luận văn đề tài kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh ở công ty tnhh tm hùng tiến - Pdf 18

Luận văn
Đề tài: "Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh ở Công ty TNHH TM Hùng Tiến “.
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Mục lục
2
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Lời nói đầu
Trong một nền kinh tế, doanh nghiệp thương mại giữ vai trò phân phối lưu
thông hàng hoá, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động của doanh
nghiệp thương mại diễn ra theo chu kì T-H-T’ hay nói cách khác nó bao gồm
hai giai đoạn mua và bán hàng hoá. Như vậy, trong hoạt động kinh doanh
thương mại, bán hàng là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, nó giữ vai trò chi phối
các nghiệp vụ khác. các chu kì kinh doanh chỉ có thể diễn ra liên tục nhịp nhàng
khi khâu bán hàng được tổ chức tố nhằm quay vòng vốn nhanh, tăng hiệu suất
sinh lời.
Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh là hiện tượng tất yếu. Nó vừa là cơ
hội vừa là thử thách đối với mỗi doanh nghiệp. Cơ chế thị trường cho phép đánh
giá chính xác hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào tổ
chức tốt nghiệp vụ bán hàng đảm bảo thu hồi vốn và có lãi sẽ có điều kiện tồn
tại và phát triển. Ngược lại doanh nghiệp tỏ ra non kém trong tổ chức hoạt động
kinh doanh thì chẳng bao lâu sẽ đi đến bờ vực phá sản, thực tế của nền kinh tế
nước ta đang chứng tỏ điều đó.
Bước sang năm 2007, việc bán hàng hoá của các doanh nghiệp trên toàn
quốc phải đối mặt với không ít khó khăn thử thách. Một là, sự gia tăng ngày
càng nhiều của các doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh đa dạng làm cho
sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Thêm vào đó, cùng với chính sách mở
của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh
của các hãng nước ngoài. Hai là, cơ chế quản lý kinh tế còn nhiều bất cập gây
không ít khó khăn trở ngại cho các doanh nghiệp. Do vậy, để có thể đứng vững

Phần III: Hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh ở Công ty TNHH TM Hùng Tiến.
4
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Phần I Những lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
trong doanh nghiệp thương mại
I. Những vấn đề chung về bán hàng
1. Đặc điểm, chức năng, ý nghĩa của hoạt động bán hàng và xác định kết quả
kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, khi mà các doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh
doanh, tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình thì bán hàng hoá có ý nghĩa
hết sức quan trọng đối với sự sống còn của các doanh nghiệp. Các Mác đã từng
khẳng định: Lưu thông vừa là tiền đề, vừa là điều kiện, vừa là kết quả của sản
xuất.Theo quan điểm này thì sản xuất và lưu thông gắn bó chặt chẽ với nhau tạo
nên một chu trình tái sản xuất xã hội. Các doanh nghiệp thương mại thực hiện
khâu trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng. Quá trình này bao gồm hai
khâu mua và bán hàng hoá, là một tất yếu của quá trình tái sản xuất.
Quá trính bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại là quá trình vận động của
vốn kinh doanh từ vốn hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả kinh
doanh thương mại. Quá trình bán hàng hoàn tất khi hàng hoá đac giao cho người
mua và đã thu đuợc tiền bán hàng.
Chúng ta có thể khái quát đặc điểm cơ bản của quá trình bán hàng như sau:
-Đó là sự mua bán có thoả thuận: doanh nghiệp đồng ý bán và khách hàng
đồng ý mua, đã trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
-Doanh nghiệp giao cho khách hàng một lượng hàng hoá và nhận được từ
khách hàng một khoản tiền hoặc một khoản nợ. Khoản tiền này được gọi là
doanh thu bán hàng, dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình
kinh doanh.
- Căn cứ vào số tiền hay khoản nợ mà khách hàng chấp nhận trả để hạch toán

