LUẬN VĂN ĐỊA KỸ THUẬT TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 – ĐƯỜNG TÂN LẬP - Pdf 18

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT VÀ DẦU KHÍ
BỘ MÔN ĐỊA KỸ THUẬT
˜—&–™

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÍNH TOÁN THIẾT KẾ XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU
BẰNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẲNG ĐỨNG
CHO DỰ ÁN ĐƯỜNG NỐI LIÊN TỈNH LỘ 25 –
ĐƯỜNG TÂN LẬP SVTH: TRẦN MẠNH TÌNH
MSSV: 30404636
GVHD: TS. NGUYỄN MẠNH THỦY
theo tiêu chuẩn 22TCN 262 - 2000.
iii

3. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Tổng hợp kiến thức đã học vào thực tế, đề tài có phạm vi áp dụng rộng rãi không chỉ
cho công trình đang nghiên cứu mà còn có thể áp dụng cho các công trình có điều kiện địa
chất tương tự. Ngoài ra còn có thể áp dụng cho các công trình đắp, nền đường đắp, mở rộng
nền đường khi qua khu vực đất yếu.

v
TÓM TẮT

Tên đề tài luận văn: “Tính toán thiết kế hệ thống thoát nước thẳng đứng
cho dự án đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập”.
Hiện nay, việc xây dựng nền đường đắp trên đất yếu đang
Đại Học Quốc Gia Tp.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐH BÁCH KHOA Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Số: ______ /BKĐT

KHOA: ĐỊA CHẤT – DẦU KHÍ NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
BỘ MÔN: ĐỊA KỸ THUẬT
HỌ VÀ TÊN: _____________________________ MSSV: _____________
NGÀNH: ______________________________ LỚP: ______________
1. Đầu đề luận văn:
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
2. Nhiệm vụ (yêu cầu về nội dung và số liệu ban đầu):
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________

các dự án kinh tế lớn, các khu dân cư đang được thực hiện. Cùng với sự phát triển đó
thì việc phát triển cơ sở hạ tầng giao thông là một vấn đề cần thiết hiện nay. Với mục
tiêu ban đầu là phục vụ cho việc đầu tư xây dựng khu dân cư Nam Rạch Chiếc (Quận
2, Thành phố Hồ Chí Minh), Ủy ban nhân dân thành phố đã duyệt dự án xây dựng
đường nối Liên Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập, tuyến đường này đều nằm trên nền đất
yếu với bề dày thay đổi vì vậy cần phải tiến hành xử lý đất nền trước khi xây dựng
tuyến đường này.
Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, góp phần vào sự
nghiệp xây dựng và kiến thiết đất nước. Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Tính toán thiết
kế xử lý nền đất yếu bằng hệ thống thoát nước thẳng đứng cho dự án đường nối Liên
Tỉnh Lộ 25 – đường Tân Lập”.
2. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá tổng quan điều kiện địa chất – địa chất công trình khu vực Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Tìm hiểu đặc điểm địa chất công trình khu vực tuyến đường nối Liên Tỉnh Lộ
25 – đường Tân Lập.
- Xác định các chỉ tiêu tính toán của công trình và của đất nền.
- Đưa ra giải pháp xử lý để cải tạo nền đường.
ii
3. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài có phạm vi áp dụng rộng rãi không chỉ cho công trình đang nghiên cứu
mà còn có thể áp dụng cho các công trình có điều kiện địa chất tương tự. Ngoài ra còn
có thể áp dụng cho các công trình đắp, nền đường đắp, mở rộng nền đường khi qua
khu vực đất yếu.

hành trang trong cuộc sống.
Con xin gửi lòng biết ơn tới Gia Đình đã nuôi con ăn học, động viên con rất
nhiều trong quá trình làm luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm nghiên cứu công nghệ và thiết bị công nghiệp
đã cung cấp tài liệu địa chất. Cảm ơn tập thể lớp 304KT đã động viên giúp đỡ tôi rất
nhiều trong quá trình làm luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2008.
Sinh viên
Trần Mạnh Tình
1
CHƯƠNG 1
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI

