90 Giải pháp về vốn đầu tư cho phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Cà Mau - Pdf 25


GIẢI PHÁP VỀ VỐN ĐẦU TƯ
CHO PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Ở TỈNH CÀ MAU

CHUYÊN NGÀNH : KINH TEÁ TÀI CHÍNH – NGAÂN HAØNG
MÃ SỐ : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HÙNG
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT Nuôi trồng thủy sản NTTS
Ngân hàng NH

MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VÀ VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
5
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM NTTS
5
1.1.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản
5
1.1.2. Đặc điểm của nuôi trồng thủy sản
6
1.2. VAI TRÒ CỦA NTTS TRONG CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT NAM
8
1.3. VAI TRÒ CỦA YẾU TỐ VỐN TRONG PHÁT TRIỂN NTTS
21
1.3.1. Khái niệm về vốn
21
1.3.2. Vai trò của vốn trong phát triển NTTS
23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
30
CHƯƠNG
2
THỰC TRẠNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN VÀ
VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NTTS Ở TỈNH CÀ MAU
2.1. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
CỦA TỈNH CÀ MAU
32
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên

74
3.1.3. Đầu tư phát triển NTTS phải đặt trong bối cảnh hội nhập
kinh tế thế giới và khu vực
75
3.1.4. Đầu tư và cho vay NTTS phải đạt hiệu quả kinh tế - xã hội
và môi trường cao
76
3.1.5. Đổi mới cơ cấu đầu tư và cho vay NTTS theo hướng đồng
bộ từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng
khoa học công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, sản xuất thức ăn
thủy sản
77
3.1.6. Vốn phát triển NTTS của tỉnh cần hướng vào khai thác các
78
thế mạnh về đất đai, rừng ngập mặn, bãi bồi của từng vùng sinh thái,
đồng thời kết hợp giữa nuôi trồng với chế biến và xuất khẩu sản phẩm
tinh chế phù hợp với yêu cầu của thị trường
3.2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
79
3.2.1. Những giải pháp về quy hoạch và tổ chức sản xuất
79
3.2.2. Giải pháp tạo vốn
81
3.2.3. Giải pháp sử dụng vốn
85
3.3. CÁC GIẢI PHÁP HỔ TRỢ
90
3.3.1. Giải pháp về nguồn nhân lực
90
3.3.2. Giải pháp về thị trường tiêu thụ

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Trong cơ cấu các ngành kinh tế của tỉnh Cà Mau, thủy sản đã
được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Trong thời gian
qua, hiện nay và cũng như trong tương lai kinh tế thủy sản sẽ đóng một
vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh nhà.
Tiềm năng về phát triển kinh tế thủy sản của Cà Mau rất phong
phú: có bờ biển dài 254 km, bao bọc ba mặt từ Đông sang Tây; có ngư
trường rộng lớn khoảng 100.000 km
2
; có bãi biển rộng, bằng phẳng,
nước không sâu lại có các cửa sông là nơi trú ẩn cho nhiều loài tôm, cá,
… Ngư trường Cà Mau là 1 trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước,
có trữ lượng lớn và đa dạng nguồn hải sản có giá trị kinh tế cao như:
tôm, cua, mực, ghẹ, cá hồng, cá lạc, cá đường, cá ngừ, cá bớp, cá chai,
cá mú, … với 660 loài, 319 giống thuộc 138 họ, trong đó có 175 loài
thuộc 116 giống và 77 họ đã được định danh. Trữ lượng các loài hải sản
có thể khai thác ở ngư trường Cà Mau gồm: Vùng biển Đông có trữ
lượng các tầng nổi 520 nghìn tấn, có khả năng khai thác 210 nghìn
tấn/năm; tầng đáy có trữ lượng 800 nghìn tấn, có khả năng khai thác
400 nghìn tấn/năm. Vùng biển Tây có trữ lượng cá nổi 316 nghìn tấn,
có khả năng khai thác 126 nghìn tấn/năm; tầng đáy có trữ lượng 470
nghìn tấn, có khả năng khai thác 235 nghìn tấn/năm.
Bên cạnh đó, việc nuôi trồng tại khu vực mặt nước ven biển cũng
rất thuận lợi, gồm các loại nhuyễn thể và các loại hai mảnh vỏ như:
nghêu, sò huyết, các loại tôm, cua, cá nước mặn có giá trị cao trong
tiêu dùng và xuất khẩu. NTTS ven biển, đặc biệt là nuôi tôm, đang phát
triển nhanh chóng và trở thành thế mạnh của tỉnh Cà Mau.
Vùng biển Cà Mau còn có nhiều đảo, cụm đảo ven bờ như: cụm
đảo Hòn Khoai, đảo Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc, một số bãi cát ven biển
Đông của huyện Ngọc Hiển như: bãi Khai Long, bãi Giá Lồng Đèn, …

nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là vốn đầu tư cho ngành
thủy sản đã qua chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành
thủy sản. Do vốn đầu tư còn hạn chế nên định hướng cơ cấu vốn đầu tư
trên từng lĩnh vực chưa chuyển biến nhanh theo hướng tích cực và có
hiệu quả cao. Từ những vấn đề nêu trên cần tìm ra giải pháp về vốn đầu
tư nhằm đáp ứng cho yêu cầu phát triển của ngành thủy sản trong thời
gian tới, giúp cho ngành thủy sản phát huy các tiềm năng lợi thế của
mình để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, góp phần quan trọng vào việc
hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là vốn đầu tư cho
phát triển NTTS, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn là “Giải
pháp về vốn đầu tư cho phát triển nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Cà Mau”.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn:
- Làm rõ tiềm năng, lợi thế và thực trạng về NTTS ở tỉnh Cà Mau.
- Vạch rõ vai trò của vốn đầu tư (vốn Nhà nước, vốn tín dụng NH, vốn
nhân dân) đối với việc phát triển NTTS.
- Đánh giá thực trạng vốn đầu tư (vốn Nhà nước, vốn tín dụng NH, vốn
nhân dân) cho việc phát triển NTTS ở tỉnh Cà Mau.
- Đề xuất các giải pháp về vốn để thúc đẩy phát triển NTTS trong
thời gian tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Đối tượng nghiên cứu: là vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước,
vốn tín dụng NH và vốn đầu tư của nhân dân đối với sự phát triển thủy
sản ở tỉnh Cà Mau.
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu vốn đầu tư của Ngân
sách Nhà nước, vốn tín dụng NH và vốn đầu tư của nhân dân trong lĩnh
vực NTTS. Trên cơ sở đó đề ra giải pháp để tăng cường, phát huy hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng NH và
vốn đầu tư của nhân dân trong lĩnh vực NTTS trên phạm vi toàn tỉnh.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng

tỉnh Cà Mau .

X W CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VÀ VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
1.1.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản.
NTTS là hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp giữa tài nguyên
thiên nhiên sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ, ruộng trũng,
sông cụt, đầm phá, khí hậu..) với hệ sinh vật sống dưới nước (chủ yếu
là cá, tôm, và thủy sản khác..) có sự tham gia trực tiếp của con người.
Hoạt động này ở Việt Nam bao gồm nuôi, trồng các loại thủy sản nước
ngọt, nước lợ và nước mặn. Các loại thủy sản nuôi trồng chủ yếu hiện
nay là: tôm sú, tôm càng xanh, cá biển (cá song, cá hồng, cá cam, cá
vược, cá bớp, cá chẽm, cá măng…), cá nước ngọt (cá tra, cá ba sa, cá
chép, cá mè, rô phi, trê phi, trắm cỏ, cá trôi, bống tượng, tai tượng, cá
quả, sặc rằn, cá lóc…) các hình thức nuôi chủ yếu là:
- Nuôi tôm sú theo phương pháp công nghiệp và bán công nghiệp,
quảng canh, quảng canh cải tiến.
- Nuôi cá biển trong lồng bè trên mặt nước biển, sông, đầm phá,
ven biển, sông cụt, chủ yếu là cá chẽm, cá mú, cá tra, cá ba sa, cá bống
tượng, cá trôi, cá cá chép, cá mè, ba ba, lươn, ếch...
- Nuôi tôm càng xanh.
- Nuôi nhuyễn thể: ngao, nghêu, sò huyết, ốc..
- Nuôi thủy sản ao hồ, đìa, hầm.
- Nuôi thủy sản trên ruộng trũng, ruộng lúa.

