Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Lời nói đầu
Trong một nền kinh tế, doanh nghiệp thương mại giữ vai trò phân phối lưu
thông hàng hoá, thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Hoạt động của doanh
nghiệp thương mại diễn ra theo chu kì T-H-T’ hay nói cách khác nó bao gồm
hai giai đoạn mua và bán hàng hoá. Như vậy, trong hoạt động kinh doanh
thương mại, bán hàng là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, nó giữ vai trò chi phối
các nghiệp vụ khác. các chu kì kinh doanh chỉ có thể diễn ra liên tục nhịp
nhàng khi khâu bán hàng được tổ chức tố nhằm quay vòng vốn nhanh, tăng
hiệu suất sinh lời.
Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh là hiện tượng tất yếu. Nó vừa là cơ
hội vừa là thử thách đối với mỗi doanh nghiệp. Cơ chế thị trường cho phép
đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp
nào tổ chức tốt nghiệp vụ bán hàng đảm bảo thu hồi vốn và có lãi sẽ có điều
kiện tồn tại và phát triển. Ngược lại doanh nghiệp tỏ ra non kém trong tổ chức
hoạt động kinh doanh thì chẳng bao lâu sẽ đi đến bờ vực phá sản, thực tế của
nền kinh tế nước ta đang chứng tỏ điều đó.
Bước sang năm 2007, việc bán hàng hoá của các doanh nghiệp trên toàn
quốc phải đối mặt với không ít khó khăn thử thách. Một là, sự gia tăng ngày
càng nhiều của các doanh nghiệp với các loại hình kinh doanh đa dạng làm
cho sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt. Thêm vào đó, cùng với chính
sách mở của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải đối mặt với sự
cạnh tranh của các hãng nước ngoài. Hai là, cơ chế quản lý kinh tế còn nhiều
bất cập gây không ít khó khăn trở ngại cho các doanh nghiệp. Do vậy, để có
thể đứng vững trên thương trường thì doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác
bán hàng, có chiến lược bán hàng thích hợp cho phép doanh nghiệp chủ động
thích ứng với môi trường nắm bắt cơ hội, huy động có hiệu quả nguồn lực hiện
có và lâu dài để bảo toàn và phát triển vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Gắn liền với công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh, kế toán bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh giữ một vai trò hết sức quan trọng vì nó
1
doanh trong doanh nghiệp thương mại
I. Những vấn đề chung về bán hàng
1. Đặc điểm, chức năng, ý nghĩa của hoạt động bán hàng và xác định kết
quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường, khi mà các doanh nghiệp phải tự hạch toán
kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình thì bán hàng hoá có
ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự sống còn của các doanh nghiệp. Các
Mác đã từng khẳng định: Lưu thông vừa là tiền đề, vừa là điều kiện, vừa là
kết quả của sản xuất.Theo quan điểm này thì sản xuất và lưu thông gắn bó
chặt chẽ với nhau tạo nên một chu trình tái sản xuất xã hội. Các doanh nghiệp
thương mại thực hiện khâu trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng. Quá
trình này bao gồm hai khâu mua và bán hàng hoá, là một tất yếu của quá trình
tái sản xuất.
Quá trính bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại là quá trình vận động
của vốn kinh doanh từ vốn hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả
kinh doanh thương mại. Quá trình bán hàng hoàn tất khi hàng hoá đac giao
cho người mua và đã thu đuợc tiền bán hàng.
Chúng ta có thể khái quát đặc điểm cơ bản của quá trình bán hàng như sau:
-Đó là sự mua bán có thoả thuận: doanh nghiệp đồng ý bán và khách hàng
đồng ý mua, đã trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
-Doanh nghiệp giao cho khách hàng một lượng hàng hoá và nhận được từ
khách hàng một khoản tiền hoặc một khoản nợ. Khoản tiền này được gọi là
doanh thu bán hàng, dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá
trình kinh doanh.
- Căn cứ vào số tiền hay khoản nợ mà khách hàng chấp nhận trả để hạch
toán kết quả kinh doanh trong kì của doanh nghiệp.
