Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Với cánh cửa của WTO ngày càng mở rộng khi Việt Nam đã trở thành
thành viên chính thức của tổ chức này, thì đây là một điều kiện hết sức thuận
lợi để Việt Nam phát triển nền kinh tế một cách toàn diện trong giai đoạn hội
nhập. Gia nhập vào WTO chúng ta có rất nhiều cơ hội để phát triển kinh tế từ
kinh tế nông nghiệp đến kinh tế ngoại thương. Trong điều kiện đó thì xuất
khẩu sản phẩm thuỷ sản cũng dễ dàng hơn vào thị trường các nước trên thế
giới.
Trên thực tế thì hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với
75% dân cư sinh sống ở nông thôn và trên 75% lực lượng lao động xã hội làm
việc trong khu vực này. Sự phát triển của nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển của nền kinh tế và sự ổn định chính trị, xã hội của đất nước.
Do vậy, khi gia nhập WTO nông nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội để phát
triển. Thuỷ sản cũng là một bộ phận của ngành nông nghiệp theo nghĩa rộng
bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp. Và có thể nói ngành thuỷ sản đóng một vai
trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của nước ta.
Có một đặc điểm là nguồn lợi thuỷ sản mang tính tái tạo, tái sinh.
Nhưng khi con người khai thác quá khả năng tái sinh thì nguồn lợi sẽ bị cạn
kiệt. Trên thực tế hiện nay khi sản lượng thuỷ sản mà con người khai thác
ngày càng bị suy giảm. Nếu như con người không tiến hành giải pháp khác thì
nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi là điều dễ dàng nhận thấy. Vì vậy, nuôi trồng thuỷ
sản vừa nhằm mục đích phục vụ nhu cầu trong nước đồng thời xuất khẩu có
thể nói là một giải pháp hữu hiệu trong giai đoạn phát triển hội nhập như hiện
nay.
Quảng Ninh là một tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc Bộ, là một trong
những địa phương của nước ta đựơc thiên nhiên ưu đãi về tiềm năng phát
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
nhuyễn thể, hầu như chỉ dựa vào khai thác tự nhiên, nhập từ tỉnh ngoài, nước
ngoài.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn đề này bao gồm cả chủ quan và
khách quan. Về chủ quan là do việc triển khai chính sách khuyến khích phát
triển kinh tế thuỷ sản của nhà nước còn hạn chế: Công tác xây dựng và triển
khai quy hoạch phát triển kinh tế thuỷ sản ở địa phương còn chậm..v.v.
Nguyên nhân khách quan như: Thiếu đồng bộ trong cơ chế chính sách phát
triển kinh tế thuỷ sản, cơ sở dịch vụ hậu cần chưa đáp ứng và theo kịp yêu cầu
phát triển sản xuất; nguồn nhân lực chưa được quan tâm đào tạo, trình độ kỹ
thuật của ngư dân còn thấp…
Chính vì những lý do trên nên em đã chọn đề tài: “ Thực trạng và giải
pháp phát triển nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Quảng Ninh” làm chuyên đề
tốt nghiệp cho mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
2.1. Mục đích.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là :
+ Hệ thống các vấn đề lý luận chung về ngành thuỷ sản và hoạt động
nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Quảng Ninh.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong
Tỉnh để tìm ra vấn đề cần giải quyết.
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nuôi trồng thuỷ sản của Tỉnh
Quảng Ninh.
2.2. Nhiệm vụ.
+ Lựa chọn những vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay liên quan đến
vấn đề nghiên cứu.
+Phân tích và đánh giá tình hình nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh Quảng
Ninh.
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
Ngành thuỷ sản là một bộ phận nhỏ của ngành nông nghiệp hiểu theo
nghĩa rộng bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp. Ngành thuỷ sản được coi là
ngành sản xuất dựa trên những khả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi
trường nước để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu không
ngừng tăng lên của con người. Hoạt động thuỷ sản là việc tiến hành khai thác,
nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu
thuỷ sản, dịch vụ trong hoạt động thuỷ sản, điều tra, bảo vệ và phát triển
nguồn lợi thuỷ sản.
2. Vị trí và vai trò của ngành thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân.
Trên thực tế thì hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp.