phì nhiêu, độ màu mỡ của đất đai, diện tích mặt nước ngày một tăng);
mặt khác đất đai, diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng
nhất về mặt chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến
độ màu mỡ của đất đai, diện tích mặt nước giữa các vùng thường là
khác nhau. Chính vì vậy, khi sử dụng đất đai, diện tích mặt nước phải
hết sức tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ đất đai diện tích mặt nước trên
cả 3 mặt: pháp chế, kinh tế và kỹ thuật.
- NTTS có tính thời vụ cao. Trong NTTS ngoài sự tác động trực
tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu sự tác động của môi
trường tự nhiên. Nhân tố cơ bản quyết định tính thời vụ là quy luật sinh
trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng, những biểu hiện chủ
yếu của tính thời vụ trong NTTS là:
 Đối với mỗi đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng,
phát triển diễn ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản
xuất nên đòi hỏi thời gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của
con người tới chúng cũng khác nhau. Có thời gian đòi hỏi lao động
căng thẳng, có thời gian ít căng thẳng.
 Cùng một đối tượng NTTS nhưng ở những vùng có điều kiện
khí hậu, thời tiết khác nhau thường có mùa vụ sản xuất khác nhau.
 Các đối tượng NTTS khác nhau có mùa vụ sản xuất khác nhau.
Tính thời vụ trong NTTS có xu hướng dẫn tới tính thời vụ trong
việc sử dụng các yếu tố sản xuất nhất là sức lao động, công cụ lao động
và đất đai, diện tích mặt nước. Do điều kiện lao động thủ công, điều
kiện tự nhiên, thời tiết diễn biến bất thường, tính thời vụ trong NTTS
càng gây nên nhiều vấn đề phức tạp trong tổ chức quản lý sản xuất và
kinh doanh. Mặt khác, tính thời vụ trong NTTS còn ảnh hưởng và đòi
hỏi ngành thủy sản phải có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt việc thu
hoạch, tiêu thụ sản phẩm (bao gồm cả xác định giá bán theo mùa cho
phù hợp).
- Đối tượng sản xuất của ngành NTTS là những cơ thể sống.

