GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lý do chọn đề tài
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự
nhiên 16.488km
2
và dân số trung bình 3,03 triệu người, chiếm 5,1% diện tích
tự nhiên và 3,64% dân số cả nước (năm 2005). Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa
ở phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở
phía Tây với 419 km đường biên giới và biển Đông ở phía Đông với chiều dài
82 km. Vị trí này tạo cho Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu
kinh tế – xã hội Bắc – Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối
ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế.
Trong cơ cấu các ngành kinh tế của tỉnh Nghệ An, thủy sản đã được xác
định là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Trong thời gian qua, hiện nay và
cũng như trong tương lai kinh tế thủy sản sẽ đóng một vai trò rất quan trọng
trong việc phát triển kinh tế của tỉnh.
Tiềm năng về phát triển kinh tế thủy sản của Nghệ An rất phong phú:
Nghệ An có bờ biển dài 82 km và diện tích vùng biển 4.230 hải lý vuông, dọc
bờ biển có 6 cửa lạch (Lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa
Hội ) với độ sâu từ 1 đến 3,5 m thuận lợi cho tàu thuyền có trọng tải 50-1.000 tấn
ra vào.Từ độ sâu 40 m trở vào là vùng có đáy tương đối bằng phẳng, vùng
phía ngoài có nhiều đá ngầm và chướng ngại vật, cồn cát, nơi tập trung nhiều
bãi cá có giá trị kinh tế cao. Vùng biển có nhiều loại động vật phù du là nguồn
thức ăn tốt cho các đàn cá sinh sống và phát triển. Khả năng sinh sản của cá
rất mạnh, không di cư xa mà chỉ di cư theo tầng và thời gian trong ngày.Theo
điều tra của Viện nghiên cứu hải sản, trữ lượng hải sản các loại Nghệ An
khoảng 80.000 tấn (số liệu công bố năm 1998), khả năng khai thác cho phép
khoảng 35-37 nghìn tấn/năm.Trữ lượng cá ở vùng có độ sâu trên 30 m trở ra
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
1
chiếm 60%; cá nổi chiếm 30%, cá đáy chiếm 70%, lượng cá nổi có khả năng
2
hướng cơ cấu vốn đầu tư trên từng lĩnh vực chưa chuyển biến nhanh theo
hướng tích cực và có hiệu quả cao.
Từ những vấn đề nêu trên cần tìm ra giải pháp về vốn đầu tư nhằm đáp
ứng cho yêu cầu phát triển của ngành thủy sản trong thời gian tới, giúp cho
ngành thủy sản phát huy các tiềm năng lợi thế của mình để đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế -
xã hội của tỉnh, nhất là vốn đầu tư cho phát triển thủy sản, em chọn đề tài
nghiên cứu là:
“Một số giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển ngành thủy
sản ở tỉnh Nghệ An đến 2010 ”.
2. Mục đích nghiên cứu :
- Làm rõ tiềm năng, lợi thế và thực trạng ngành thủy sản Nghệ An
- Làm rõ vai trò vốn đầu tư cho việc phát triển ngành thủy sản Nghệ
An
- Đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư cho phát triển ngành thủy
sản Nghệ An
- Đề xuất các giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển ngành thủy sản
trong thời gian tới
3. Nội dung nghiên cứu :
Chuyên đề nghiên cứu vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng
NH và vốn đầu tư của nước ngoài trong ngành thủy sản. Trên cơ sở đó đề ra giải
pháp để tăng cường, phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Ngân sách Nhà
nước, vốn tín dụng ngân hàng và vốn đầu tư nhân dân trong ngành thủy sản
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu: là vốn đầu tư của Ngân sách Nhà nước, vốn tín
dụng ngân hàng và vốn đầu tư của nhân dân đối với sự phát triển thủy sản ở
tỉnh Nghệ An
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
3
I. Sơ lược về ngành thủy sản.
Ngành thủy sản là ngành mà hoạt động sản xuất dựa trên cơ sở kết hợp
giữa tài nguyên thiên nhiên sẵn có (mặt nước biển, nước sông ngòi, ao hồ,
ruộng trũng, sông cụt, đầm phá, khí hậu..) với hệ sinh vật sống dưới nước
(chủ yếu là cá, tôm, và thủy sản khác..) có sự tham gia trực tiếp của con
người.