3
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
- Xét về mặt kinh tế học, bán hàng là một trong bốn khâu của quá trình tái
4
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
hiện nay, khi mà các doanh nghiệp đang phải tiến hành kinh doanh trong điều
kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường, việc xác định
kết quả kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý, cung cấp các
thông tin không những cho các nhà quản lí của doanh nghiệp để lựa chọn
phương án kinh doanh có hiệu qủa mà nó còn là căn cứ để các cơ quan quản
lý tài chính, cơ quan thuế... thực hiện việc giám sát việc chấp hành các chính
sách, chế độ tài chính...
Với những đặc điểm và vai trò nêu trên, kế toán bán hàng và xác định kết
quả kinh doanh có những nhiệm vụ sau:
- Một là ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời khối lượng hàng hoá bán ta,
tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng bán ra và các chi phí nhằm xác
định chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Hai là cung cấp thông tin kịp thời về tình hình bán hàng phục vụ cho
lãnh đạo, điều hành hoạt động kinh doanh thương mại.
- Ba là kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận, kỉ
luật thanh toán và quản lí chặt chẽ tiền bán hàng, kỉ luật thu nộp ngân sách.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên kế toán bán hàng và xác định kết quả
kinh doanh phải chú ý những nội dung sau:
Thứ nhất, xác định đúng thời điểm hàng hoá được coi là được bán để kịp
thời lập báo cáo bán hàng và phản ánh doanh thu. Báo cáo thường xuyên, kịp
thời tình hình bán hàng và thanh toán với khách hàng, đảm bảo giám sát chặt
chẽ hàng bán về số lượng, chất lượng, chủng loại, thời gian...Đôn đốc việc thu
tiền bán hàng về quĩ kịp thời, tránh hiện tượng tiêu cực sử dụng tiền hạng cho
mục đích cá nhân.
Thứ hai, tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển hợp lí.
Các chứng từ ban đầu phải đầyđủ hợp pháp, luân chuyển khoa học, hợp lí
tránh trùng lặp, bỏ sót và không quả phức tạp nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu
2.1. Phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền.
Giá mua của hàng hoá mua trong kì
=
Số lượng hàng hoá xuất kho trong kì
x
Đơn giá mua bình quân gia quyền
6
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Trong đó:
Theo phương pháp này, giá vốn của hàng hoá xuất kho để bán tính được
tương đối hợp lý nhưng không linh hoạt vì cuối tháng cuối tháng mới tính
được đơn giá bình quân.
2.2. Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập.
Về bản chất, phương pháp này giống phương pháp trên nhưng đơn giá bình
quân phải được tính lại sau mỗi lần nhập trên cơ sở giá mua của hàng tồn và
giá mua của lần nhập đó. Phương pháp này đảm bảo số liệu có độ chính xác
cao và kịp thời tuy nhiên khối lượng công việc tính toán lại tăng thêm do đó
chỉ nên áp dụng với các doanh nghiệp có số lần mua hàng hoá ít nhưng khối
lượng lớn.
2.3. Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO)
Theo phương pháp này hàng hoá xuất được tính giá mua trên cơ sở giả định
lô hàng nào nhập kho trước thì tính gía mua vào của cho hàng hoá xuất trước,
nhập sau thì tính sau.
Kế toán phải mở sổ chi tiết cho từng loại hàng về số lượng, đơn giá và
thành tiền về từng lần nhập xuất hàng hoá.
2.4. Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO)
Phương pháp này tính giá mua hàng hoá bán ra trên cơ sở giả định lô hàng
nào nhập kho sau thì được xuất trước, vì vậy việc tính giá mua sẽ ngược lại
với phương pháp nhập trước xuất trước.
