BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
NCS. Bùi Bá Khiêm
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP VỀ VỐN ĐẦU TƯ KHAI THÁC
CẢNG BIỂN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
NCS. Bùi Bá Khiêm
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP VỀ VỐN ĐẦU TƯ KHAI THÁC
CẢNG BIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tổ chức và Quản lý vận tải
Mã số: 62.84.10.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1: GS.TS. Vương Toàn Thuyên
2: PGS. TS. Nguyễn Hoàng Tiệm
HÀ NỘI - 2012
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu sử dụng
trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Bùi Bá Khiêm
3
4
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
FII
Foreign Indirect Investment - Vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp
GDP
Gross Domestics Produc - Tổng sản phẩm quốc nội
GRT
Gross tonage: Dung tải đăng ký
GTVT
Giao thông vận tải
ISO International Organization for Standardization - Tổ chức tiêu chuẩn hóa
quốc tế
JBIC Japan Bank for International Cooperation - Ngân hàng hợp tác quốc tế
Nhật Bản
KCHT
Kết cấu hạ tầng
NCS
Nghiên cứu sinh
NSNN
Ngân sách Nhà nước
ODA
Official Development Assistance: Hỗ trợ phát triển chính thức
PPP
Public Private Partnerships - Hợp tác Công tư
STEP
Phương thức vay ODA với lãi suất ưu đãi đặc biệt
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TCQT
Trung chuyển quốc tế
TEU
Twenty-foot equivalent units: container tiêu chuẩn 20’
giảm mạnh theo lộ trình đã cam kết. Điều này có nghĩa là khối lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu nói chung và khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển nói
riêng sẽ tăng đáng kể. Đây là một điều kiện thuận lợi, một cơ hội tốt cho ngành Hàng
hải Việt Nam lớn mạnh và phát triển, góp phần quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội đất nước.
So sánh với các nước khác, điều kiện tự nhiên về đường biển của Việt Nam
thuận lợi hơn nhiều, song kinh tế biển nước ta vẫn chưa có chỗ đứng trên thế giới
tương xứng với ưu đãi của thiên nhiên. Đã có rất nhiều đề xuất, hướng đi để phát
triển ngành kinh tế biển, trong đó việc huy động vốn đầu tư khai thác cảng biển,
nhằm tăng khả năng thông qua của cảng, nâng cao sức cạnh tranh với các nước khác
trong khu vực là hết sức cần thiết, cấp bách của ngành Hàng Hải Việt Nam hiện nay.
Cảng biển Việt Nam, đặc biệt là các cảng do Nhà nước đầu tư và quản lý,
mặc dù trong những năm gần đây được sự quan tâm đầu tư khai thác song vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của thị trường vận tải hiện nay. Do đòi hỏi ngày càng cao của
thị trường vận tải biển quốc tế và khu vực nên việc khai thác cảng biển là mục tiêu
hết sức quan trọng trước mắt cũng như lâu dài của cả nước. Mục tiêu trên đã được
cụ thể hóa trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế biển của Đảng và Nhà
nước đối với ngành Hàng hải. Tuy vậy, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế hiện nay,
hơn lúc nào hết bài toán huy động vốn đầu tư từ những nguồn nào để có thể đáp ứng
đủ cho nhu cầu khai thác cảng biển đang cần lời giải.