đúng kết quả kinh doanh còn là cơ sở để lập kế hoạch cho kì kinh doanh tiếp
theo, đồng thời nó cũng là số liệu cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm
như các nhà đầu tư, các ngân hàng… Trong điều kiện hiện nay, khi mà các
doanh nghiệp đang phải tiến hành kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh ngày
càng gay gắt của nền kinh tế thị trường, việc xác định kết quả kinh doanh có ý
6
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý, cung cấp các thông tin không những cho
các nhà quản lí của doanh nghiệp để lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu qủa
mà nó còn là căn cứ để các cơ quan quản lý tài chính, cơ quan thuế thực hiện
việc giám sát việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính
Với những đặc điểm và vai trò nêu trên, kế toán bán hàng và xác định kết quả
kinh doanh có những nhiệm vụ sau:
- Một là ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá bán ta, tính
toán đúng đắn trị giá vốn của hàng bán ra và các chi phí nhằm xác định
chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Hai là cung cấp thông tin kịp thời về tình hình bán hàng phục vụ cho lãnh
đạo, điều hành hoạt động kinh doanh thương mại.
- Ba là kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận, kỉ luật
thanh toán và quản lí chặt chẽ tiền bán hàng, kỉ luật thu nộp ngân sách.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh phải chú ý những nội dung sau:
Thứ nhất, xác định đúng thời điểm hàng hoá được coi là được bán để kịp thời
lập báo cáo bán hàng và phản ánh doanh thu. Báo cáo thường xuyên, kịp thời
tình hình bán hàng và thanh toán với khách hàng, đảm bảo giám sát chặt chẽ
hàng bán về số lượng, chất lượng, chủng loại, thời gian Đôn đốc việc thu tiền
bán hàng về quĩ kịp thời, tránh hiện tượng tiêu cực sử dụng tiền hạng cho mục
đích cá nhân.
Thứ hai, tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển hợp lí.

Tuỳ theo điều kiện của mình mà doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá
mua hàng hoá xác định là được bán cho phù hợp trên cơ sở tôn trọng ngguyên
tắc nhất quám trong kế toán, tức là sử dụng phương pháp nào thì phải thống nhất
trong niên độ kế toán. Thông thướng, có những phương pháp tính giá mua hàng
hoá như sau:
2.1. Phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền.
Trong đó:
8
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
+
Giá mua thực tế Hàng
nhập trong kì
Giá mua tực tế
hàng tồn đầu kì
=Đơn giá bình quân gia
quyền
Số lượng hàng hoá tồn
đầu kì
+
Số lượng hàng hoá
nhập trong kì
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Theo phương pháp này, giá vốn của hàng hoá xuất kho để bán tính được tương
đối hợp lý nhưng không linh hoạt vì cuối tháng cuối tháng mới tính được đơn giá
bình quân.
2.2. Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập.
Về bản chất, phương pháp này giống phương pháp trên nhưng đơn giá bình
quân phải được tính lại sau mỗi lần nhập trên cơ sở giá mua của hàng tồn và giá
mua của lần nhập đó. Phương pháp này đảm bảo số liệu có độ chính xác cao và
kịp thời tuy nhiên khối lượng công việc tính toán lại tăng thêm do đó chỉ nên áp

Trị giá hạch toán của hàng tồn đầu kì
+
Trị giá mua hạch toán của hàng nhập trong kì
Chi phí mua hàng phát sinh trong kì
Chi phí thu mua phân bổ của hàng bán ra trong kì
=
+
Trị giá mua của hàng tồn đầu kì
+
Trị giá mua của hàng nhập trong kì
x
Trị giá mua của hàng bán ra trong kì
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Cuối kỳ, kế toán tiến hành xác định hệ số chênh lệch giá của từng loại hàng
hoá theo công thức:
Trị giá mua thực tế của hàng hoá bán ra được xác định theo công thức:
Trị giá mua thực
tế hàng bán ra
= Giá hạch toán của
hàng bán ra trong kì
x Hệ số chênh lệch
giá
2.6. Phương pháp giá thực tế đích danh.
Theo phương pháp này, trị giá mua của hàng hoá xuất kho bán thuộc lô hàng
nhập nào thì tính theo đơn giá của chính lô đó.
Phương pháp này phản ánh rất chính xác giá của từng lô hàng xuất bán nhưng
công việc rất phức tạp phương pháp đòi hỏi thủ kho phải nắm được chi tiết rừng
lô hàng, phương pháp này được áp pháp dụng cho các loại hàng hoá có giá trị
cao, được bảo quản riêng theo từng lô của, mỗi lần nhập.
Cuối kỳ, kế toán tiến hành phân bố chi phí thu mua của hàng còn lại đầu kỳ và

* Điều kiện vận dụng:
Những đơn vị thường xuyên áp dụng phương pháp hạch toán thẻ song song
thường có đặc trưng: chủng loại vật tư ít, mật độ nhập xuất nhiều cần giám sát
thường xuyên, hệ thống kho tàng tập trung kế toán có thể kiểm tra và đối chiếu
thường xuyên.
* Đặc điểm tổ chức sổ và quy trình hạch toán :
11
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trị giá mua của
hàng xuất bán
trong kì
+
Chi phí thu mua phân
bổ cho hàng xuất bán
trong kì
Trị giá vốn của hàng
bán ra trong kì
=
Bảng kê tổng hợp nhập - xuất - tồn
Chứng từ
nhập
Chứng từ
xuất
Sổ số dư
(3)
)
Bảng kê kuỹ kế nhập
Ghi hàng ngày hoặc định kì
Đối chiếu kiểm tra
Ghi cuối tháng

