạt động kinh doanh
của từng thành viên phải được các thành viên khác trong công ty đồng ý (ít nhất 2/3 số
thành viên đồng ý) để hạn chế một người làm hại, toàn bộ thành viên phải gánh chịu.
- Thứ ba, đối với thành viên hợp danh góp vốn nhiều hơn trong công ty cần qui
định ưu tiên quyền hơn nữa đối vơí thành viên này trong các vấn đề liên quan đến công
ty so với các thành viên góp ít vốn hơn.
- Thứ tư, cần có những qui định nới lỏng hơn về điều kiện thành lập công ty hợp
danh. Trong qui định thì điều kiện thành lập là phải có ít nhất hai thành viên hợp danh
trở lên thì có thể qui định lại là thành viên hợp danh có một và có ít nhất một thành viên
góp vốn trở lên, điều này có thể tạo điều kiện dễ dàng hơn trong quá trình thành lập
công ty hợp danh.
3.1.4. Ví dụ về công ty hợp danh:
Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam (CPA VIETNAM) Thành viên Hãng Kiểm
toán Moore Stephens International Limited
- Tên viết tắt: CPA-VIETNAM
Nhóm 06 –MBA11B
20
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
30/03/2004 của Chính phủ về kiểm toán độc lập.
Là thành viên của Hãng Kiểm toán Quốc tế Moore Stephens International
(MSI), CPA VIETNAM được mở rộng nguồn lực từ hệ thống các thành viên
của MSI tại 95 nước trên toàn cầu.
Khái quát về HỘI KIỂM TOÁN VIÊN HÀNH NGHỀ VIỆT NAM (VACPA)
- Tên giao dịch quốc tế là: Vietnam Association of Certified Public Accountants
- Tên viết tắt : VACPA
Qua 19 năm hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã có bước phát triển:
Năm 1991 chỉ có hai công ty với 15 nhân viên, đến nay cả nước đã có trên 170 công ty
kiểm toán đang hoạt động với trên 10.000 người làm việc, trong đó có 4 công ty 100%
vốn nước ngoài, 24 công ty của Việt Nam là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế.
Nhóm 06 –MBA11B
21
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
1.800 người được Bộ trưởng Bộ Tài chính cấp chứng chỉ kiểm toán viên, trên 400 kiểm
toán viên đạt trình độ quốc tế. Năm 2009 đã cung cấp trên 20 loại dịch vụ nghề nghiệp
cho 26.000 khách hàng với doanh thu 2.200 tỷ đồng
Ngày 15/4/2005: theo đề nghị của Bộ Tài chính, được phép của Bộ Nội vụ, Hội
Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã được thành lập tại Hà Nội và chính
thức đi vào hoạt động từ 1/1/2006.
Ngày 14/07/2005: tại Quyết định số 47/2005/QĐ-BTC, Bộ trưởng Bộ Tài
chính đã chính thức chuyển giao chức năng quản lý hành nghề kiểm toán cho VACPA.
VACPA được tổ chức theo nguyên tắc tập trung từ Ban Chấp hành Trung ương
trực tiếp đến từng Hội viên, gồm:
Đại hội đại biểu toàn quốc 3 năm một lần
Ban Chấp hành
Ban Thường trực
Ban Kiểm tra
Các Ban chuyên môn: Ban Đào tạo, Ban Tư vấn, Ban Kiếm soát chất lượng,
Ban Đối ngoại
- Các quy định về thành lập tổ chức họat động của công ty hợp danh của bộ
luật doanh nghiệp 2005.
- Các quy định về tổ chức lại, giải thể của công ty hợp danh của bộ luật
doanh nghiệp 2005.
- Tình trạng phát triển công ty hợp danh tại Việt Nam và 01 ví dụ cụ thể về
công ty hợp danh.
Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận với kiến thức còn chưa nhiều, chắc
chắn bài tiểu luận sẽ có những chỗ chưa được thật sự tốt, cá nhân tôi mong sẽ
Nhóm 06 –MBA11B
23
Công ty hợp danh - Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005
nhận được ý kiến đóng góp của các bạn và đặc biệt là của Thầy Tiến sĩ Trần Anh
Tuấn.
Xin chân thành cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2006)
2. Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010
3. Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010
4. Luật kinh doanh- Ths. Nguyễn Thị Khế, Ths. Bùi Thị Khuyến, Nhà xuất bản
thống kê
5. />6.
Nhóm 06 –MBA11B
24