1.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý từ 10
0
10’ - 10
0
36’ vĩ độ Bắc và
106
0
22’ - 106


2
tháng 1. Giá trị nhiệt độ trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Nhất được thể hiện trong
bảng 1.1.
Độ ẩm không khí: Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm là 79,5%; bình
quân mùa mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và
mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%. Giá trị độ ẩm trung bình tháng tại trạm Tân Sơn
Nhất được thể hiện trong bảng 1.1.
Lượng mưa: lượng mưa cao, bình quân/năm 1949 mm. Năm cao nhất 2.718 mm
(1908) và năm nhỏ nhất 1.392 mm (1958). Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày.
Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến
tháng 11); trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất. Các tháng 1, 2, 3
mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa
phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc. Giá trị
lượng mưa trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Nhất được thể hiện trong bảng 1.1.
Bảng 1.1: Nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa trung bình tháng tại trạm Tân Sơn Nhất
Yếu tố
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nhiệt
độ
TB(
0
C)
25,7 26,6 27,5 28,8

28,3 27,4 27,1 27,1 26,8 26,6 26,3 25,7

Độ ẩm
TB (%)
3
1.1.4. Thủy văn
Hệ thống sông ảnh hưởng lớn đến đặc điểm địa chất thủy văn của khu vực thành
phố Hồ Chí Minh là hệ thống sông Đồng Nai. Hệ thống sông Đồng Nai có lưu vực
khoảng 32.000 km
2
, gồm sông chính là sông Đồng Nai, 4 sông phụ là sông La Ngà,
Sông Bé, Sài Gòn và bờ Tây sông Vàm Cỏ Đông. Hai sông chảy qua thành phố Hồ
Chí Minh là sông Đồng Nai và Sài Gòn [1].
Ngoài ra, thành phố Hồ Chí Minh còn có một mạng lưới kênh rạch gồm: Rạch
Cát, Tham Lương, Thị Nghè, Nhiêu Lộc, Kênh Đôi, Rạch Chiếc.
Hầu hết các sông rạch Thành phố Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng dao động
của triều biển Ðông. Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều xâm nhập
sâu vào các kênh rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ đối với sản xuất
nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. Mực nước triều bình
quân cao nhất là 1,10m. Tháng có mực nước cao nhất là tháng 10 - 11, thấp nhất là các
tháng 6 - 7. Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 4% có thể xâm
nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến đến tận Thủ Dầu Một và trên
sông Ðồng Nai đến Long Ðại. Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên biên mặn bị đẩy
lùi ra xa hơn và độ mặn bị giảm đi nhiều.
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ – XÃ HỘI
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích
2095,239 km
2
. Vào năm 2006, thành phố có dân số 6.424.519 người, mật độ trung
bình 3,067 người/km². Dân cư chủ yếu là người kinh chiếm 92,91 % dân số thành phố,
tiếp theo tới người hoa với 6,69 %, còn lại là các dân tộc Chăm, Khmer Những
người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh cư trú ở khắp các quận, huyện, nhưng tập trung