Sổ đối chiếu luân chuyển
Ghi cuối kỳ
Chứng từ
nhập
Chứng từ
xuất
Bảng kê nhập
Ghi hàng ngày
Đối chiếu kiểm tra
Thẻ kho
Bảng kê xuất
(4)
(2)
(2)
(1)
(1) (3)
(3)
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Tại kho: Thủ kho thực hiện các bước (1), (3). ở phương pháp này ngoài việc ghi
chép giống phương pháp trên thủ kho còn sử dụng sổ số dư để ghi chép chỉ tiêu
số lượng của hàng hoá. Sổ này do kế toán lập cho từng thủ kho và sử dụng cả
năm. Hàng tháng, vào ngày cuối tháng kế toán chuyển sổ dư cho thủ kho. Thủ
kho sau khi cộng số liệu nhập xuất trong tháng và tính ra số tồn cuối tháng của
từng loại hàng trên thẻ kho và vào sổ số dư theo từng loại hàng hoá.
Cũng vào cuối tháng, sau khi nhận được sổ số dư do thủ kho chuyển lên thì kế
toán căn cứ vào số lượng và đơn giá của từng loại hàng hoá tồn kho để tính ra
chỉ tiêu giá trị của số dư và ghi vào cột “thành tiền” trên sổ số dư. Số liệu này
được đối chiếu với số liệu cột tồn kho trên Bảng tổng hợp và chúng phải trùng
nhau.
3.3. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.

phương tiện vận tải của mình hay thuê ngoài chuyển đến giao cho bên mua tại
một địa điểm đã được thoả thuận giữa hai bên. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc
14
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại, số hàng này được xác nhận là tiêu
thụ khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hay chấp nhận thanh toán.
15
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
4.2. Bán buôn vận chuyển thẳng.
Đây là hình thức bán buôn mà các doanh nghiệp thương mại sau khi mua
hàng, nhận hàng mua về không nhập kho mà chuyển thẳng cho bên mua. Phương
thức này được thực hiện theo các hình thức:
* Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán.
Theo hình thức này, doanh nghiệp không tham gia vào việc thanh toán tiền
mua hàng bán hàng với người mua, người bán. Doanh nghiệp chỉ thực hiện việc
môi giới: sau khi tìm được nguồn hàng, thoả thuận giá cả số lượng (dựa trên cơ
sở giá cả số lượng trong đơn đặt hàng của người mua) doanh nghiệp tiến hành
bàn giao hàng ngày tại kho hay địa điểm giao hàng của người bán và người mua
có trách nhiệm thanh toán với người bán chứ không phải với doanh nghiệp. Như
vậy, hàng hoá trong trường hợp này không thuộc sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp được hưởng hoa hồng môi giới.
*Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán.
Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng chuyển hàng
đi bán thẳng cho bên mua tại một địa diểm đã thoả thuận. Hàng hoá lúc này vẫn
thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ khi bên mua thanh toán hoặc khi doanh
nghiệp nhận được giấy biên nhận hàng và bên mua chấpnhận thanh toán thì hàng
hoá được xác nhận là tiêu thụ. Trong trương hợp này, doanh nghiệp tham gia
thanh toán với cả hai bên: Thu tiền bán hàng của người mua và trả tiền mua hàng

trên tổng giá trị hàng gửi bán đã tiêu thụ mà không được trừ đi phần hoa hồng đã
trả cho bên nhận đại lý. Khoản hoa hồng doanh nghiệp đã trả coi như là phần chi
phí bán hàng được hạch toán vào tài khoản 641.
*Đối với bên nhận đại lý:
Số hàng nhận đại lý không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng
doanh nghiệp có trách nhiệm phải bảo quản, giữ gìn, bán hộ. Số hoa hồng được
hưởng là doanh thu trong hợp đồng bán hộ của doanh nghiệp.
4.5. Phương thức hàng đổi hàng.
17
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Trường hợp này khác với các phương thức bán hàng trên là người mua không
trả bằng tiền mà trả bằng vật tư, hàng hoá. Việc trao đổi hàng hoá thường có lợi
cho cả hai bên vì nó tránh được việc thanh toán bằng tiền, tiết kiệm được vốn lưu
động, đồng thời vẫn tiêu thụ được hàng hoá.
Theo phương thức này căn cứ vào hợp đồng kinh tế mà các doanh nghiệp đã
ký kết với nhau, hai bên tiến hành trao đổi hàng hoá của mình cho nhau trên cơ
sở ngang giá. Trong trường hợp này hàng gửi đi coi như bán và hàng nhận về coi
như mua.
II. Kế toán bán hàng hoá.
* Nguyên tắc xác định hàng được bán.
Theo chế độ kế toán mới ban hành của Việt Nam, những điều kiện để được
xác định là đã bán và có doanh thu là:
- Hàng hoá đó phải thông qua mua bán và thanh toán bằng tiền theo một
phương thức thanh toán nhất định.
- Doanh nghiệp mất quyền sở hữu về số hàng hoá đó, người mua đã trả
tiền hoặc chấp nhận thanh toán.
- Hàng hoá thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp do doanh nghiệp
mua vào hoặc sản xuất chế biến.
Ngoài ra còn có một số trường hợp ngoại lệ được hạch toán vào doanh thu như