Chính vì vậy, cần phải có một công trình nghiên cứu các giải pháp về vốn
đầu tư khai thác cảng biển là hết sức cần thiết, từ đó sẽ giúp cho các cơ quan hoạch
9
10
định chính sách có những chiến lược phát triển phù hợp, tạo động lực tốt cho vận tải
biển, góp phần xứng đáng vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, NCS chọn đề tài
"Nghiên cứu giải pháp về vốn đầu tư khai thác cảng biển Việt Nam"
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu vấn đề lý luận về cảng biển, vốn đầu tư khai thác cảng biển, làm
5. Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, luận án góp phần hoàn thiện lý luận về khái niệm cảng biển, khai
thác cảng biển, vốn đầu tư khai thác cảng biển, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư khai thác cảng biển và mô hình huy động vốn đầu tư khai thác cảng
biển; nghiên cứu kinh nghiệm về huy động và sử dụng vốn đầu tư khai thác cảng biển
của một số quốc gia tiên tiến từ đó rút ra một số bài học hữu ích cho Việt Nam;
Thứ hai, phân tích đánh giá khách quan, đúng thực trạng huy động và sử dụng
vốn đầu tư khai thác cảng biển ở Việt Nam trong những năm gần đây. Rút ra những
đánh giá về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân việc huy động và sử dụng vốn đầu tư
khai thác cảng biển. Đây là một trong số các căn cứ cho việc tháo gỡ những bất cập và
thúc đẩy huy động, sử dụng vốn đầu tư khai thác cảng biển trong những năm tới.
Thứ ba, trên nền tảng lý luận và thực trạng huy động, sử dụng vốn đầu tư
khai thác cảng biển, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đa dạng hóa
khả năng huy động vốn như: huy động vốn đầu tư nước ngoài ODA, FDI, FII; sử
dụng mô hình kết hợp giữa hình thức chính quyền cảng và hình thức PPP… Luận
án cũng đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý vốn đầu tư khai
thác cảng biển: dành vốn đầu tư cho quy hoạch cảng, hiện đại hóa trang thiết bị,
tăng cường giao thông kết nối cảng,… và tập trung quản lý vốn đầu tư khai thác
cảng biển.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
a. Về mặt khoa học:
Góp phần hoàn thiện lý luận cơ bản về cảng biển, khai thác cảng biển; về
vốn và huy động vốn đầu tư khai thác cảng biển.
b. Về mặt thực tiễn:
- Đề tài làm rõ thực trạng hiện nay của khai thác cảng biển, chỉ ra nguyên
nhân thực trạng là gì, cách khắc phục như thế nào. Giải pháp mà luận án đưa ra sẽ
11
12
tạo điều kiện cho cảng biển có thể thoát ra sự bó hẹp về vốn trong quá trình đầu tư
khai thác, có thể thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
các tuyến đường vận chuyển hàng hóa bằng container, cơ sở vật chất kỹ thuật của vận
tải container, nguyên lý và phương pháp luận về quy hoạch cảng container cũng như
các nhân tố ảnh hưởng tới việc quy hoạch cảng container nói chung và ở Việt Nam
nói riêng. Luận án được tác giả phân tích, đánh giá thực trạng công tác quy hoạch bến
cảng container ở Việt Nam, đưa ra các điểm mạnh và hạn chế trong công tác quy
hoạch bến cảng container ở Việt Nam. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,
tác giả đã đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện phương pháp quy hoạch phát
triển cảng container ở Việt Nam, bao gồm: việc nghiên cứu quy hoạch bến container
bằng lý thuyết xếp hàng, cơ chế chính sách quản lý khai thác cảng container, phát
triển hệ thống cảng vệ tinh, nâng cao trình độ quản lý, khai thác cảng và các giải pháp
về bảo vệ môi trường sinh thái cảng biển. Luận án chú trọng vào quy hoạch bến cảng
container với giải pháp lập mô hình, thử nghiệm và đánh giá mô hình phù hợp với các
13
14
điều kiện cụ thể theo tiêu chí đã đặt ra từ ban đầu. Luận án có thể kế thừa được cở sở
lý luận chung về cảng biển, các giải pháp về quản lý và khai thác cảng. Tuy nhiên, đề