trong NTTS.
 Trong NTTS đất đai, diện tích mặt nước phân bố không đều
giữa các vùng cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý NTTS. Đặc điểm
này đòi hỏi ngành NTTS phải có kế hoạch khai thác, sử dụng đầy đủ
các loại đất đai diện tích mặt nước hiện có; mặt khác phải tiến hành cân
đối lao động, bồi dưỡng và nâng cao trình độ lao động, đặc biệt ở các
vùng sâu, vùng xa.
 Nghề NTTS Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới
ẩm có pha trộn ít khí hậu vùng ôn đới.
Tài nguyên khí hậu, một mặt tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành
NTTS: có thể nuôi trồng được nhiều đối tượng có nguồn gốc từ vùng
nhiệt đới và những đối tượng có nguồn gốc từ các vùng ôn đới, đồng
thời có thể nuôi được nhiều vụ trong một năm; mặt khác, khí hậu nước
ta cũng gây ra những khó khăn phức tạp cho ngành NTTS như: bão lụt,
gió mùa Đông Bắc, sương muối, các vùng ven biển sóng gió thủy triều,
sóng thần, ... Do đó, ngành thủy sản cần có những phương án đề phòng
để chinh phục và cải tạo thiên nhiên, đảm bảo năng suất sản lượng cao
và ổn định.
1.2. VAI TRÒ CỦA NTTS TRONG CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT NAM
Sự phát triển của hoạt động NTTS đã trở thành một bộ phận quan
trọng trong cơ cấu kinh tế nói chung và nông, lâm nghiệp, thủy sản nói
riêng ở nước ta. Trong điều kiện nguồn lợi thủy sản ven bờ bị cạn kiệt,
khai thác thủy sản xa bờ có nhiều khó khăn do thiên tai, bão lũ, chi phí
lớn, phương tiện hiện đại đầu tư lớn thì NTTS là hướng phát triển ổn
định và lâu dài đối với các nước có biển cũng như không có biển. Vai
trò của hoạt động NTTS đối với phát triển kinh tế - xã hội thể hiện trên
nhiều mặt: thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động nông thôn, nhất là vùng ven biển; tạo nguồn nguyên liệu quý
giá cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu; tạo việc làm tăng thu nhập
cho dân cư nhất là vùng nông thôn ven biển; bảo vệ môi trường sinh

ni trồng tăng từ 1.003,1 nghìn tấn năm 2003, lên 1.202,5 nghìn tấn
năm 2004, lên 1.478 nghìn tấn năm 2005 và 1.694,2 nghìn tấn năm
2006. Trong q trình phát triển, nhiều mơ hình ni thủy sản năng suất
cao, hiệu quả đã xuất hiện như ni tơm sú cơng nghiệp, ni cá lồng,
cá bè, cá ruộng,... Tuy còn khơng ít khó khăn và bất cập nhưng đánh
giá tổng qt, sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất như trên về cơ bản là tích
cực, đúng hướng, có tác dụng nhiều mặt cả về kinh tế - xã hội và mơi
trường. Tác dụng của hoạt động NTTS những năm qua đã được thể hiện
rõ trên các mặt sau:
- Góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh bằng việc thu
hút ngoại lực thơng qua xuất khẩu thủy sản
. Nhờ NTTS tăng nhanh nên
sản lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng với tốc độ
nhanh theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Năm 1980 kim ngạch
xuất khẩu thủy sản cả nước mới đạt 11 triệu USD, và 20 năm sau, năm
2000 cũng chỉ đạt 1 tỷ USD. Vậy mà năm 2005 đã đạt 2,5 tỷ USD và
năm 2006 đạt trên 3 tỷ USD.
Nguồn ngoại tệ do xuất khẩu thủy sản đem lại đã và đang góp phần
tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước, tăng ngân sách
quốc gia và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đến nay,
nhiều mặt hàng thủy sản ni trồng của Việt Nam đã có mặt trên thị
trường các nước và khu vực, kể cả các thị trường khó tính như EU, Bắc
Mỹ, Nhật Bản.
- Tạo chỗ làm mới cho lao động nơng thơn, chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng đa ngành, đa sản phẩm, xóa dần
thế độc canh trong nơng nghiệp, nơng thơn. Theo Bộ Thủy sản, hiện
nay cả nước có trên 4 triệu lao động tham gia trực tiếp sản xuất và dịch
vụ trong 3 lĩnh vực chính: khai thác, ni trồng và chế biến thủy sản.
Trong số này có trên 50% là lao động NTTS và mỗi năm tăng thêm
khoảng 250 nghìn người. Sau bão Chăn Chu, do một số tàu thuyền mất