Ngành thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất của
Việt Nam, nước có đường bờ biển dài trên 3.200 km và một Vùng Đặc quyền
Kinh tế (EEZ) có diện tích trên 1 triệu km2. Mạng lưới sông ngòi rộng khắp
có ảnh hưởng to lớn tới hệ thống canh tác lúa nước đã tạo cho đất nước một
tiềm năng dồi dào để phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản nước mặn,
nước lợ và nước ngọt.
Trong quá trình xây dựng đất nước. Chủ trương phát triển ngành thủy
sản của Đảng và Nhà nước ta là khai thác có hiệu quả tiềm năng sẵn có của
địa phương để thúc đẩy phát triển ngành, mở rộng diện tích nuôi trồng thủy
sản, tập trung chủ yếu ở vùng bãi bồi ven biển, nhưng không ảnh hưởng đến
vành đai rừng ngập mặn, đảm bảo cân bằng hệ sinh thái bền vững và lâu dài;
tận dụng các hồ đập nuôi tôm, cá nước ngọt. Chọn hình thức nuôi, giống loài
nuôi trồng cho phù hợp với từng vùng để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Đồng thời tập chung đầu tư nuôi trồng thủy sản biển theo hướng thâm canh và
bán thâm canh với các đối tượng nuôi chính: tôm sú, tổm rảo, tôm chân trắng,
cua biển, cá biển….. Chuyển đổi hình thức nuôi quảng canh cải tiến sang nuôi
thâm canh và bán thâm canh để phát huy tối đa tiềm năng. Mở rộng diện tích
nuôi nhuyễn thể không đê cống ở một số bãi cát.Cùng với đó là đầu tư nâng
cấp cơ sở hạ tầng phụ vụ cho nuôi trồng thủy sản cũng như khai thác thủy sản.
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
5
Đặc biệt chú ý đến khâu chế biến, hậu cần nghề cá và tiêu thụ sản phẩm hàng
hóa. Nâng cấp số lượng tàu thuyền hiện có để nâng cao công suất, hạn chế tàu
thuyền công suất dưới 20CV.
dệt may và giày dép). Chính phủ Việt Nam đánh giá thủy sản là một
ngành quan trọng trong những nỗ lực cải cách và phát triển của đất nước
và chính phủ tiếp tục đặt những mục tiêu kế hoạch giàu tham vọng cho
sản xuất và xuất khẩu tới năm 2010.
Lĩnh vực thủy sản là lĩnh vực đầu tiên chịu thử thách, rủi ro từ hội nhập
kinh tế. Khởi đầu từ một nền sản xuất phụ trong ngành nông nghiệp, chủ yếu
là tự cung tự cấp, phục vụ nhu cầu trong nước, mãi cho đến những năm 1990,
thị trường xuất khẩu của hàng thuỷ sản Việt Nam vẫn chỉ quanh quẩn trong
khu vực Đông Âu. Nhưng giờ đây, ngành thuỷ sản vươn mình đứng dậy và
trở thành một trong số ít những lĩnh vực đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ
USD và là một trong những ngành phải "rát mặt" nhiều nhất khi hội nhập.
Bên cạnh đó, nhờ sự phát triển ngành thủy sản ở các nước trên thế giới, chủ
yếu là các nước đang phát triển, khiến sản phẩm thuỷ sản dần mất đi tính xa
xỉ, mà có xu hướng bình dân hoá tiêu dùng. Không chỉ ở các nước phát triển
mà cả các nước đang phát triển, nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản cũng gia tăng. Thị
trường thuỷ sản cũng đang có sự phân cực trong tiêu thụ, trong đó, sản phẩm
đắt tiền dành cho người tiêu dùng giàu có và sản phẩm rẻ tiền dùng cho các
thị trường nghèo; hầu như không có sản phẩm dư thừa. Chính vì vậy, các
doanh nghiệp cũng đã mở ra được nhiều thị trường khác, như Trung Đông,
ASEAN, Trung Quốc…
II. Đặc điểm của ngành thủy sản.
Ngành thủy sản có các đặc điểm như sau:
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
7
Ngành thủy sản là một ngành phát triển trên phạm vi cả nước và có đối
tượng phức tạp so với các ngành sản xuất khác. Tính chất rộng khắp của
ngành thủy sản thể hiện ở nghề nuôi trồng thủy sản phát triển ở khắp các
vùng trong nước từ đồng bằng, trung du, miền núi cho đến các vùng ven
biển, ở đâu có diện tích mặt nước là ở đó có thể phát triển ngành thủy sản.