Ngành thuỷ sản đóng một vai rò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của
nước ta.Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, được thiên nhiên ưu đãi nên nước ta
có một tiềm năng lớn trong khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Việt Nam có
một bờ biển dài hơn 3260 km với nhiều sông, ngòi, lạch, đầm phá thuận lợi
cho cả nuôi thuỷ sản nước ngọt và nước mặn, lợ. Chính vì điều này mà qua
nhiều năm phát triển ngành kinh tế thuỷ sản đã trở thành một trong những
ngành kinh tế quan trọng bao gồm nhiều phân ngành: khai thác, nuôi trồng,
chế biến, các ngành công nghiệp phụ trợ như công nghiệp đóng sửa tàu
thuyền, cơ khí, dệt lưới, bao bì, kho tàng, vận chuyển.... Phát triển ngành thuỷ
sản sẽ góp phần quan trọng trong tăng trưởng của toàn ngành nông nghiệp và
toàn nền kinh tế nói chung.
Có thể nói rằng, các sản phẩm thuỷ sản là những sản phẩm bổ dưỡng,
giàu đạm, dễ tiêu hoá, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi, không
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
chứa chất béo nên rất tốt cho cơ thể. Trong xã hội hiện đại, với cuộc sống tấp
nập, xô bồ, người ta thường có thói quen ăn những đồ ăn nhanh. Những đồ ăn
này không hề có lợi cho cơ thể. Vì vậy, một bữa ăn giàu đạm với cá, tôm và
các loại hải sản khác bên cạnh gia đình và người thân thật sự là có ý nghĩa
mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập
ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và trên thế giới.
3. Đặc điểm của ngành thuỷ sản.
Ngành thuỷ sản là một bộ phận của ngành nông nghiệp nên vừa có
những đặc điểm chung của ngành nông nghiệp lại vừa mang những đặc điểm
riêng biệt.
3.1. Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất độc lập.
Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất độc lập bởi những lý do sau:
+ Đối tượng sản xuất của ngành thuỷ sản là những sinh vật sống dưới
nước. Nó khác hẳn với đối tượng sản xuất của ngành nông nghiệp là những
cây, những con mà con người có thể chủ động trong việc nắm bắt được số
lượng. Chính vì vậy mà đã gây khó khăn trong việc xác định trữ lượng thuỷ
sản có trong một ao hồ hay một ngư trường.
+ Ngành nuôi trồng thuỷ sản có lực lượng chuyên môn hoá thể hiện đó
là một nghề nhất định. Bởi vì do đối tượng sản xuất của ngành thuỷ sản quyết
định đến tính chuyên môn hoá của lực lượng sản xuất. Nếu như trong hoạt
động nuôi trồng thuỷ sản phải cần những lao động có đủ trình độ kỹ thuật để
chăm sóc, nuôi dưỡng vật nuôi, kiểm soát dịch bệnh… Còn trong lĩnh vực chế
biến thuỷ sản lại cần những lao động được đào tạo một cách bài bản để có thể
nắm bắt được công nghệ chế biến.
+ Các loài sinh vật sống trong môi trường nước bị ảnh hưởng của điều
kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình, độ mặn…tác động đến quá trình
sinh trưởng và phát triển của chúng.
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
+ Nếu đất đai là tư liệu sản xuất của ngành trồng trọt thì thuỷ vực là tư
liệu sản xuất của ngành thuỷ sản. Nó cũng là loại tư liệu sản xuất không thể
thay thế được vì nếu không có thuỷ vực thì các sinh vật thuỷ sinh không thể
tồn tại được. Thuỷ vực trong ngành thuỷ sản bao gồm: sông, ngòi, ao, hồ, mặt
2. Vai trò của nuôi trồng thuỷ sản.
2.1. Cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cung cấp các sản phẩm thiết
yếu cho nhu cầu của con người đó là lương thực, thực phẩm, đó là loại sản
phẩm có vai trò đầu tiên quyết định mọi hoạt động của con người. Nếu không
có sản phẩm này thì con người không thể tồn tại và phát triển được. Nuôi
trồng thuỷ sản cũng là ngành sản xuất vật chất và cung cấp sản phẩm cho con
người như cá, tôm, cua, ghẹ…những sản phẩm này cung cấp chất dinh dưỡng
cho con người giúp con người có thể tạo ra các hoạt động trong xã hội. Xã hội
ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng nâng cao, thì nhu cầu
của con người cũng ngày càng cao, người ta hướng đến những loại thực phẩm
có giá trị dinh dưỡng cao, bổ dưỡng và thuỷ sản là một trong những sản phẩm
như thế.
