PHÒNG GIÁO DỤC EAKA
TRƯỜNG THCS PHAN CHU TRINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN
VỀ ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ.
Người thực hiện:NGUYỄN VĂN THUẤN Eakar ngày 12 tháng 12 năm2009
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy ở học sinh bậc trung học cơ sở khả năng cảm
thụ tác phẩm (đặc biệt là tác phẩm thơ) và kỹ năng tạo lập văn bản có chiều hướng giảm
sút. Hơn nữa khi lên bậc trung học phổ thông học sinh sẽ sử dụng nhiều đến kiến thức về
nghò luận tác phẩm. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “ Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghò
luận về đoạn thơ, bài thơ”để nghiên cứu, tìm tòi cách dạy hữu hiệu và có tính khả thi với
mong muốn cải tiến phương pháp dạy học môn ngữ văn theo hướng tích cực .
2 . Phạm vi đề tài :
Lựa chọn đề tài “ Hướng dẫn học sinh làm bài nghò luận về đoạn thơ, bài thơ” là tôi
hướng đến việc rèn luyện năng lực cảm thụ tác phẩm và kỹ năng viết bài văn cho học
sinh. Nhưng trước hết phải giúp học sinh thấy được vẻ đẹp của tác phẩm thơ ca. Từ đó
hình thành sự yêu thích thơ ca. Sau đó mới rèn luyện năng lực cảm thu ïtác phẩm và viết
những hiểu biết của mình về tác phẩm thơ ca đó thành bài văn nghò luận. Tức là giúp học
sinh phát hiện những tín hiệu thẩm mỹ và biết cách phân tích để thấy được cái hay, cái
đẹp của tác phẩm thơ ca. Sau đó là tạo lập văn bản nghò luận dựa trên những hiểu biết
của mình về tác phẩm đó. Tóm lại, “ Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghò luận về đoạn
thơ, bài thơ” là bước đầu hình thành và rèn luyện năng lực văn chương ở học sinh trung
3. Đối tượng nghiên cứu :
Đề tài “ Cách làm bài văn nghò luận về đoạn thơ , bài thơ” được nghiên cứu, thực
hành ở lớp 9 Trường THCS Phan Chu Trinh. Trong quá trình thực hiện chúng tôi có kiểm
tra thường xuyên, kiểm tra đònh kỳ và có những điều chỉnh kòp thơiø. Đề tài được thực từ
ngày 01/12/2007 đến ngày 05/05/2008 hoàn thành bản thảo đề tài ngày 01/12/2009 .
4. Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài được thực bằng cách đem lý thuyến áp dụng vào thực tế, có điều chỉnh bổ sung
và từ thực tiễn rút ra phương pháp luận cuối cùng. Quá trình nghiên cứu, thực hành tôi sử
dụng các phương pháp dạy học sau :
- Thuyết trình giảng giải .
- Vấn đáp tìm tòi .
- Hợp tác trong từng nhóm nhỏ .
PHẦN THỨ HAI:CÁC GIẢI PHÁP
1.Nghò luận về đoạn thơ , bài thơ là gì ?
Nghò luận là bàn, đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó. Vậy nghò luận về đoạn thơ,
bài thơ là bàn, đánh giá những gì ?
Một bài thơ thường có dung lượng nhỏ nhưng chứa đựng nội dung lớn. Vì vậy mỗi
bài thơ thường có nhiều tầng ý nghóa. Để hiểu được các tầng nghóa của một bài thơ người
đọc phải hiểu được các từ ngữ trong bài thơ đó. Ngôn từ trong thơ ca thường mang nhiều
sắc thái ý nghóa nên có tác dụng chuyển tải nội dung rất phong phú. Một yếu tố khác cấu
thành nội dung bài thơ là hình ảnh trong thơ ( tức là hình tượng yhơ ). Hình tượng thơ có
thể mang ý nghóa cụ thể, có thể có ý nghóa khái quát hoặc cùng lúc vừa có ý nghóa khái
quát vừa có ý nghóa cụ thể. Nó giúp tác giả bộc lộ tư tưởng, tình cảm của mình. Bằng
hình tượng thơ, tác giả có thể biến vấn đề cá nhân thành vấn đề mang tính xã hội và có
giá trò lòch sử. Cùng với các yếu tố trên, yếu tố giọng điệu, nhòp điệu thơ cũng có vai trò
quan trọng. Nó thể hiện cảm xúc tâm trạng của tác giả và làm tăng tính nhạc cho bài thơ.