kiêm phiếu xuất kho, phiếu thu phiếu chi tiền mặt,giấy báo có, báo nợ ngân
hàng Trình tự luân chuyển chứng từ bán hàng như sau:
Đầu tiên bộ phận bán hàng tiếp nhận đơn đặt hàng của khách hàng, sau đó
chuyển đơn đặt hàng này cho phòng tài vụ để xác định phương thức thanh toán.
Khi chấp nhận bán hàng, bộ phận bán hàng sẽ lập hoá đơn bán hàng. Thủ kho
căn cứ vàp hoá đơn kiêm phiếu xuất kho tiến hành xuất kho, ghi thẻ kho sau đó
chuyển hoá đơn kiêm phiếu xuấtkho tiến hành xuất kho, ghi thẻ kho sau đó
chuyển hoá đơn nàycho kế toán. Căn cứ vào hóa đơn kế toán ghi sổ tiêu thụ và
sổ theo dõi thanh toán với người mua.
1.2. Tài khoản sử dụng.
Trong hạch toán bán hàng kế toán sử dụng một số tài khoản sau:
 TK 156 : “Hàng hoá “
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình nhập xuát- tồn kho hàng hoá.
Kết cấu phản ánh nội dung của TK 156
19
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
20
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
TK 157- “Hàng gửi bán”
Trj giá hàng hoá gửi bán đầu kỳ
-Trị giá hàng hoá gửi bán trong kỳ
Trị giá hàng hoá gửi bán đã bán trong kỳ
-Trị gái hàng hoá, thành phẩm gửi đi bán bị trả lại
Dư CK: Trị giá hàng hoá gửi bán cuối kỳ
TK 511 “Doanh thu bán hàng”
-Thuế êu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp
-Doanh thu bị triết khấu giảm giá và hàng bán bị trả lại trong kỳ
-kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911 để xác định kết quả
-Doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm (doanh thu chưa có thuế đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp thuế khấu trừ và doanh thu có thuế đối với đơn vị _nh thuế GTGT theo phương pháp trực ếp) trong kỳ

(3)
(4)
(8)
(9)
(10)
(7)
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Công ty ( là các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc). TK này cũng có kết
cấu như TK511 và được chi tiết thành 3 TK cấp 2 : 5121, 5122, 5123.
 Tài khoản 531 – “Hàng bán bị trả lại”.
Tài khoản này phản ánh doanh thu của hàng bán bị trả lại.
TK này cuối kỳ không có số dư.
 TK 532 – “ Giảm giá hàng bán”
Tài khoản này phản ánh số tiền giảm giá hàng bán do kém phẩm chất, sai qui
cách hay khách hàng mua với khối lượng lớn.
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ
 TK 632- “ Giá vốn hàng bán”
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn hàng hoá thành phẩm đã bán trong
kỳ. TK 632 cuối kỳ không có số dư.
1.3. Phương pháp hạch toán.
1.3.1. Kế toán các trường hợp bán buôn qua kho (Đối với đơn vị tính thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ).
Sơ đồ 1: Hạch toán nghiệp vụ bán buôn qua kho

22
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
TK 156

1.3.2.Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng ( Đối với đơn vị tính
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ ).
 Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán.
Sơ đồ 2 : Hạch toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia
thanh toán.

23
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
(1) Giá vốn hàng bán (trườnghợp giao nhận trực tiếp tay ba với nhà cung
cấp và khách hàng)
(2a) Hàng gửi bán (trường hợp doanh nghiệp phải chuyển hàng đến cho khách
hàng)
(2b) Giá vốn hàng gửi bán đã xác định tiêu thụ
(3) Thuế GTGT đầu vào
(4) Doanh thu bán hàng
(5)Thuế GTGT đầu ra của cửa hàng
(6) Giảm giá hàng bán và doanh thu hàng bán bị trả lại
(7) Kết chuyển giảm giá hàng bán và doanh thu hàng bán bị trả lại
(8) Kết chuyển doanh thu bán hàng
(9) Kết chuyển giá vốn hàng bán
 Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh
toán.
Sơ đồ 3 : Hạch toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng không tham
gia thanh toán
TK 111, 112 TK511 TK 111, 112
TK 641 (1)
(3)
TK911 TK3331
(4) (5) (2)

phương pháp khấu trừ)
 Trường hợp doanh nghiệp có hàng giao đại lý:
25
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status