CHƯƠNG I.
GIẢI TOÁN VÀ Ý NGHĨA CỦA
VIỆC THỰC HÀNH GIẢI TOÁN
Ở TIỂU HỌC
BÀI 1. QUAN NIỆN VỀ BÀI TOÁN VÀ GIẢI TOÁN
1. Bài toán.
Theo nghiã rộng, bài toán là bất cứ vấn đề
nào của khoa học hay cuộc sống cần được
giải quyết.
Theo nghĩa hẹp hơn, bài toán là vấn đề nào
đó của khoa học hay cuộc sống cần được
giải quyết bằng phương pháp của toán học.
Ở tiểu học, bài toán được hiểu theo nghĩa
hẹp này, thậm chí mhiều khi còn được hiểu
một cách đơn giản hơn nữa: bài toán là bài
tập trong sách giáo khoa.
2. Đề bài.
Nói đến bài toán, chúng ta nghĩ ngay đến đề
bài và lời giải của nó.
Đề bài của một bài toán có hai thành phần
chính:
Phần đã cho;
Phần cần tìm.
Phần đã cho, cúng như phần cần tìm có thể
là những con số, những số đo đại lượng
(con số + đơn vị đo), cũng có thể là quan hệ
(hay điều kiện) nào đó.
suy luận liên tiếp nhằm rút ra phần cần tìm
từ phần đã biết.
Quá trình giải được ghi lại thành lời giải, ở
cuối lời giải thường ghi đáp số của bài toán.
Ví dụ 3. Xét bài toán: Hồng có 3 bông hoa.
Lan có nhiều hơn Hồng 1 bông hoa. Hỏi ả
hai bạn có tất cả bao nhiêu bông hoa?
Ở mức yêu cầu cơ bản về trình bày, lời
giải của bài toán như sau:
Số bông hoa Lan có là:
3 + 1 = 4 (bông hoa)
Số bông hoa hai bạn có là:
3 + 4 = 7 (bông hoa)
Đáp số: 7 bông hoa.
Lời giải trên đây đã ghi lại hai suy luận của
quá trình giải:
Suy luận 1: Vì Hồng có 3 bông hoa và
Lan có nhiều hơn Hồng 1 bông hoa, nên
Lan có 3 + 1 = 4 bông hoa.
Suy luận 2: Vì Hồng có 3 bông hoa và
Lan có 4 bông hoc, nên cả hai bạn có 3 + 4
= 7 bông hoa.
Ta nhận thấy trong lời giải trên hai suy
luận không được ghi đầy đủ như ở các
bậc học trên mà được ghi dưới dạng
rút gọn. Đây là sự khác biệt đáng lưu ý
giữa trình bày lời giải ở bậc tiểu học
đầu về phép nhân số tự nhiên, SGK
xuất phát từ bài toán:
2. Lấy giải toán làm phương tiện
củng cố tri thức mới.
Ví dụ, để củng cố khái niệm phép nhân
số tự nhiên vừa hình thành, SGK yêu
cầu học sinh giải các bài toán:
BÀI 3.
PHÂN LOẠI CÁC BÀI TOÁN Ở
TIỂU HỌC
1. Bài toán có lời văn và bài toán áp dụng
quy tắc.
Ví dụ 1. Xét ba bài toán:
Bài toán 1. Tính 17 + 23.
Bài toán 2. Tính giá trị biểu thức:
(3,5 + 8) – 2 x 4,5
Bài toán 3. Hồng có 17 quả cam, Lan có 23
quả cam. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu quả
cam?
Để giải bài toán 1, không cần suy nghĩ
phải làm phép tính gì chỉ cần cộng 2 số,
ngjĩa là áp dụng quy tắc làm tính cộng hai
số. Để giải bài toán 2 cũng vậy, không cần
suy nghĩ phải làm các phép tính nào mà chỉ
cần áp dụng quy tắc về thứ tự thực hiện các
phép tính trong một biểu thức. Nhưng để
Bài toán 3. Hồng có 17 quả cam. Lan có 23
quả cam. Hỏi trung bình mỗi bạn có bao nhiêu quả
cam?
Dễ thấy bài toán 1 là bài toán đơn, bài toán 2
và bài toán 3 là bài toán hợp.
3. Bài toán điển hình và bài toán
không điển hình.
Các bài toán áp dụng quy tắc là những
bài toán có mẫu giải sẵn, chỉ cần nhớ mẫu
giải là giải được. Chương trình toán tiểu học
cũng nên thành mẫu cách giải một số dạng
bài toán có lời văn. Chúng ta gọi các bài
toán này là bài toán điển hình. Các bài toán
còn lại, mà cách giải không được nêu thành
mẫu trong chương trình được gọi là các bài
toán không điển hình.
CHƯƠNG II.
PHƯƠNG PHÁP GIẢI CÁC BÀI
TOÁN ĐIỂN HÌNH
BÀI 1.
CÁC BÀI TOÁN ÁP DỤNG
QUY TẮC
1. Thực hiện phép tính(cộng, trừ, nhân,
chia)
Thực hiện thành thạo 4 phép tính là yêu
cầu cơ bản của chương trình toán tiểu