đầu người ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước
(730 USD/năm).
Công nghiệp: ngành công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần
đây có những bước phát triển vượt bậc. Tính đến giữa năm 2006, thành phố có 3 khu
chế xuất và 12 khu công nghiệp, đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452
dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 ngàn tỉ
VND, Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam về tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007. Riêng trong
năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD, đã thu được nguồn
ngoại tệ lớn không những cho thành phố mà còn cho cả nước. 5
Nông nghiệp: Nông nghiệp gồm có trồng trọt và chăn nuôi, trồng trọt chủ yếu là
cây lúa, hoa màu, rừng nước mặn, diện tích cây lương thực có hạt 78.400 ha; sản
lượng thủy sản 43.516 tấn.
Du lịch – dịnh vụ: Hoạt động du lịch của thành phố phát triển mạnh. Trong
khoảng 4,3 triệu khách quốc tế đến Việt Nam vào năm 2007 thì có 3 triệu khách đã tới
thăm Thành phố Hồ Chí Minh, tức 70 %. Năm 2007 cũng là năm thành phố có được
bước tiến mạnh mẽ, lượng khách tăng khoảng 12 % so với 2006, doanh thu ngành du
lịch đạt 19.500 tỷ VNĐ. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch đã phát huy các phương
tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng chuyên mục du lịch trên các báo lớn,
truyền hình, tăng cường và nâng cao hiệu quả các đợt tham dự hội chợ du lịch chuyên
nghiệp khu vực và các thị trường trọng điểm [1].
Giáo dục – y tế: Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng khẳng định vai trò trung
tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của mình, và cũng là trung tâm y tế lớn nhất cả
nước. Về công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã phát triển theo chiều hướng
ngày càng gia tăng, số lượng đào tạo thường năm sau cao hơn năm trước, loại hình đào
tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư. Số lượng trường đại học và cao
đẳng trên địa bàn tăng nhanh theo đà phát triển kinh tế. Từ năm 1995, thành phố đã đạt

2010 phấn đấu đạt 12%/năm.
Phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố gắn liền với tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước; đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ; phát triển
kinh tế theo hướng mạnh về xuất khẩu.
Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng và hiệu quả của từng
ngành và toàn bộ nền kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập,
chiếm lĩnh thị trường trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo đảm dân sinh, nâng cao chất lượng
cuộc sống, công bằng xã hội.
Hạn chế tăng dân số và phân bố lại hợp lý dân cư trong vùng và trên địa bàn
thành phố. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm học vấn, nghề nghiệp, đạo
đức và thể chất.
Phát triển đồng bộ và đi trước một bước hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế – xã
hội, hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông đô thị. 7
Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, nâng cao năng lực điều hành quản lý
nhà nước ở các cấp chính quyền thành phố; nghiên cứu đề xuất, điều chỉnh, bổ sung
những vấn đề thuộc cơ chế, chính sách và luật pháp để tạo động lực mới, động viên
sức dân tham gia xây dựng thành phố.
Phát triển kinh tế, kết hợp với giữ vững an ninh chính trị, trật tự công cộng, an
toàn xã hội, đóng góp tích cực cho công tác bảo đảm an ninh - quốc phòng khu vực
phía Nam và đất nước.
bm).
Hệ tầng Nhà Bè (N
2
1
nb).
Hệ tầng Thủ Đức (Q
2-3
tđ).
Hệ tầng Củ Chi (Q
3
3
cc).
Hệ tầng Bình Chánh (Q
4
1-2
bc).
Hệ tầng Cần Giờ (Q
4
2-3
cg).
2.1.1. Hệ tầng Trảng Bom (aQ
1
3
tb)
Theo các tài liệu lỗ khoan thu thập được, mặt cát chung của hệ tầng gồm ba tập,
thành phần của hệ tầng chủ yếu là cát bột và sạn sỏi. Bề dày tập thay đổi lớn từ 14m
(Suối Đá, Trảng Bom) tới 25 – 40m ở Thành phố Hồ Chí Minh.
2.1.2. Hệ tầng Bà Miêu (N
2
2