2.2. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nuôi trồng thuỷ sản đóng góp một phần quan trọng trong tăng tưởng
chung của ngành thuỷ sản và toàn ngành kinh tế nói chung. Đối tượng của
nuôi trồng thuỷ sản là những sinh vật thông qua hoạt động chế biến chúng tạo
thành những sản phẩm có giá trị dinh dưõng và giá trị kinh tế cao. Việc tiêu
thụ những sản phẩm này trong nội địa hay xuất khẩu sang thế giới đều giúp
cho nhà nước ta thu được lợi nhuận, góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng
của toàn ngành kinh tế nói chung. Ngành thuỷ sản phát triển mở ra một cơ hội
mới cho nền kinh tế của đất nước.
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
2.3. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong xu thế đất nước đang chuyển mình hoà nhịp vào nền kinh tế
quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng có sự phát triển trông thấy,
tăng trưởng kinh tế của nước ta năm 2007 đạt 8,5%. Ngay trong bản thân
ngành nông nghiệp cũng có sự chuyển dịch là tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng
nhu cầu đa dạng trong tầng lớp dân cư.
2.5. Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thuỷ sản.
Các sản phẩm thuỷ sản ngoài phục vụ nhu cầu tiêu thụ trực tiếp của dân
cư, thì một phần lớn được cung cấp cho các nhà máy chế biến làm nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến. Có một đặc điểm dễ dàng nhận thấy là thông
qua hoạt động chế biến thì giá trị của các sản phẩm thuỷ sản được nâng tầm
giá trị. Việc chế biến các sản phẩm thuỷ sản dùng công nghệ bao gói chủ yếu
nhằm mục đích xuất khẩu sang thị trường thế giới. Để các sản phẩm này thực
sự làm hài lòng người tiêu dùng ngoại quốc thì chất lượng sản phẩm phải
được đặt lên hàng đầu. Do đó, vấn đề đặt ra là phải đảm bảo chất lượng thuỷ
sản từ khâu nuôi trồng, chúng ta chỉ có đầu ra khi có sản phẩm sạch.
3. Đặc điểm của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản.
3.1. Thuỷ vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế được.
Đối tượng của nuôi trồng thuỷ sản là các sinh vật gắn với môi trường
nước, nếu tách chúng ra khỏi môi trường này thì chúng không thể tồn tại
được. Từ đặc điểm này cho ta thấy được nuôi trồng thuỷ sản là một ngành
tương đối phức tạp so với các ngành khác. Cứ ở đâu có nước thì ở đó có khả
năng nuôi trồng thuỷ sản. Do vậy nuôi trồng thuỷ sản có khả năng phát triển ở
mọi nơi, mọi vùng địa lý. Tuỳ thuộc vào tính chất của từng loại thuỷ vực mà
có đối tượng nuôi trồng phù hợp như nuôi thuỷ sản nước ngọt, mặn, lợ.
Thuỷ vực còn là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi vì nó khác với các tư liệu
sản xuất khác, nếu biết sử dụng cải tạo, bảo vệ và bồi dưỡng thì thuỷ vực
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
không những không bị hao mòn, chất lượng không giảm đi qua quá trình sử
dụng mà còn tốt lên.
3.2. Đối tượng hoạt động nuôi trồng thuỷ sản là các sinh vật thuỷ sinh.
Cũng giống như sản xuất nông nghiệp, đối tượng của nuôi trồng thuỷ
sản là các cơ thể sống. Chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định (sinh
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
1. Nhân tố tự nhiên.
Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển và phân bố thuỷ
sản. Mỗi loại thuỷ sản chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong những điều
kiện tự nhiên nhất định. Các điều kiện tự nhiên quan trọng hàng đầu là đất,
nước, khí hậu. Chúng sẽ quyết định khả năng nuôi trồng các loài thuỷ sản
trên từng lãnh thổ, khả năng áp dung các quy trình sản xuất, đồng thời có ảnh
hưởng lớn đến năng suất và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản.
1.1 Diện tích mặt nước.
Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là đất có mặt nước nội địa bao
gồm ao, hồ, đầm, phá, sông ngòi, kênh rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi
bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế
trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng
thuỷ sản.
Đất đai để nuôi trồng thuỷ sản quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của các loài động vật thuỷ sản vì nếu tách chúng ra khỏi môi trường nước thì
chúng sẽ chỉ tồn tại đựơc trong một thời gian rất ngắn. Hơn thế nữa diện tích
mặt nước còn quyết định tới quy mô phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Điều đó
được thể hiện ở chỗ nếu diện tích có khả năng nuôi trồng lớn thì quy mô để
phát triển nuôi trồng thuỷ sản cũng lớn.