trạng đó. Trong phong trào phát triển NTTS ở các địa phương những
năm qua đã hình thành các mô hình tạo cân bằng sinh thái cây trồng vật
nuôi đạt hiệu quả cả về kinh tế và môi trường. Đó là mô hình VAC, mô
hình nuôi tôm sinh thái, mô hình tôm - lúa, lúa - cá ở ĐBSCL, nuôi tôm
công nghiệp, bán thâm canh. Tuy nhiên, hiện nay cũng đang tồn tại một
số hình thức NTTS tự phát, gây ô nhiễm môi trường sinh thái dẫn đến
tình trạng tôm chết hàng loạt và ô nhiễm môi trường đất, nguồn nước,
rừng ngập mặn. Đó là những mặt trái của chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ
đất lúa năng suất thấp sang NTTS ở một số địa phương cần khắc phục.
- NTTS tạo thêm các nhân tố mới thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn, cơ cấu GDP khu vực I.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động từ nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn đã diễn ra trên phạm vi
cả nước, nhất là các vùng nông thôn ven đô thị, ven các khu công
nghiệp và các vùng có nhiều ngành nghề truyền thống, vùng sản xuất
nông sản hàng hóa tập trung.
Thực tế là sau khi có Nghị quyết 09 của Chính phủ, phong trào
chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm ở các tỉnh ven
biển đã phát triển mạnh, nhất là vùng bán đảo Cà Mau và duyên hải
Nam Trung Bộ. Năm 2001, cả nước đã chuyển trên 174 nghìn ha đất lúa
vùng ven biển sản xuất bấp bênh, năng suất và hiệu quả thấp sang
NTTS, chủ yếu là nuôi tôm quảng canh có lợi hơn. Các vùng và địa
phương chuyển đổi nhiều và nhanh là vùng bán đảo Cà Mau (Cà Mau
chuyển trên 100 nghìn ha, Bạc Liêu chuyển 34 nghìn ha, Sóc Trăng
chuyển 25 nghìn ha...), Duyên hải Nam Trung bộ chuyển 9 nghìn ha.
Trong 2 năm 2002 và 2003 xu hướng trên vẫn tiếp tục: vụ lúa đông
xuân 2002 diện tích gieo cấy giảm 24,2 nghìn ha (-0,8%) so với vụ
đông xuân 2001, vụ đông xuân 2003, diện tích lúa tiếp tục giảm 10,2
nghìn ha (vùng ĐBSCL giảm 14,9 nghìn ha, vùng Đông Nam Bộ giảm
1.600 ha, vùng ĐBSH giảm 5.000 ha) so với cùng kỳ năm 2002, chủ


1. Nông nghiệp 80,67 79,06 76,41 76,90 73,52 76,78 75,90 70,62
1.1. Trồng trọt 62,85 61,86 59,52 58,98 55,11 61,51 59,00 51,90
1.2. Chăn nuôi 15,53 15,28 14,97 16,20 16,64 13,53 15,00 17,44
1.3. Dịch vụ 2,29 1,92 1,92 1,72 1,77 1,74 1,90 1,28
2. Lâm nghiệp 5,23 4,75 4,69 4,27 4,32 3,60 3,70 3,56
2.1.Trồng rừng 0,94 0,69 0,62 0,59 0,60 0,50 0,50 0,51
2.2.Khai thác 4,10 3,88 3,88 3,48 3,53 3,00 3,10 2,85
2.3. Dịch vụ 0,19 0,17 0,19 0,20 0,20 0,10 0,10 0,20
3. Thủy sản 14,00 16,00 18,90 18,83 22,15 19.70 22,40 25,82
3.1. Khai thác 9,50 9,00 9,89 8,15 9,60 8,73 9,80 8,81
3.2.Nuôi trồng 4,50 7,00 9,01 10,68 12,55 10,89 12,60 17,01
(Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2006, trang 215- 312, NXB Thống kê)
Sự khởi sắc về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn của các vùng,
các địa phương tuy có khác nhau nhưng đều có mục đích chung là giảm
số lượng và tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng số lượng và tỷ trọng
lao động phi nông nghiệp từ đó tăng năng suất lao động, tăng thu nhập
và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các hộ nông thôn. Đến nay,
cơ cấu kinh tế, lao động nông thôn đã chuyển dịch từ nông nghiệp sang
phi nông nghiệp với tốc độ từ 1 đến 1,5%/năm. Nếu năm 1994, cơ cấu
kinh tế nông thôn cả nước 71% là nông nghiệp và 29% là công nghiệp
và dịch vụ thì đến năm 2001, 2 tỷ lệ tương ứng là 62% và 38%. Tỷ
trọng lao động nông nghiệp giảm từ 80% xuống 70% và lao động phi
nông nghiệp tăng từ 20% lên 30% trong thời gian tương ứng.
Kết quả trên do nhiều nguyên nhân, trong đó quan trọng nhất là tác
động tích cực của các chính sách kinh tế - tài chính ban hành trong
những năm qua đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
khu vực I. Một số chính sách tiêu biểu là: Nghị quyết 06-NQ/TW ngày
10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp
và nông thôn; Nghị quyết 09/NQ/CP ngày 15/06/2000 của Chính phủ về