tài không đề cập đến các giải pháp về vốn đầu tư khai thác cảng biển nói chung, mô
hình cảng container được đề xuất nói riêng.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Công Xưởng, năm 2007, Hoàn thiện mô
hình quản lý Nhà nước về kết cấu hạ tầng cảng biển Việt Nam [99]. Luận án đã hệ
thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến cảng biển, hạ tầng cảng
biển và quản lý Nhà nước về kết cấu hạ tầng cảng biển; kinh nghiệm quản lý Nhà
nước về kết cấu hạ tầng cảng biển ở một số nước có ngành hàng hải phát triển trên
thế giới. Luận án đánh giá được thực trạng mô hình quản lý Nhà nước về cảng biển
và kết cấu hạ tầng cảng biển của Việt Nam và chỉ ra những điểm hạn chế, thiếu sót
về hoạt động quản lý Nhà nước của cảng biển và kết cấu hạ tầng cảng biển của Việt
Nam hiện nay. Luận án đi sâu vào phân rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia
quản lý, khai thác cảng biển, đồng thời tập trung đề xuất các giải pháp góp phần
hoàn thiện mô hình quản lý Nhà nước về kết cấu hạ tầng cảng biển Việt Nam. Luận
án có thể kế thừa được cơ sở lý luận của kết cấu hạ tầng cảng biển. Trong giới hạn
Đây là một đề án có nhiều nội dung liên quan đến nhu cầu phát triển cảng biển của
Việt Nam. Tuy nhiên đề án mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê và đưa ra những kinh
nghiệm phát triển cảng biển ở Nhật Bản. Việc áp dụng đề án vào phát triển cảng
biển Việt Nam còn nhiều vướng mắc. Đồng thời những kinh nghiệm này chưa đề
cập được những biện pháp thu hút vốn giúp các doanh nghiệp khai thác cảng biển
phát triển.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Trụ Phi, năm 2005, Nghiên cứu các giải
pháp về vốn để phát triển đội tàu vận tải biển nòng cốt của Việt Nam [53]. Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam chủ nhiệm
đề tài thực hiện năm 2007, Nghiên cứu khai thác nguồn vốn đầu tư để hiện đại hóa
đội tàu biển Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 [77].
Đề tài đã phân tích tình hình thực trạng đội tàu biển Việt Nam và đưa ra
những giải pháp để thoát khỏi sự bó hẹp về vốn để phát triển đội tàu: Sự hỗ trợ của
Nhà nước, áp dụng khấu hao nhanh, thanh lý tàu cũ, bán và thuê tàu mới, huy động
vốn tiết kiệm của người lao động, huy động vốn từ thị trường chứng khoán, mua
thuê tài chính. Đề tài thực hiện khi nền kinh tế chưa chịu sự cạnh tranh gay gắt khốc
15
16
liệt như hiện nay; đặc biệt giai đoạn này chưa bị ảnh hưởng của sự khủng hoảng
kinh tế thế giới giai đoạn 2007 – 2009, nên nhiều biện pháp huy động vốn không
phù hợp với tình hình hiện tại. Do đặc trưng của ngành vận tải biển nên luận án có
thể kế thừa một số giải pháp huy động vốn.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Hoàng Long, năm 2008, Tác động của toàn
cầu hóa kinh tế đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam [44]. Đề
tài này đề cập đến việc Chính phủ xây dựng cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, đồng thời
đề xuất các giải pháp để tạo sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam nhằm thu hút vốn
nước ngoài. Các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được đề tài
phân tích rõ ưu nhược điểm và đề nghị Nhà nước khuyến khích phát triển. Tuy vậy,
đề tài chỉ đề cập đến các giải pháp ở tầm vĩ mô, không cụ thể hóa các giải pháp theo
vốn vay đầu tư cho cảng và logistics; sử dụng mô hình SWOT để phân tích tính khả
thi trong việc đầu tư tài chính cho cảng. Luận án có thể kế thừa các giải pháp thu
hút vốn từ nguồn vay ngân hàng.
Các đề tài trên đều đưa ra những giải pháp có tính chất quản lý vĩ mô về vốn
trong nền kinh tế, tạo cơ chế pháp lý cho các kênh lưu thông vốn hoạt động. Không
nghiên cứu giải pháp huy động vốn để phát triển cho một ngành hay một công ty cụ
thể nào đó, và hầu như những biện pháp này đều mang tính vĩ mô.