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
1.2. Khí hâu, nguồn nước.
1.2.1. Khí hậu.
Các điều kiện thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
nuôi trồng thuỷ sản, nó có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát sinh và lan tràn
dịch bệnh cho vật nuôi.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới pha trộn tính ôn đới, vì
vậy mà điều kiện thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc đến ngành nuôi trồng
đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi. Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong
các ao nuôi giảm đi đột ngột vượt ra khỏi khả năng chịu đựng làm cho tôm, cá
bị sốc, chết hoặc chậm lớn.
1.2.2. Nguồn nước.
Có thể nói, nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự
thành công cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản.
Tính chất mặt nước còn quyết định tới yếu tố giống loài thuỷ sản được
nuôi trồng. Bởi vì mỗi một giống loài thuỷ sản đều có những đặc điểm sinh
lý, sinh thái riêng, có một môi trường sống riêng mà không phải môi trường
nước nào nó cũng tồn tại được. Môi trường nước được phân thành ba loại là:
nước ngọt, nước mặn, nước lợ. Đối với mỗi loại mặt nước có một đối tượng
nuôi trồng phù hợp.
Nguồn nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản yêu cầu về chất lượng khá
nghiêm ngặt, nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng ôxi tan trong
nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc
trong nước thấp hoặc không có ( Thuốc bảo vệ thực vật, H2S…). Để sử dụng
nguồn nước mặt cho nuôi trồng thuỷ sản đạt hiệu quả cao và phát triển bền
vững phải chú ý giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp công cộng…
làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước mặt trên diện rộng, bảo vệ chất
lượng môi trường nước.
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
2. Nhân tố kinh tế - xã hội.
2.1. Nhân tố xã hội.
Dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng tới hoạt động nuôi trồng thủy sản
ở hai mặt vừa là lực lượng sản xuất vừa là người tiêu thụ các nông sản. Bất kể
một ngành sản xuất vật chất nào cũng nhằm mục đích tạo ra sản phẩm phục
vụ nhu cầu tiêu dùng. Và ngành nuôi trồng thuỷ sản cũng thế, muốn tạo ra các
sản phẩm thuỷ sản thì phải có lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất trong
nay.
Nuôi trồng thuỷ sản cũng là một ngành sản xuất vật chất mà sản phẩm
tạo ra là các sản phẩm thuỷ sản. Khi tạo ra sản phẩm từ hoạt động nuôi trồng,
thì các hộ sản xuất phải tìm cho mình một đầu ra để tiêu thụ cho sản phẩm
cho mình đó chính là thị trường. Thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản có vai
trò quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hoá theo hướng sản
xuất hàng hoá ngày càng cao. Do tính chất đa dạng của nhu cầu thị trường tác
động làm cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản biến đổi về mặt cơ cấu sản phẩm
nhằm phục vụ tính đa dạng của nhu cầu thị trường. Đồng thời thông qua việc
trao đổi mua bán hàng hoá thuỷ sản trên thị trường, làm cho các vùng sản
phẩm chuyên môn hoá ngày càng phát triển và liên kết với nhau để khai thác
tốt lợi thế của từng vùng, sản xuất ra nhiều hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị
trường. Thị trường quyết định lượng cung - cầu và giá cả các loại mặt hàng
thuỷ sản. Vì vậy, thông qua thị trường mà người sản xuất mới biết được nên
nuôi trồng loại thuỷ sản nào, số lượng là bao nhiêu mà thị trường đang cần để
có được lợi nhuận cao.
IV. Tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, trong suốt sự
nghiệp hình thành, bảo vệ và xây dựng đất nước, biển đã đang và sẽ đóng vai
trò hết sức to lớn. Chính vì vậy, phát triển, khai thác hợp lý một cách bền
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
vững các nguồn lợi tự nhiên đã trở thành mục tiêu chiến lược lâu dài trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta.
Cùng với khai thác các nguồn lợi cá và hải sản, Việt Nam còn có tiềm
năng phong phú về các nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt, lợ, nước biển, góp phần
tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân và làm giàu cho đất nước.
1. Về mặt nước.
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng to lớn để phát triển nuôi trồng
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
2. Về nguồn lợi giống loài thuỷ sản.
Nguồn lợi giống hải sản của Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng.