Song, mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau nên có
căng thẳng.
•Là ngành phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu, thời tiết khác nhau
thường có mùa vụ sản xuất khác nhau. Các đối tượng ngành nuôi trồng thủy
sản khác nhau có mùa vụ sản xuất khác nhau.
Tính thời vụ trong nuôi trồng thủy sản có xu hướng dẫn tới tính thời vụ
trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất nhất là sức lao động, công cụ lao động
và đất đai, diện tích mặt nước. Do điều kiện lao động thủ công, điều kiện
tự nhiên, thời tiết diễn biến bất thường, tính thời vụ trong ngành thủy sản càng
gây nên nhiều vấn đề phức tạp trong tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh.
Mặt khác, tính thời vụ trong ngành thủy sản còn ảnh hưởng và đòi hỏi ngành
thủy sản phải có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt việc thu hoạch, tiêu thụ sản
phẩm (bao gồm cả xác định giá bán theo mùa cho phù hợp).
Đối tượng sản xuất của ngành ngành thủy sản là những cơ thể sống.
Chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh
học. Do đó, trong quá trình sản xuất chúng luôn luôn đòi hỏi sự tác động thích
hợp của con người và tự nhiên để sinh trưởng và phát triển. Vì thế, có hàng
loạt các vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết để đạt năng suất các đối tượng nuôi
trồng thủy sản cao như: nâng cao chất lượng con giống, quản lý chất lượng
môi trường và xây dựng các quy trình sản xuất tiên tiến cho năng suất cao.
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
9
Một số sản phẩm thủy sản sản xuất ra được giữ lại làm giống để tham
gia vào quá trình tái sản xuất vụ sau. Trong ngành nuôi trồng thủy sản một
số sản phẩm như: đàn cá thịt, tôm thịt được tuyển chọn làm cá bố mẹ hoặc
tôm bố mẹ để cho đẻ trong quy trình sản xuất tiếp theo. Do đó, trong quá
trình nuôi trồng thủy sản phải quan tâm đến việc sản xuất, nhân ra các loại
giống tốt.
Đồng thời, ngành thủy sản phải quan tâm xây dựng một hệ thống giống
quốc gia, hệ thống giống cho từng vùng, từng khu vực. Ngoài những đặc
điểm trên, ngành thủy sản Việt Nam còn có những đặc điểm riêng. Đó là:
phương án đề phòng để chinh phục và cải tạo thiên nhiên, đảm bảo năng suất
sản lượng cao và ổn định.
III. Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển ngành thủy sản.
1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên.
Đây là yếu tố tiên quyết để phát triển ngành thuỷ sản của một quốc gia.
Việt Nam có hệ thống sông ngòi đa dạng và bờ biển trải dài tạo điều kiện thuận
lợi cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Yếu tố khí hậu cũng là yếu tố
quyết định sự sống còn để phát triển ngành thủy sản. Là đất nước có khí hậu
nhiệt đới gió mùa, độ ẩm tương đối cao rất thích hợp cho phát triển thủy sản.
2. Con người và nguồn nhân lực.
Nhân dân ta có kinh nghiệm, truyền thống đánh bắt cá và nuôi trồng thủy
sản. Là đất nước có dân số đông, chủ yếu tập trung vào ngành nông - lâm -
thủy sản là chủ yếu. Việc phát triển ngành thủy sản sẽ tạo một khối lượng việc
làm lớn, giúp giải quyết nhu cầu việc làm hiện tại.
3. Vốn đầu tư
Ngành thủy sản phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư cho nuôi trồng, khai
thác, đánh bắt, chế biến. Nếu không có sự đầu tư đúng đắn về lĩnh vực này,
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
11
thì dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng không thể phát triển tốt. Vấn đề
này sẽ được đề cập rõ hơn ở phần sau.
4. Thị trường trong nước và quốc tế.
Cùng với sự gia tăng dân số thế giới và trong nước, nhu cầu về các mặt
hàng thủy sản tăng nhanh trong những năm gần đây. Các mặt hàng thủy sản
cũng đã xâm nhập được vào thị trường Châu Âu, Nhật Bản, Hoa kì…đây là
điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sản.