3
cc)
Trầm tích phân bố ở phía Đông Bắc Củ Chi và các dãy hẹp ở Thủ Đức. Tổng bề
dày khoảng 28m. Mặt cắt của hệ tầng có sự chuyển biến: tại Cầu Trệt (An Phú, Củ
Chi) mặt cắt của hệ tầng gồm 2 tập còn tại ấp Cây Sộp (Nhuận Đức, Củ Chi) gồm 3
tập. Thành phần chủ yếu của hệ tầng là cát, cát bột, sạn.
Ngoài khu vực trên trầm tích nguồn gốc biển còn phân bố ở khu vực Nam Bình
Chánh và Tây Nam Nhơn Trạch.
2.1.6. Hệ tầng Bình Chánh (Q
4
1-2
bc)
Các trầm tích nguồn gốc sông (aQ
4
1-2
bc). Các trầm tích này có diện phân bố dọc
sông Đồng Nai (từ phía Bắc cầu Đồng Nai) tạo nên bậc thềm cao 3 – 5m hoặc các cù
lao lớn giữa sông, nhiều nơi sông đặt lòng hoàn toàn trên trầm tích này. Từ cầu Đồng
Nai ra tới biển, hệ tầng Bình Chánh bị trầm tích holoxen trung thượng phủ lên với
chiều dày từ một vài mét đến 15 – 20m, tuy trầm tích của hệ tầng này vẫn có mặt ở
vách và đáy của sông, nhưng tướng trầm tích chuyển từ sông sang sông biển. Thành
phần trầm tích là sét bột, bột cát, cát màu vàng nhạt, ở phần đáy có ít sạn, sỏi.
Các trầm tích nguồn gốc sông biển (amQ
4
1-2
bc) có thành phần là sét, sét pha, cát,
cát pha, nhìn chung có độ hạt nhỏ hơn trầm tích sông. Điều đáng lưu ý là trầm tích này
được phân bố chủ yếu ở cửa biển (từ mũi Nhà Bè đổ ra phía biển).
trúc dạng bậc thang kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam. Hệ thống đứt gãy
Đông Bắc – Tây Nam gồm các đứt gãy Hóc Môn – Tân Uyên, Bình Chánh – Phước
Tân Các đứt gãy này phát sinh vào thời kỳ Mezozoi muộn là thời kỳ hoạt động tích
cực của rìa lục địa. Trong Kainozoi chúng hoạt động yếu và bị cắt bởi hệ thống đứt
gãy Tây Bắc – Đông Nam. Hai hệ thống đứt gãy này tạo nên một mạng lưới đứt gãy và
hình thành các khối cấu trúc dương và âm trong lịch sử phát triển Kainozoi [2].
Lịch sử phát triển trầm tích Đệ Tứ khu vực nghiên cứu được đánh dấu bằng giai
đoạn biển thoái khỏi lãnh thổ suốt thời kỳ đầu Pleistoxen sớm (Q
1
1
). Trên bề mặt bào
mòn của khu vực nghiên cứu chỉ hình thành một số trầm tích sông mang tính chất cục 11

bộ, bao gồm các vật liệu hạt thô như cuội, sỏi, cát hạt thô chuyển dần lên là cát hạt
trung, bột và các thấu kính Kaolin.
Sau một thời gian dài gián đoạn trầm tích, vào thời kỳ giữa muộn của Pleistoxen
sớm (Q
1
2-3
) khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận từ từ lún chìm, biển
lại tiến vào. Trên bề mặt bào mòn bắt đầu tích tụ các trầm tích nhiều tướng thuộc hệ
tầng Trảng Bom (Q
1
2
tb) [2].
Quá trình biển tiến trong giai đoạn Pleistoxen giữa - muộn (Q
2–3

1-2
) biển lại tiến vào lục địa và đạt cực đại ở Holoxen
giữa tạo ra một lượng đáng kể các trầm tích biển và hỗn hợp sông biển trải rộng trên
đồng bằng Nam Bộ. Tại khu vực Thành phố kết quả của đợt biển tiến này đã hình
thành các trầm tích của hệ tầng Bình Chánh (Q
4
1-2
bc) gồm sét, sét bột chứa ít cát và cát
sạn lẫn sét bột nguồn gốc biển và hỗn hợp sông biển, phân bố chủ yếu ở Bình Chánh,
Hóc Môn, Nam Thủ Đức, Nhà Bè và dọc các thung lũng Sông Bé, sông Sài Gòn, sông
Đồng Nai. Hệ tầng Bình Chánh phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng Củ Chi (Q
3
3
cc).
Từ cuối Holoxen giữa đến nay hoạt động nâng yếu xảy ra, biển từ từ rút theo
hướng Đông Nam. Tại khu vực Thành phố hình thành các trầm tích của hệ tầng Cần
Giờ (Q
4
2-3
cg) gồm các lớp sét màu xám đen, xám nâu, trên đó là than bùn hoặc sét 12