Tóm lại, qua phân tích tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề có
liên quan đến đề tài mà luận án sẽ đi sâu nghiên cứu, NCS nhận thấy những đề tài về
cảng biển chưa nghiên cứu các giải pháp về vốn, mà mới chỉ tập trung nghiên cứu
quy hoạch, quản lý cảng biển. Các đề tài liên quan đến việc huy động và sử dụng vốn
thì chủ yếu nghiên cứu các chính sách và giải pháp điều tiết và quản lý vĩ mô hệ
thống tài chính, tiền tệ. Cũng có một số đề tài nghiên cứu về giải pháp huy động vốn
và sử dụng vốn thực hiện trong phạm vi ngành khác nhưng không đề cập tới lĩnh vực
khai thác cảng biển và cũng không phù hợp với tình hình hội nhập kinh tế thế giới
hiện nay. Chưa có đề tài nghiên cứu hoàn chỉnh nào được công bố về huy động và sử
dụng vốn đầu tư khai thác cảng biển Việt Nam.
17
18
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ KHAI THÁC CẢNG BIỂN
1.1 Cảng biển và khai thác cảng biển
1.1.1 Cảng biển
1.1.1.1 Khái niệm
Cảng biển là một trong những khái niệm được quan tâm nhiều trong lĩnh vực
vận tải biển. Có thể liệt kê một số định nghĩa tiêu biểu sau:
- Theo điều 59 của Bộ luật Hàng Hải năm 2005 thì Cảng biển là khu vực bao
gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt
trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách
và thực hiện các dịch vụ khác. Vùng đất cảng là vùng đất được giới hạn để xây
vận tải khác nhau.Trong kỉ nguyên toàn cầu hóa các cảng đã phát triển nhanh chóng
từ các cảng truyền thống kết nối vận tải biển với vận tải nội địa để trở thành nơi
cung cấp mạng lưới logistics hoàn chỉnh. Điều này có nghĩa cảng phải đối mặt với
rất nhiều thách thức về những thay đổi và những khuynh hướng không lường trước
được của môi trường ngành hàng hải, cảng biển và logistics.
Kế thừa những ưu điểm trong các nghiên cứu đi trước, quan điểm của luận án
về cảng biển là:
Cảng biển là đầu mối giao thông vận tải, tiếp nối giữa đất liền và biển. Cảng
biển được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào
hoạt động để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Kết cấu hạ tầng cảng biển đóng vai trò quan trọng trong việc xác định loại cảng,
khả năng thông qua của cảng.
1.1.1.2 Phân loại cảng biển
* Theo chức năng của cảng: thường có thể phân thành hai loại
- Cảng tổng hợp là các cảng thương mại, giao nhận nhiều loại hàng hoá.
Cảng tổng hợp bao gồm hai loại:
+ Cảng tổng hợp quốc gia: là cảng tổng hợp có quy mô lớn, công suất từ 1
triệu tấn trở lên; vùng hấp dẫn của cảng rộng lớn, có tính khu vực.
+ Cảng tổng hợp của các địa phương, các ngành: là cảng tổng hợp có quy mô
nhỏ phục vụ cho một địa bàn kinh tế của một Bộ, Ngành.
19
20
- Cảng chuyên dùng: là các cảng giao nhận một loại hàng hóa hoặc chỉ phục
vụ riêng cho một đối tượng. Cảng chuyên dùng bao gồm:
+ Cảng chuyên dùng cho container: phục vụ xếp dỡ container.
+ Cảng chuyên dùng cho hàng rời như xi măng, than, quặng, lương thực,
phân bón,…
+ Cảng chuyên dùng cho hàng lỏng như xăng dầu,…
+ Cảng chuyên dùng cho riêng một nhà máy hoặc khu công nghiệp, khu
chế xuất,…
phát triển kinh tế - xã hội của vùng, địa phương;
Cảng biển loại III: là cảng biển có qui mô nhỏ phục vụ cho hoạt động của
doanh nghiệp.