Hệ số chênh lệch tỷ giá
=
Trị giá mua thực tế của hàng tồn đầu kì
+
Trị giá hạch toán của hàng tồn đầu kì
+
Trị giá mua hạch toán của hàng nhập trong kì
Trị giá mua thực tế của hàng hoá bán ra được xác định theo công thức:
Trị giá mua thực
tế hàng bán ra
= Giá hạch toán của
hàng bán ra trong kì
x Hệ số chênh lệch
giá
2.6. Phương pháp giá thực tế đích danh.
8
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Theo phương pháp này, trị giá mua của hàng hoá xuất kho bán thuộc lô
hàng nhập nào thì tính theo đơn giá của chính lô đó.
Phương pháp này phản ánh rất chính xác giá của từng lô hàng xuất bán
nhưng công việc rất phức tạp phương pháp đòi hỏi thủ kho phải nắm được chi
tiết rừng lô hàng, phương pháp này được áp pháp dụng cho các loại hàng hoá
có giá trị cao, được bảo quản riêng theo từng lô của, mỗi lần nhập.
Chi phí mua hàng phát sinh trong kì
Chi phí thu mua phân bổ của hàng bán ra trong kì
=
+
Trị giá mua của hàng tồn đầu kì
+
trong ba phương pháp sau:
3.1. Phương pháp thẻ song song.
* Điều kiện vận dụng:
Những đơn vị thường xuyên áp dụng phương pháp hạch toán thẻ song song
thường có đặc trưng: chủng loại vật tư ít, mật độ nhập xuất nhiều cần giám sát
thường xuyên, hệ thống kho tàng tập trung kế toán có thể kiểm tra và đối
chiếu thường xuyên.
Chứng từ nhập
Chứng từ xuất
Bảng tổng hợp xuất nhập tồn luỹ kế xuất
Chứng từ nhập
Sổ chi tiết hàng hoá
(1)
(2)
(3)
(2)
(4)
Ghi hàng ngày hoặc định kỳ
Đối chiếu kiểm tra
Ghi cuối tháng
* Đặc điểm tổ chức sổ và quy trình hạch toán :
10
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Tại kho: thực hiện bước (1). Việc ghi chép tình hình nhập xuất tồn do thủ kho
tiến hành trên thẻ kho hoặc sổ kho theo từng loại hàng, từng mặt hàng có
trong kho và ghi theo chỉ tiêu số lượng.
- Tại phòng kế toán thực hiện các bước (2), (3), (4). Kế toán mở thẻ
kế toán chi tiết cho từng loại hàng hoá tương ứng với thẻ kho nhưng khác là
được theo dõi trên cả hai chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Hàng ngày hoặc định kỳ,
(2)
(1)
11
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
(1)
Đặc điểm tổ chức số và quy trình hạch toán:
Tại kho: Thủ kho thực hiện các bước (1), (3). ở phương pháp này ngoài việc
ghi chép giống phương pháp trên thủ kho còn sử dụng sổ số dư để ghi chép
chỉ tiêu số lượng của hàng hoá. Sổ này do kế toán lập cho từng thủ kho và sử
dụng cả năm. Hàng tháng, vào ngày cuối tháng kế toán chuyển sổ dư cho thủ
kho. Thủ kho sau khi cộng số liệu nhập xuất trong tháng và tính ra số tồn cuối
tháng của từng loại hàng trên thẻ kho và vào sổ số dư theo từng loại hàng hoá.
Cũng vào cuối tháng, sau khi nhận được sổ số dư do thủ kho chuyển lên thì
kế toán căn cứ vào số lượng và đơn giá của từng loại hàng hoá tồn kho để
tính ra chỉ tiêu giá trị của số dư và ghi vào cột “thành tiền” trên sổ số dư. Số
liệu này được đối chiếu với số liệu cột tồn kho trên Bảng tổng hợp và chúng
phải trùng nhau.
3.3. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
*Điều kiện vận dụng:
Phương pháp này thích hợp với doanh nghiệp có quy mô họat động vừa,
chủng loại nguyên vật liệu không nhiều, khối lượng chứng từ nhập xuất
không quá nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật liệu do vậy không
có điều kiện ghi chép, theo dõi hàng ngày.