chế biến và xuất khẩu thủy sản. Do vậy, nét nổi bật trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong khu vực I những năm qua là sự gia tăng nhanh
chóng tỷ trọng ngành thủy sản dưới tác động tích cực của cơ chế, chính
sách và giải pháp kinh tế - tài chính, trong đó có các giải pháp vốn. Dù
chương trình đánh bắt thủy sản xa bờ còn nhiều bất cập, xu hướng
chuyển đất lúa sang NTTS còn tự phát nhưng kết quả và tiến bộ của
ngành này trong những năm đổi mới là điều cần khẳng định. Với kết
quả này, 2 ngành nông nghiệp và thủy sản đã hoàn thành vượt mức kế
hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế do Đại hội IX đề ra cho năm 2005.
- Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nội bộ ngành thủy sản.
Trong giai đọan từ 1999 - 2006 ngành thủy sản, chủ yếu là nuôi
trồng đã đạt được những kết quả và tiến bộ trong phát triển và chuyển
dịch cơ cấu sản xuất. Đây là thời kỳ có tính chất bước ngoặc đối với
ngành thủy sản Việt Nam.
Với phương châm kết hợp giữa khai thác với nuôi trồng và chế biến
xuất khẩu, trong đó trọng tâm là phát triển mạnh NTTS ở những vùng
có điều kiện và các vùng mới chuyển đổi đất lúa trước đây, ngành thủy
sản đã tăng chất lượng và hiệu quả sản xuất gắn với bảo vệ tài nguyên
môi trường. Thực hiện phương châm đó, một mặt Nhà nước khuyến
khích các thành phần kinh tế khai thác mọi tiềm năng về vốn và kinh
nghiệm, mặt khác tập trung vốn ngân sách, vốn tín dụng ưu đãi cho
ngành thủy sản, nhất là thực hiện chương trình đánh bắt thủy hải sản xa
bờ và NTTS ven biển, trên sông, hồ. Những kết quả đạt được trong thời
kỳ này vượt xa các thời kỳ trước đó cả về quy mô, tốc độ phát triển và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế (xem biểu 1.2).
Biểu 1.2:
KẾT QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
TRONG NGÀNH THỦY SẢN NHỮNG NĂM 1996-2006.
Đơn vị tính: %