1.1.1.3 Chức năng, vai trò, vị trí của cảng biển
* Cảng biển có các chức năng cơ bản sau:
- Chức năng vận chuyển, bốc xếp hàng hóa:
Trong hệ thống vận tải quốc gia, cảng biển là điểm hội tụ của các tuyến vận tải
khác nhau (đường biển, đường sông, đường sắt, đường hàng không). Đây là một đầu
mối giao thông chính, tập trung cho mọi phương thức vận tải và các cảng biển thực
hiện chức năng vận tải thông qua việc phân phối hàng hóa.
- Chức năng thương mại và buôn bán quốc tế:
Với vị trí là đầu mối của các tuyến đường vận tải: đường sông, đường sắt,
đường bộ, đường hàng không…, ngay từ đầu mới thành lập, các cảng biển đã là địa
điểm tập trung trao đổi buôn bán của các thương gia từ khắp mọi miền, tại các vùng
cảng có vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi như nằm trên các trục đường hàng hải quốc tế
nối liền các châu lục, các khu vực phát triển kinh tế năng động… thì hoạt động trao
đổi kinh doanh, thương mại lại càng diễn ra sôi động hơn. Các vùng cảng này nhanh
chóng trở thành trung tâm thương mại không chỉ của khu vực mà còn của cả thế giới.
- Chức năng công nghiệp và cung ứng nhiên liệu
Các vùng cảng biển là những địa điểm thuận lợi cho việc xây dựng những nhà
máy xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp khác nhau vì nó cho phép tiết kiệm
được chi phí vận tải rất nhiều, nhất là những nhà máy sản xuất bằng nguyên liệu nhập
khẩu, đồng thời xuất khẩu sản phẩm của nó bằng vận tải đường biển sẽ đạt được sự
21
22
tiết kiệm rất lớn, hạ giá thành sản phẩm, giúp cho doanh nghiệp có thể cạnh tranh
được trên thị trường quốc tế. Ngoài ra các xí nghiệp công nghiệp này còn có thể liên
kết với nhau thạo thành một chu trình sản xuất đồng bộ và hiệu quả.
- Chức năng phát triển thành phố và đô thị:
Mối quan hệ tương quan giữa các cảng biển và thành phố là mối liên hệ tác
+ Vai trò ngày càng tăng của cảng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và mạng
lưới logistics;
+ Tăng năng suất và hiệu quả cảng; Chi phí đầu tư phát triển cảng cao.
* Cảng biển có vai trò, vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nói chung và hệ
thống vận tải của đất nước nói riêng
Trong lý thuyết hệ thống vận tải, cảng biển được coi là điểm vận tải ở một
mức độ trội lên, chúng là những đầu mốc vận tải, bởi vì chạy qua đây ít nhất là hai
tuyến đường vận tải hoạt động ở môi trường khác nhau, cùng với cảng biển là điểm
bắt đầu và kết thúc của các tuyến đường này. Chính cảng biển đồng thời là điểm nối
giữa các ngành kinh tế.
Cảng biển là mắt xích của dây chuyền vận tải, ngoài chức năng giống như các
cung đoạn vận chuyển khác, cảng còn phải thực hiện một số nhiệm vụ vận tải không
thể bỏ qua được trong sản xuất phục vụ của vận tải. Đặc điểm cơ bản này của cảng
biển trong dây chuyền vận tải càng cho ta thấy rõ tính chất cửa ngõ của cảng biển
trong hệ thống vận tải. Trong dây chuyền theo dõi toàn bộ quá trình kể từ khi bắt đầu
vận chuyển cho tới khi đưa được hàng tới chỗ sử dụng nó, cảng là một mắt xích có
tầm quan trọng đặc biệt.