12
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Sổ đối chiếu luân chuyển
Ghi cuối kỳ
Chứng từ
sử dụng một trong các phương thức sau:
4.1. Bán buôn qua kho.
Đây là hình thức bán buôn mà hàng hoá bán được xuất ra từ kho của doanh
nghiệp. Theo phương thức này có 2 hình thức bán buôn:
* Bán buôn qua kho bằng cách giao hàng trực tiếp: theo hình thức này, bên
mua cử đại diện đến kho doanh nghiệp thương mại để nhận hàng. Doanh
nghiệp xuất kho hàng hoá giao trực tiếp cho đại diện bên mua ký nhận đủ
hàng, bên mua đã thanh toán hoặc chập nhận thanh toán, hàng hoá được xác
nhận là tiêu thụ.
* Bán buôn qua kho bằng cách chuyển thẳng hàng: Theo hình thức này, căn
cứ vào hợp đồng đã ký kết, doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá
bằng phương tiện vận tải của mình hay thuê ngoài chuyển đến giao cho bên
mua tại một địa điểm đã được thoả thuận giữa hai bên. Hàng hoá chuyển bán
vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại, số hàng này được xác
nhận là tiêu thụ khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hay chấp nhận
thanh toán.
14
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
4.2. Bán buôn vận chuyển thẳng.
Đây là hình thức bán buôn mà các doanh nghiệp thương mại sau khi mua
hàng, nhận hàng mua về không nhập kho mà chuyển thẳng cho bên mua.
Phương thức này được thực hiện theo các hình thức:
* Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán.
Theo hình thức này, doanh nghiệp không tham gia vào việc thanh toán tiền
mua hàng bán hàng với người mua, người bán. Doanh nghiệp chỉ thực hiện
việc môi giới: sau khi tìm được nguồn hàng, thoả thuận giá cả số lượng (dựa
trên cơ sở giá cả số lượng trong đơn đặt hàng của người mua) doanh nghiệp
tiến hành bàn giao hàng ngày tại kho hay địa điểm giao hàng của người bán
và người mua có trách nhiệm thanh toán với người bán chứ không phải với
Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng thành nhiều lần.
Doanh nghiệp thương mại ngoài số tiền thu theo giá bán hàng còn thu thêm ở
người mua một khoản tiền lãi vì trả chậm.
4.4. Phương thức bán hàng qua đại lý.
- Đối với bên giao đại lý:
Hàng giao cho đơn vị đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và
chưa xác dịnh là đã bán. Doanh nghiệp chỉo hạch toán vào doanh thu khi nhận
được tiền toán của bên nhận đại lý hoặc đã được chấp nhận thanh toán.
Doanh nghiệp có trách nhiệm nộp thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu
có) trên tổng giá trị hàng gửi bán đã tiêu thụ mà không được trừ đi phần hoa
hồng đã trả cho bên nhận đại lý. Khoản hoa hồng doanh nghiệp đã trả coi như
là phần chi phí bán hàng được hạch toán vào tài khoản 641.
*Đối với bên nhận đại lý:
Số hàng nhận đại lý không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng
doanh nghiệp có trách nhiệm phải bảo quản, giữ gìn, bán hộ. Số hoa hồng
được hưởng là doanh thu trong hợp đồng bán hộ của doanh nghiệp.
4.5. Phương thức hàng đổi hàng.
Trường hợp này khác với các phương thức bán hàng trên là người mua
không trả bằng tiền mà trả bằng vật tư, hàng hoá. Việc trao đổi hàng hoá
16
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
thường có lợi cho cả hai bên vì nó tránh được việc thanh toán bằng tiền, tiết
kiệm được vốn lưu động, đồng thời vẫn tiêu thụ được hàng hoá.
Theo phương thức này căn cứ vào hợp đồng kinh tế mà các doanh nghiệp
đã ký kết với nhau, hai bên tiến hành trao đổi hàng hoá của mình cho nhau
trên cơ sở ngang giá. Trong trường hợp này hàng gửi đi coi như bán và hàng
nhận về coi như mua.
II. Kế toán bán hàng hoá.
* Nguyên tắc xác định hàng được bán.