IV. Vốn đầu tư và vai trò vốn đầu trong phát triển ngành thủy sản.
1. Khái niệm về vốn đầu tư.
Vốn là yếu tố cần thiết cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh dịch vụ
của tất cả các ngành kinh tế. Tuy nhiên, khái niệm về vốn có sự khác nhau tùy
quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lãi kinh doanh); từ chênh lệch do đánh
giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, ...
•Vốn vay: là nguồn vốn huy động từ bên ngoài dưới mọi hình thức và
mức độ để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ gia đình,
như: vay Ngân hàng thương mại, vay các tổ chức tín dụng khác, thấu chi,
chiết khấu thương phiếu, ...
Theo cuốn tự điển kinh tế học hiện đại của David W.Pearce (1999), vốn
là yếu tố của sản xuất do quá trình sản xuất tạo ra, trong khi đó, đất đai và lao
động là những thứ không phải do sản xuất tạo ra.
Đối với một quốc gia, thường có nhiều kênh chuyển tải vốn khác nhau
phục vụ phát triển kinh tế. Người ta thường phân loại các kênh như sau:
•Nguồn vốn tự huy động của dân cư vào phát triển sản xuất kinh
doanh. Đặc điểm quan trọng của nguồn vốn ở nông thôn khác với ở đô thị,
đó là tính nhỏ lẻ, tỷ lệ huy động thấp. Vốn của các hộ thuần nông hoặc nuôi
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
13
trồng ven biển, ven sông, trong ao hồ phân tán làm kinh tế phụ cũng trong
trường hợp đó.
•Nguồn vốn huy động từ Chính phủ thường được coi là nguồn đầu tư
trực tiếp từ ngân sách. Đây là nguồn vốn rất quan trọng, mang tính định
hướng, quy mô lớn, tập trung và có ý nghĩa quyết định. Nguồn vốn tín dụng
có nguồn gốc hình thành từ Ngân sách Nhà nước (các tổ chức tín dụng Nhà
nước, các Ngân hàng thương mại quốc doanh) và nguồn huy động trong dân
cư đô thị hoặc nông thôn. Vốn tín dụng thường được phân thành 2 loại: chính
thức và phi chính thức.
Trong nền kinh tế thị trường thì nguồn vốn tín dụng đang trở thành
nguồn vốn chủ lực cho phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
và hộ gia đình.
•Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là nguồn vốn viện trợ
không hoàn lại hoặc cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi của một quốc gia hay
Cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đòi
hỏi phải có vốn lưu động lớn để đáp ứng yêu cầu trang trải chi phí thường
xuyên và dụng cụ nhỏ. Do vậy vốn cho ngành thủy sản là rất lớn.
Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế thủy sản, vốn cho các khoản
chi phí thường xuyên của hộ nuôi trồng thủy sản lên tới trên 30 khoản chi,
lớn, nhỏ trong đó có 4 khoản chi phí lớn gồm :
- Chi phí về giống, thức ăn, các chất vi lượng...
- Chi phí xử lý môi trường, nguyên nhiên liệu, thuế, phí ... bao gồm: vệ
sinh xử lý ao, đầm, thuốc xử lý nước, vôi, thuốc diệt tạp, hóa chất khác, thuốc
phòng chữa bệnh, chi phí xăng dầu, nhớt, mỡ, điện, thủy lợi phí, khấu hao
TSCĐ, dụng cụ nhỏ, bảo hiểm tôm, cá nuôi, thuế sử dụng đất/mặt nước, chi
phí trực tiếp khác, như đấu thầu, thuê đất, mặt nước...
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
15
- Chi phí thuê ngoài gồm các loại lớn: thuê máy móc thiết bị, phương
tiện vận chuyển không kèm người điều khiển, cải tạo ao hồ, chăm sóc, chế
biến thức ăn, thu hoạch, vận chuyển, sửa chữa máy móc thiết bị, các chi phí
khác.
- Chi phí lao động tự làm của hộ nuôi thủy sản.