chứa hữu cơ, có nguồn gốc sông biển, đầm lầy biển, đầm lầy sông, phân bố rộng rãi ở
các huyện Cần Giờ, Nhà Bè Nam Thủ Đức, dọc thung lũng sông Sài Gòn và dọc trũng
Lê Minh Xuân. Trên diện tích vùng Cần Giờ và Nhà Bè hệ tầng Cần Giờ phủ chỉnh
hợp lên hệ tầng Bình Chánh [2].
Nhìn chung, trầm tích đệ tứ khu vực Thành phố được chia thành 5 nhịp ứng với
các thời kỳ thành tạo khác nhau. Mỗi nhịp, bắt đầu bằng trầm tích hạt thô, kết thúc là

các trầm tích hiện đại (Q
4
3
) gồm sét, bột cát và thực vật đang phân hủy, nguồn gốc hỗn
hợp đầm lầy sông, phân bố ở Tây Nam Thủ Đức. Bề mặt đồng bằng thường xuyên bị
ngập nước và bị phân cách mạnh bởi hệ thống sông rạch. Thảm thực vật đầm lầy phát
triển mạnh.
Bãi bồi tích tụ hỗn hợp sông biển: cao độ từ 0 – 1m, cấu tạo bởi các trầm tích gồm
sét, cát, bột nguồn gốc sông biển, chủ yếu phân bố ở Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ
dọc theo các thung lũng sông. Bề mặt bãi bồi phẳng, hẹp, ngập nước khi thủy triều lên
và bị phân cắt mạnh bởi mạnh sông rạch.
Đầm lầy ven biển: độ cao từ 0 – 1m, cấu tạo bởi các trầm tích sét, bột sét màu xám
đen, đen chứa tàn tích thực vật phân hủy yếu nguồn gốc biển, đầm lầy biển, hoặc hỗn
hợp sông biển, phân bố ở Cần Giờ. Đầm lầy có bề mặt bằng phẳng, bị ngập nước
thường xuyên, thảm thực vật nước mặn phát triển mạnh.
Nhìn chung, địa hình khu vực nghiên cứu có sự phân bậc tương đối rõ rệt, quy luật
phân bố của nó liên quan mật thiết với tuổi và nguồn gốc thành tạo của các trầm tích.
2.3.2. TÂN KIẾN TẠO
Hoạt động tân kiến tạo là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên
những nét cơ bản của địa hình hiện nay ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Sự có mặt
của hoạt động tân kiến tạo tại khu vực này thể hiện tương đối rõ nét ở sự tái hoạt động
của nhiều đứt gãy trong Kainozoi tạo chuyển động nâng hạ theo phương thẳng đứng
hình thành các khối nâng, hạ và bậc thềm trong khu vực, ở sự thành tạo các mạng sông
rạch hoặc kéo thẳng song song hoặc gấp khúc vuông góc. Các phun trào bazan trẻ
Phước Tân và Xuân Lộc có thể liên quan đến các hoạt động đứt gãy trẻ. Cuối cùng,
các biểu hiện của động đất dọc theo đứt gãy Bà Rịa – Biên Hòa – Lộc Ninh và sự phá
vỡ bờ biển hiện tại ở duyên hải cũng đều chứng tỏ sự có mặt của các hoạt động tân
kiến tạo.
2.5.2. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistoxen (Q
1- 3
)
Phân bố rộng rãi trên toàn bộ khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, lộ ra trên mặt tại
các vùng Củ Chi, Hóc Môn và Bắc Thủ Đức, phần còn lại bị phủ bởi các trầm tích
Holoxen, đất đá chủ yếu là cát hạt trung, cát hạt thô lẫn sạn sỏi. Tầng này có thể phân
ra hai lớp chứa nước: Lớp trền dày 10 - 35m, lớp dưới 30 - 80m, giữa hai lớp là các
lớp sét, sét pha liên tục, dày 5 - 15 m. Đây là tầng chứa nước áp lực hoặc áp lực yếu.
Tầng chứa nước Pleistoen có mức độ chứa nước từ trung bình đến giàu. Vùng giàu
nước phân bố ở Hóc môn, Bình Chánh, các vùng nội thành với lưu lượng khai thác các
giếng khoan 10 - 120m
3
/h, tỷ lưu lượng 1,1 - 4,5l/s.m. Vùng giàu nước trung bình
phân bố ở Thủ Đức, quận 4, 8 và Bắc Nhà Bè với lưu lượng các giếng 10 - 60m
3
/h, tỷ
lưu lượng 0,25 - 0,85l/s.m. Nhìn chung, nước trong trầm tích Pleiostoxen có quan hệ
thuỷ lực trực tiếp với nước mặt và tầng chứa nước lân cận, động thái thay đổi rõ rệt
theo mùa và chịu ảnh hưởng của thuỷ triều. 15