vùng ĐBSCL (cá ruộng, cá bè, cá lồng, cá hầm...). Do đó, tốc độ tăng
diện tích NTTS hàng năm 6-7% và sản lượng thủy sản tăng hàng năm
gần 20% là có cơ sở. Các hình thức nuôi cá lồng, bè phát triển mạnh
với quy mô lớn theo mô hình gắn sản xuất với chế biến và xuất khẩu
thủy sản.
Ngoài tôm, cá là chủ yếu, nhiều vùng còn mở rộng nuôi các loại
thủy sản khác có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu cao như nghêu (Trà
Vinh, Bến Tre), sò huyết (Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Duyên hải
miền Trung), ba ba, ếch... NTTS được Nhà nước tập trung đầu tư trong
thời kỳ này. Nghề NTTS tiếp tục phát triển theo chiều sâu, hầu như đã
chuyển hướng sang nuôi tăng sản, đối tượng nuôi có chọn lọc, hình
thức nuôi chuyển dần sang nuôi quảng canh cải tiến và thâm canh. Đặc
biệt các tỉnh ven biển và đồng bằng Nam Bộ phát triển mạnh, hướng
chuyển dần sang nuôi thủy sản nước lợ và nước mặn. Kết quả là sản
lượng thủy sản nuôi trồng tăng nhanh cả về tốc độ và chủng loại sản
phẩm.
Năm 2000 sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 589,6 nghìn tấn, tăng
22,6% so năm 1999; năm 2001 đạt 709,9 nghìn tấn, tăng 20% so năm
2000; năm 2002 đạt 844,8 nghìn tấn, tăng 19% so năm 2001; năm 2003
đạt 1003,1 nghìn tấn, tăng 18,7% so năm 2002; năm 2004 đạt 1202,5
nghìn tấn, tăng 19,9% so năm 2003 và năm 2005 đạt 1.478,0 nghìn tấn,
tăng 22,9% so năm 2004 và năm 2006 đạt 1694,2 nghìn tấn, tăng 14,6%
so năm 2005 và tăng gấp 2,39 lần so với năm 2001. Đó là những tốc độ
tăng trưởng cao, chưa từng có trong hoạt động NTTS từ trước đến nay,
vượt xa tốc độ khai thác thủy sản và tạo đà cho việc chuyển dịch cơ cấu
sản xuất trong ngành này theo hướng bền vững.
Từ khi chuyển thành ngành kinh tế cấp I (1993). Tính chung, từ
năm 1993 đến năm 2006 ngành thủy sản đã đạt được kết quả khả quan:
Tốc độ phát triển giá trị sản lượng thủy sản tăng 231,3%, tốc độ tăng
trưởng bình quân của cả thời kỳ là 9,7%. Sản lượng thủy sản khai thác

thủy sản nói chung, NTTS nói riêng đã có bước phát triển và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hàng hóa rõ nét hơn. Nét mới trong sản
xuất thủy sản 6 năm qua là cơ cấu sản phẩm đã có bước chuyển đổi tích
cực. Tỷ trọng sản lượng thủy sản nuôi trồng trong sản lượng thủy sản
tăng từ 29,20% năm 2001, lên 31,91% năm 2002, lên 35,08% năm
2003, lên 38,24% năm 2004, lên 43,64% năm 2005 và 45,84% năm
2006. Tỷ trọng sản lượng thủy sản đánh bắt giảm từ 70,80%, xuống
68,09%, xuống 64,92%; xuống 61,76%, xuống 57,36% và 54,16% trong
thời gian tương ứng. Tính đến năm 2006, cả nước có 988,4 nghìn ha
diện tích đất có mặt nước NTTS các loại, trong đó có 679,2 nghìn ha
mặt nước mặn, lợ và 505,2 nghìn ha mặt nước ngọt. Số hộ NTTS lên tới
2 triệu hộ, trong đó có 1,6 triệu hộ nuôi cá, gần 400 nghìn hộ nuôi tôm.
Số hộ NTTS phân theo loại nước như sau, trên 1,6 triệu hộ nuôi thủy
sản nước ngọt, gần 300 nghìn hộ nuôi thủy sản nước mặn và lợ. Số hộ
nuôi thủy sản trong ruộng nước theo hình thức xen canh lên đến trên
220 nghìn hộ. Số trang trại NTTS năm 2006 là 34.202 trang trại (năm
2005 có 35.648 trang trại), tăng gấp hơn 2 lần năm 2001 (17.016 trang
trại). Số lượng trang trại nhiều nhất là ĐBSCL có 25.147 trang trại,
Đông Nam Bộ có 1.338 trang trại; duyên hải Nam Trung Bộ có 2.323
trang trại, Bắc Trung Bộ có 1.233 trang trại, ĐBSH có 1.072 trang trại,
đông Bắc có 1.019 trang trại và ít nhất là Tây Bắc chỉ có 36 trang trại.
Kết quả đó cho thấy chủ trương đổi mới cơ cấu sản xuất trong
ngành thủy sản đã chuyển từ khai thác nguồn lợi sẵn có của thiên nhiên
sang NTTS trên cơ sở khai thác, sử dụng các tiềm năng và thế mạnh về
diện tích mặt nước và nguồn lao động hiện có, để phát triển sản xuất,
phù hợp với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Hoạt động NTTS trong 6 năm qua, có nhiều khởi sắc đáng ghi
nhận: quy mô diện tích tiếp tục mở rộng, cơ cấu sản xuất chuyển dịch
theo hướng tăng tỷ trọng tôm, giảm tỷ trọng cá cả về diện tích và sản
lượng. Do vậy, cơ cấu sản phẩm cũng có bước chuyển từ thủy sản khác