Nhận thức được yêu cầu về vốn như trên nên trong các Nghị quyết của
Đảng và Nhà nước ta về phát triển ngành thủy sản đều đề cập đến vấn đề này
như là một nội dung hỗ trợ không thể thiếu của các cấp, các ngành. Cụ thể,
đối với thủy sản: đầu tư đồng bộ cho chương trình nuôi trồng và đánh bắt thủy
sản gắn với chế biến hiện đại, bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhà nước hỗ trợ quy hoạch và hướng dẫn nông dân khai thác tốt diện tích mặt
nước, bao gồm cả những diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi, để nuôi
trồng thủ sản, phát triển các hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp và
các hình thức nuôi sinh thái phù hợp với điều kiện tự nhiên ở vùng nước
biển, nước lợ, nước ngọt, tổ chức sản xuất và cung cấp giống tốt, phòng
chống các loại bệnh, bảo đảm cho nông dân nuôi trồng có hiệu quả.
giống thủy sản; lãi suất và thời gian vay theo quy định hiện hành, mức vay
dưới 50 triệu đồng thì không phải thế chấp.
UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW tùy theo điều kiện cụ thể của
tỉnh, thành phố hỗ trợ một phần lãi suất tiền vay cho các tổ chức, cá nhân, hộ
gia đình để sản xuất giống.
Bộ Khoa học & Công nghệ ưu tiên dành kinh phí cho các dự án thử
nghiệm về sản xuất giống thủy sản.
Quỹ hỗ trợ phát triển Khoa học & Công nghệ quốc gia ưu tiên cấp tín
dụng với điều kiện thuận lợi hoặc với lãi suất ưu đãi cho việc nghiên cứu áp
dụng tiến bộ khoa học & công nghệ về sản xuất giống.
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
17
Bộ Thủy sản chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan nghiên cứu và đào tạo
trong ngành thủy sản và huy động lực lượng ngoài ngành tham gia nghiên cứu
tạo giống, sản xuất giống thủy sản... Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các
tổ chức hộ gia đình và cá nhân có nhu cầu thuê chuyên gia nước ngoài về sản
xuất giống thủy sản.
3. Hình thức huy động vốn đầu tư cho phát triển ngành Thủy sản
Nghệ An.
Trong giai đoạn từ năm 2000-2010 , tỉnh Nghệ An đã đưa ra nhiều chủ
trương chính sách nhằm huy động tối đa các nguồn vốn từ mọi thành phần
kinh tế trong, ngoài nước để phát triển thủy sản. Chính sách tín dụng của
các Ngân hàng trong địa bàn tỉnh đã bám sát, phục vụ đắc lực đường lối
phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng, thực hiện phương châm huy
động vốn mạnh mẽ bằng cách xúc tác các ngân hàng đi vay, đa dạng hóa
các hình thức huy động vốn nhằm khai thác tốt hơn các nguồn vốn trong
nước và nước ngoài, thay đổi cơ cấu thu hoạch và các nguồn vốn có lợi cho
đầu tư trung và dài hạn với những nổ lực trong công tác huy động vốn.
Những năm qua, nguồn huy động được mở rộng vốn đầu tư thực hiện hàng
năm đều tăng. Bằng nhiều công cụ thiết thực huy động vốn phong phú, đa
gồm hai loại :
+ Trái phiếu Chính phủ huy động vốn cho các công trình đầu tư TW, do
ngân sách tài chính (NSNN) bảo lãnh thanh toán.
+ Trái phiếu huy động vốn cho các công trình địa phương do UBND
tỉnh, Thành phố (NSĐP) bảo lãnh thanh toán.
Trong thời gian tới đây loại trái phiếu này sẽ được và đã được thực hiện
bán đồng bộ, trái phiếu công trình sẽ trở nên quen thuộc hơn với người dân
như trái phiếu kho bạc, thì đây sẽ là một nguồn vốn lớn để đáp ứng nhu cầu
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
19
chi cho đầu tư của nhà nước. Với ưu điểm là độ rủi ro thấp vì do NSNN bảo
lãnh thanh toán nên nó rất thích hợp với tâm lý của người dân, các đơn vị tổ
chức kinh tế đầu tư vốn cho Nhà nước để đáp ứng nhu cầu đầu tư của một
công trình cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định, tránh lãng phí vốn
đầu tư.
Tín phiếu kho bạc Nhà nước là loại trái phiếu ngắn hạn (một năm), phát
hành đầu tiên vào năm 1991 với lãi suất quy định theo từng đợt phát hành.
3.2. Vốn ngân sách nhà nước.
Đây là nguồn vốn do UBND tỉnh dành đầu tư từ NSNN cho lĩnh vực xây
dựng cơ bản. Nguồn vốn này có được từ thu thuế, lệ phí, các khoản phải thu
khác từ các doanh nghiệp thành phần kinh tế trong tỉnh, và phàn lớn còn do
TW rốt xuống.