- Nguồn lợi cá nước ngọt: theo thống kê có 544 loài trong đó có 18 bộ,
57 họ, 228 giống.
- Nguồn lợi cá nước lợ, mặn: 186 loài chủ yếu. Một số loài có giá trị
kinh tế như: Cá song, cá tráp, cá vược, cá măng, cá cam, cá bống, cá bớp, cá
đối, cá dìa. Trong đó có một số loài được đưa vào nuôi như: cá vược, cá song,
cá giò, cá măng, cá cam.
- Nguồn lợi tôm: đã thống kê được 16 loài chủ yếu có giá trị kinh tế và
đưa vào nuôi như: Tôm sú ( p.monodon); tôm lớt ( p.merguíenis); tôm he Ấn
Độ ( p.indicus); tôm rảo (Metapenaeus); tôm hùm bông ( panulius ornatus).
- Về nhuyễn thể: Có một số loài chủ yếu như: Trai, hầu, điệp, nghêu, sò,
ốc…đang được dưa vào nuôi trai, nghêu sò.
3. Về điều kiện thời tiết - khí hậu.
Việt Nam là nước nhiệt đới gió mùa, lượng hoa trung bình hàng năm
lớn từ 1500 - 2400 mm. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều
laòi thuỷ sản, đặc biệt là thuỷ sản nước ngọt. Khí hậu Việt Nam có hai mùa rõ
rệt là mùa mưa và mùa khô tạo ra những dòng di cư của các loài thuỷ sản,
đảm bảo sự đa dạng và sự giao lưu giống loài giữa các vùng. Chế độ thuỷ
triều và bán nhật triều tạo nên nhiều đầm phá thích hợp để nuôi trồng thuỷ sản
giá trị cao đặc biệt là tôm.
Như vậy có thể nói, chế độ khí hậu, thời tiết và các điều kiện tự nhiên
đa dạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản Việt Nam phát
triển đa loài, phong phú về loại
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
sản khởi xướng từ cuối những năm 90. Nguồn nuôi thả chủ yếu là các lọai cá
song, cá hồng kết hợp thả một số loại giáp xác, nhuyễn thể như bề bề, tu hài,
vẹm xanh, sò… Sản lượng hàng năm tăng khoảng 50 - 60%. Nuôi cá lồng bè
trên biển đã tạo ra bước đột phá trong nghề nuôi thuỷ sản Hải Phòng, trở
thành nghề mới của cuả dân ven biển, góp phần thúc đẩy loại hình dịch vụ du
lịch phát triển, tạo nguồn hàng thuỷ sản xuất khẩu tại chỗ thông qua các loại
hình dịch vụ du lịch.
2. Kinh nghiệm nuôi trồng thuỷ sản của Quảng Ngãi.
Nuôi trồng thuỷ sản ở Quảng Ngãi chiếm một vị trí không nhỏ trong
kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi (30% GDP ngành nông nghiệp). Với 130 km bờ
biển, 6 cửa lạch, 5 huyện có biển và một huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
có đủ tiềm năng, thế mạnh về phát triển kinh tế thuỷ sản. Nghị quyết 04/NQ -
TU ngày 14/01/2002 của Tỉnh xác định, đây là ngành kinh tế mũi nhọn. Dọc
theo ven biển có khoảng 4000 ha đất đai, mặt nước, là điều kiện lý tưởng để
phát triển nghề nuôi tôm. Trong nội địa có gần 2000 ao hồ, thuận lợi cho nuôi
nước ngọt.
Theo thống kê Sở thuỷ sản Quảng Ninh toàn Tỉnh có khoảng 725 ha
nuôi tôm trong đó có nuôi tôm vùng triều 549 ha, nuôi tôm trên cát 176 ha.
Sản lượng thu hoạch ngày càng tăng, nếu như năm 2001 là 902 tấn, năm 2005
là 3000 tấn thì đến năm 2007 đạt 4.500 tấn. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển
góp phần giải quyết việc làm cho 5000 lao động. Nuôi cá nước ngọt tiếp tục
được duy trì và phát triển với nhiều hình thức đa dạng cả đồng bằng và miền
núi. Đến nay diện tích thả nuôi toàn tỉnh là 690 ha, năm 2007 sản lượng đạt
1.000 tấn (104% kế hoạch). Xuất hiện nhiều mô hình nuôi thuỷ sản nước ngọt
như nuôi cá trong ruộng lúa, cá rô phi trong lồng, cá lóc, cá chình, ếch góp
phần cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho nhiều gia đình. Đây cũng là thành
công trong công tác chỉ đạo về hoạt động nuôi trồng của toàn Tỉnh.