Bộ phận vận chuyển
Kế toán hàng hoá
Đầu tiên bộ phận bán hàng tiếp nhận đơn đặt hàng của khách hàng, sau đó
chuyển đơn đặt hàng này cho phòng tài vụ để xác định phương thức thanh
toán. Khi chấp nhận bán hàng, bộ phận bán hàng sẽ lập hoá đơn bán hàng.
Thủ kho căn cứ vàp hoá đơn kiêm phiếu xuất kho tiến hành xuất kho, ghi thẻ
kho sau đó chuyển hoá đơn kiêm phiếu xuấtkho tiến hành xuất kho, ghi thẻ
kho sau đó chuyển hoá đơn nàycho kế toán. Căn cứ vào hóa đơn kế toán ghi
sổ tiêu thụ và sổ theo dõi thanh toán với người mua.
1.2. Tài khoản sử dụng.
Trong hạch toán bán hàng kế toán sử dụng một số tài khoản sau:
TK 156 : “Hàng hoá “
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình nhập xuát- tồn kho hàng hoá.
TK 156 “Hàng hoá”
Dư ĐK: Trị giá vốn hàng tồn đầu kỳ
-Trị giá mua của hàng hoá nhập kho trong kỳ( theo phương pháp KKTX)
-Trị giá thuê gia công chế biến nhập kho(KKTX)
-Chi phí thu mua (KKTX)
-Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ (Theo phương pháp KKĐK)
-Trị giá xuất kho của hàng hoá bán và hàng trả lại người bán (KKTX)
-Giảm giá được hưởng(KKTX)
18
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
Trường CĐ Tài chính & Quản trị kinh doanh
Trị giá hàng thiếu hụt coi như xuất(KKTX)
-Trị giá tồn kho đầu kỳ đã kết chuyển (KKĐK)
Dư CK: Trị giá vốn hàng tồn cuối kỳ
Kết cấu phản ánh nội dung của TK 156
19
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A
- TK5112 : Doanh thu bán thành phẩm
- TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ
- TK5114 :Doanh thu trợ cấp trợ giá
TK 512 – “ Doanh thu bán hàng nội bộ” TK này phản ánh doanh thu
về sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ giữa các đơn vị trong cùng công ty,
tổng Công ty ( là các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc). TK này cũng
có kết cấu như TK511 và được chi tiết thành 3 TK cấp 2 : 5121, 5122,
5123.
Tài khoản 531 – “Hàng bán bị trả lại”.
Tài khoản này phản ánh doanh thu của hàng bán bị trả lại.
TK này cuối kỳ không có số dư.
TK 532 – “ Giảm giá hàng bán”
Tài khoản này phản ánh số tiền giảm giá hàng bán do kém phẩm chất, sai
qui cách hay khách hàng mua với khối lượng lớn.
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ
TK 632- “ Giá vốn hàng bán”
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn hàng hoá thành phẩm đã bán
trong kỳ. TK 632 cuối kỳ không có số dư.
1.3. Phương pháp hạch toán.
1.3.1. Kế toán các trường hợp bán buôn qua kho (Đối với đơn vị tính
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ).
Sơ đồ 1: Hạch toán nghiệp vụ bán buôn qua kho
TK 111, 112, 131
TK 632
TK 911
TK 111, 112, 131
TK 511
TK 3331
TK 152, 153, 156
21
nghiệp.
(10) Kết chuyển doanh thu bán hàng thuần.
1.3.2.Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng ( Đối với đơn vị tính
thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ ).
Kế toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh
toán.
Sơ đồ 2 : Hạch toán nghiệp vụ bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia
thanh toán.
TK 111, 112, 331
TK 632
TK 911
(1)
(2)
TK 511
TK 111, 112, 131
(4)
TK 111, 112, 131
TK 531, 532
(6)
(7)
(8)
TK331
(5)
TK157
(2a)
(2b)
TK 133
(3)
23
(5) Két chuyển hoa hồng được hưởng
25
SV: Nguyễn Đức Mạnh - Lớp K3A