1.1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của cảng biển
- Hệ thống cầu tàu: Là một phần trong hệ thống kết cấu hạ tầng quan trọng của
cảng, nó là phần tiếp giáp giữa đất liền với vùng nước được thiết kế và lắp đặt các thiết
bị cần thiết cho phép tàu cập cầu và thực hiện các hoạt động xếp dỡ hàng hóa một cách
an toàn.
- Thiết bị xếp dỡ hàng hóa: Là một bộ phận không thể thiếu được tại mỗi
cảng. Tùy thuộc vào từng loại cảng mà các trang thiết bị đặt trên cầu tàu cũng rất
khác nhau. Phổ biến nhất với các cảng là thiết bị xếp dỡ hàng hóa cho tàu và các
phương tiện vận tải khác trong bãi. Xu hướng ngày nay, các cảng được trang bị
chuyên dụng như: cầu giàn để xếp dỡ container, cẩu chân đế xếp dỡ hàng bách hóa,
23
24
băng chuyền bốc hàng rời, hệ thống bơm đối với hàng lỏng… Các thiết bị xếp dỡ
quả và năng suất; Cước phí hợp lí; Mớn nước sâu, tiếp nhận tầu có trọng tải lớn, thiết
bị hiện đại; Mạng lưới vận chuyển bao trùm các cảng feeder xung quanh; Có trung
tâm logistics hỗ trợ các dịch vụ gia tăng giá trị; Thủ tục, giấy tờ đơn giản; Công nghệ
thông tin hiện đại; Hạ tầng cho vận tải đa phương thức – kết nối mạng giao thông nội
địa và các trung tâm phân phối; Sự phát triển kinh tế của miền hậu phương.
Các trung tâm logistics: Toàn cầu hóa là nhân tố tác động mạnh nhất đến các
khuynh hướng của kinh tế thế giới, thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh tế, chính trị
giữa các quốc gia. Toàn cầu hóa đã tạo dựng một thị trường chung và các doanh
nghiệp tập trung vào việc tối đa ưu thế cạnh tranh khi tìm kiếm nguồn cung và cung
ứng sản phẩm. Rất nhiều nhân tố như tiêu chuẩn hóa các cấu thành sản phẩm, chi
phí vận tải thấp và cách mạng công nghệ thông tin đã tạo khả năng cho các công ty
tìm kiếm nguồn đầu vào và cung ứng đầu ra cho thị trường thế giới.
Một trong những khuynh hướng cơ bản của cảng là phát triển các khu vực
sau cảng thành trung tâm logistics hoặc khu thương mại tự do để thực hiện các hoạt
động logistics bổ sung giá trị và thu hút các công ty logistics thế giới. Lợi thế của
các khu vực định hướng logistics là thu hút đầu tư nước ngoài và tạo việc làm, đồng
thời nó cũng đảm bảo luồng hàng cho cảng. Rất nhiều cảng đã định hướng phát
triển thành cảng trung tâm để tận dụng những lợi thế này thông qua việc xây dựng
các hạ tầng cơ sở cần thiết, tiếp thị các ưu thế và khuyến khích đầu tư. Như vậy
cạnh tranh giữa các cảng hướng đến trung tâm logistics toàn cầu hoặc trung tâm xếp
dỡ toàn cầu ngày càng khốc liệt. Do cạnh tranh giữa các trung tâm logistics, hầu hết
các cảng đang cố gắng trở thành trung tâm phân phối để thu hút các công ty
logistics và các nhà sản xuất quốc tế. Điều này đòi hỏi cảng và sự quyết tâm hỗ trợ
mạnh mẽ của chính phủ để đảm bảo môi trường kinh doanh ổn định, tin cậy.
Với mô hình phát triển cảng trên, hiện trên thế giới có một số cảng đã áp
dụng tổ hợp chức năng phát triển cảng, tiêu biểu như: Cảng Hongkong, cảng
Singapore, cảng Rotterdam.
25