nghêu, ốc, trai các loại) chất lượng thủy sản nuôi trồng đã cao hơn vì
giá trị kinh tế của tôm cao hơn nhiều so với cá và các loại thủy sản
khác. Giữa tôm và cá, tỷ trọng tôm có xu hướng tăng nhanh hơn cá do
tốc độ tăng sản lượng tôm nuôi bình quân/năm đạt 18,5% trong khi đó
cá chỉ có 15,8%, do thị trường và giá cả tôm ổn định, nuôi tôm hiệu quả
cao hơn. Trong hoạt động nuôi tôm những năm 1999-2006, một nét mới
tiến bộ là phong trào nuôi tôm theo phương pháp công nghiệp và bán
thâm canh phát triển mạnh, nhất là ở các tỉnh phía Nam. Riêng 2 tỉnh
Bạc Liêu và Sóc Trăng năm 2006 có diện tích nuôi tôm công nghiệp và
bán thâm canh tăng gấp 3 lần năm 2002. Mô hình nuôi cá, tôm trên
ruộng phổ biến là theo công thức 1 vụ lúa, 1 vụ cá hoặc tôm. Phong
trào nuôi cá lồng bè tuy chi phí cao và có khó khăn do ảnh hưởng tiêu
cực của vụ kiện cá tra, cá ba sa ở Mỹ nhưng kết quả đạt được trong
những năm gần đây vẫn khả quan. Số lồng bè và sản lượng cá lồng bè
hàng năm vẫn tăng đều, nhất là ở tỉnh An Giang. Phong trào nuôi cá
ruộng phát triển mạnh không chỉ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long mà
còn ở các tỉnh khác với nhiều hình thức và quy mô khác nhau.
Sản xuất thủy sản nuôi trồng phát triển toàn diện, đa dạng hóa hình
thức và sản phẩm và tăng trưởng khá đã góp phần quan trọng đối với
xuất khẩu thủy sản trên cả 2 mặt: tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu
sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản những năm
gần đây tăng trung bình 10,7%/năm. Cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất
khẩu cũng có bước chuyển dịch tích cực, trong đó rõ nét nhất là tỷ
trọng thủy sản nuôi trồng ngày càng tăng cả về số lượng và giá trị. Bên
cạnh các mặt hàng truyền thống như thủy sản đông lạnh, đã phát triển
nhiều mặt hàng xuất khẩu thủy sản chế biến chất lượng cao phù hợp với
yêu cầu thị trường. Mặt hàng tôm có xu hướng tăng cao và sản phẩm
xuất khẩu đa dạng nên những năm qua đã xuất khẩu sang các thị trường
khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản. Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu tôm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status