3.3. Huy động vốn từ những nguồn khác :
Vốn đầu tư trực tiếp FDI:
Ngành thuỷ sản Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng cho tới
nay vẫn chưa thu hút được mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài do nhiều nguyên
nhân. Trong đó 3 nguyên nhân chính được xem xét khiến cho lĩnh vực thủy
sản ít thu hút FDI là: thứ nhất là đầu tư vào thủy sản rất nhiều rủi ro thiên tai
dịch bệnh. Thứ hai là đất đai, hiện nay đất đai của ta rất manh mún và phần
lớn do nông dân giữ. Thứ ba là phía chúng ta cũng có lỗi là chưa thật mạch
+ Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi)
Vốn ODA với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp, tín
dụng ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thê giới. Nó
không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường mà thường được sử
dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lãnh vực giao thông vân tãi,
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
21
nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng...làm nền tảng vững chắc cho ổn định và
tăng trưởng kinh tế. Các điều kiện ưu đãi bao gồm:
· Lãi suất thấp
· Thời gian trả nợ dài
· Có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ
+ ODA cho vay hỗn hợp
Là loại ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và
tín dụng ưu đãi.
Vốn đầu tư ODA vào thuỷ sản Nghệ An chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ
tầng nghề cá và các hoạt động liên quan đến phát triển kinh tế xã hội nghề cá.
Tuy nhiên lượng vốn đầu tư chưa nhiều và do lĩnh vực đầu tư có đặc điểm
riêng mà hiệu quả đầu tư rất khó đánh giá hoặc rất chậm
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
22
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CỦA NGÀNH
THỦY SẢN NGHỆ AN
I. Giới thiệu chung về tỉnh Nghệ An
1. Vị trí địa lý kinh tế
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự
nhiên 16.488km
2
và dân số trung bình 3,03 triệu người, chiếm 5,1% diện tích
C-4.000
o
C.
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
23
b. Chế độ mưa
Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh khác ở miền
Bắc. Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200-2.000 mm/năm,
phân bổ cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông và chia làm hai mùa
rõ rệt:
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15-
20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1, 2 lượng mưa chỉ đạt
7-60 mm/tháng.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80-85%
lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lượng mưa từ 220 -
540mm/tháng, số ngày mưa 15-19 ngày/tháng, mùa này thường kèm theo gió bão.
3. Tài nguyên biển
Nghệ An có bờ biển dài 82 km và diện tích vùng biển 4.230 hải lý
vuông, dọc bờ biển có 6 cửa lạch (Lạch Cờn, lạch Quèn, lạch Thơi, lạch Vạn,
Cửa Lò, Cửa Hội ) với độ sâu từ 1 đến 3,5 m thuận lợi cho tàu thuyền có trọng tải
50-1.000 tấn ra vào.
Từ độ sâu 40 m trở vào là vùng có đáy tương đối bằng phẳng, vùng phía
ngoài có nhiều đá ngầm và chướng ngại vật, cồn cát, nơi tập trung nhiều bãi
cá có giá trị kinh tế cao. Vùng biển có nhiều loại động vật phù du là nguồn
thức ăn tốt cho các đàn cá sinh sống và phát triển. Khả năng sinh sản của cá
rất mạnh, không di cư xa mà chỉ di cư theo tầng và thời gian trong ngày.
Theo điều tra của Viện nghiên cứu hải sản, trữ lượng hải sản các loại
Nghệ An khoảng 80.000 tấn (số liệu công bố năm 1998), khả năng khai thác
cho phép khoảng 35-37 nghìn tấn/năm.
Trữ lượng cá ở vùng có độ sâu trên 30 m trở ra chiếm 60%; cá nổi chiếm
mặc dù lượng nước mặt lớn nhưng phân bố không đều trong năm và theo
mùa. Trên 70% lượng nước mưa tập trung vào các tháng 8, 9, 10, thường gây
lũ lụt, các tháng còn lại chiếm 30% lượng nước. Mùa mưa lượng nước quá tập
trung và lại trùng với mùa lũ. Ngược lại, mùa khô lượng mưa ít nên hoạt động
SVTH: Đặng Văn Quảng Lớp: Kế hoạch 47B
25