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
0
26'- 108
0
31’kinh độ đông, cách thủ đô Hà Nội 150 km. Phía Bắc
giáp tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Quảng Ninh có đường biên giới đất
liền 132km từ Tràng Vĩ (Móng Cái) đến giáp huyện Đình Lập (Lạng Sơn);
phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ với 250 km bờ biển kéo dài từ cửa Bắc Luân
(Trà Cổ) đến đảo Cát Bà (Hải Phòng); phía Tây giáp thành phố Hải Phòng,
tỉnh Hải Dương, tỉnh Bắc Giang và tỉnh Lạng Sơn. Diện tích tự nhiên toàn
tỉnh là 8.239,243 km2 trong đó diện tích đất liền 5.938 km2, vùng vịnh, biển (
nội thuỷ) chiếm 2.448,853 km2. chiếm 1,8 % diện tích cả nước.
Với vị trí địa lý như trên, nuôi trồng thuỷ sản Quảng Ninh có điều kiện
để phát triển vì có một thị trường tiêu thụ rộng lớn cả trong nước và ngoài
nước.
1.2. Địa hình.
Địa hình của tỉnh chủ yếu là núi đã chiếm 90% diện tích. Trong đó đất
liền chiếm 87% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, hải đảo chiếm 13% diện tích;
diện tích biển trên 6000 km
2
. Với diện tích biển 6000 km
2
là điều kiện thuận
lợi cho Quảng Ninh phát triển nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt là nuôi cá biển
bằng lồng bè, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các loại cá được nuôi như: cá
song, cá hồng, cá tráp, cá mú, cá giò…
1.3. Khí hậu.
Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu của các tỉnh miền Bắc nước
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
đất bằng chưa sử dụng là 26.968 ha; diện tích đất có mặt nước chưa sử dụng
là 16.644 ha.
SV. Đào Minh Thu Lớp NN-46B
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa KTNN & PTNT
2.2. Tài nguyên rừng.
Tỉnh có 162 nghìn ha rừng, trong đó có 124 ha rừng tự nhiên. Một điều
đặc biệt hơn là tất cả các địa phương trong tỉnh Quảng ninh đều có rừng.
Ngoài những khu rừng quý như: Đinh, lim, sến, táu, sồi, dẻ, thì ở các huyện,
thị xã Quảng Ninh còn có nhiều khu rừng đặc sản có hiệu quả cao, kể cả rừng
tự nhiên và rừng trồng. Điển hình như huyện Hải Ninh có rừng quế kể cả quế
tự nhiên và quế do nhà nước và nhân dân cùng trồng. Huyện cao Bình Liêu có
tới ba loài cây đặc sản: ngoài quế còn có sồi, và sở. Hoa hồi và tinh dầu hồi là
một mặt hàng xuất khẩu có giá trị và với cây sở từ hạt sở được ép thành dầu
sở để sử dụng trong công nghiệp và chế biến thành dầu ăn rất tốt.
Ngoài gỗ, rừng Quảng Ninh còn có nhiều chim thú rừng, đó là tắc kè,
ba kích và các dược liệu có giá trị ở Quảng Ninh.
2.3. Tài nguyên biển.
Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, hải đảo, là miền mỏ và miền khoáng
sản lớn, là miền rừng vàng cũng là miền biển bạc. Dường như tạo hoá có phần
thiên vị chăng khi ban phát cho nơi đây nhiều thứ đến vậy.
Tỉnh có trên 6000 km
2
bờ biển thuận lợi cho khai thác thuỷ sản và du
lịch, nhiều ngư trường với nhiều loài thuỷ hải sản phong phú, trữ lượng có thể
khai thác hàng năm 3 - 4 vạn tấn. Có thể nói nguồn lợi thủy sản của Quảng
Ninh rất phong phú và đa dạng. Có rất nhiều giống loài có giá trị kinh tế cao
mà hiện nay con người vẫn tiếp tục khai thác phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ
trong nước và xuất khẩu. Trong tổng số 555 loài động vật vùng biển Quảng
Ninh, nhiều loài có sản lượng rất lớn và giá trị kinh tế cao như: cá song, cá