Nước có tổng độ khoáng hoá từ 0,1 - 17,64g/l. Nước nhạt phân bố ở Củ Chi, Hóc
Môn, Bình Chánh, và các quận nội thành với tổng độ khoáng hoá 0,1 - 0,9g/l, loại hình
hoá học chủ yếu là HCO
3
- Cl, HCO
3
hoặc Cl - HCO

/h, tỷ lưu lượng 0,21 - 0,96l/s.m. Động
thái nước trong tầng tương đối ổn định, không có quan hệ thuỷ lực với các tầng chứa
nước lân cận.
Đặc điểm thuỷ hoá của tầng chứa nước này rất phức tạp. Đường biên mặn (1g/l)
chạy dọc theo hai bên bờ sông Sài Gòn, càng về phía Nam biên mặn càng mở rộng về
hai phía Đông và Tây. Trong vùng mặn này tổng độ khoáng hoá của nước thay đổi 1 -
25g/l, càng về phía biển độ mặn càng tăng, loại hình hoá học nước Cl - Na. Phần diện
tích còn lại là nước ngọt với tổng độ khoáng hoá 0,01 - 0,72g/l, loại hình hoá học chủ
yếu là HCO
3
, HCO
3
– Cl, đôi chỗ là Cl – HCO
3
, nước có hàm lượng sắt tương đối cao,
5 - 15mg/lm có nơi trên 50mg/l.

16

2.5.4. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen dưới (N
2
1
)
Tầng này không xuất lộ trên mặt, phân bố rộng rãi ở Củ Chi, Hóc Môn, khu vực
phía Tây và Tây Nam Thành phố, thành phần đất đá chủ yếu là cát mịn đến thô chứa
sạn sỏi nhỏ, bề dày trung bình 50 - 70m, dày nhất ở phần trung tâm tới 100m và mỏng
dần ra phía rìa đông đến vát hẳn. Bên trên tầng chứa nước là lớp sét, bột sét chứa

nước thường có áp hoặc có áp yếu. Đây là những đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đến
việc lựa chọn các giải pháp xử lý nền.

Trích đoạn Đặt bàn đo lỳn sao cho mặt đỏy nằm ngang, cần đo thẳng đứng, lắp ống bảo vệ (vỏch chắn đất), rồi đo cao độ của mặt đất và đỉnh cần đo Sau đú, mỗ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status