Ngoài ra còn có nhiều yếu tố quan trọng khác như thể thơ, cách gieo vần…
Như vậy nghò luâïn về đoạn thơ, bài thơ là đánh giá về giá về giá trò nội dung và nghệ
Đây là phân môn cung cấp dữ liệu văn chương cho học sinh làm bài. Vì vậy giáo
viên phải chú ý giảng dạy, gợi mởđể học sinh lónh hội được cái hay, cái đẹp, những thành
công, hạn chế của tác phẩm. Vì chương trình ngữ văn mới không sắp xếp trình bày các
tác phẩm theo thời kỳ văn học mà sắp xếp theo phương thức biểu đạt. Do đó, khi giảng
dạy giáo viên phải phát huy tính sáng tạo trong dạy học. Đó là từng bước cung cấp kiến
thức về quan niệm thẩm mỹ, tâm lý tiếp nhận của người đọc ở mỗi thời đại. Điều này
không dễ nhưng có thể từng bước thực hiện được. Nếu học sinh không hiểu những luật
tục cổ hủ và thân phận thấp hèn của người phụ nữ trong xã hội phong kiến thì khó đồng
cảm với những đau thương mất mát mà Thúy Kiều ( “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) và
của Vũ Thò Thiết (“ Chuyện Nười Con Gái Nam Xương” Nguyễn Dữ ) phải gánh chòu.
Học sinh không biết những chuẩn mực sống đẹp của người phụ nữ trong xã hội phông
kiến thì cũng khó rung động trước những bi kòch của những nhân vật phụ nữ kể trên.
Tương tự như vậy, để học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của chàng trai Lục Vân Tiên
(Truyện Lục Vân Tiên- Nguyễn Đình Chiểu ), giáo viên nhất thiết phải cung cấp quan
niệm sống đẹp của người trai đất Việt trong xã hội phong kiến. Khi học sinh hiểu quan
niệm thẩm mỹ của nhân ta trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ thì việc cảm thụ vẻ đẹp
của người lính trong bài thơ “ Đồøng chí” ( Chính Hữu ) và “ Bài thơ về tiểu đội xe không
kính” ( Phạm Tiến Duật ) sẽ thuận lợi hơn. Hoặc xu hướng ca ngợi thiên nhiên, đất nước,
đi vào cái bản ngã, đề cao giá trò nhân bản trong thơ ca sau 1975 mà học sinh không hiểu
được thì khó cảm nhận hết cái hay trong “ nh trăng” ( Nguyễn Duy ) , “ Sang thu” (Hữu
Thỉnh )…
Một tiết văn học giảng dạy một tác phẩm là giáo viên cung cấp một số cơ sở dữ liệu
để học sinh sử dụng vào bài tập làm văn. Cho nên phải đặt tác phẩm vào đúng bối cảnh
xã hội, quan niệm xã hội khi nó ra đời nhằm giúp học sinh hiểu đúng giá trò tác phẩm. Để
học sinh viết được bài văn nghò luâïn về đoạn thơ, bài thơ giáo viên phải mang đến cho
học sinh không chỉ nội dung tư tưởng của tác phẩm mà còn là cảm xúc tâm trạng của tác
giả được gởi gắm vào bài thơ đó .
2.1.3. Phân môn Tiếng Việt :
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm thơ ca, gáo viên phải huy động cùng lúc
“Cậy em em có chòu lời
Ngồi lên cho chò lạy rồi hãy thưa”
Ở đây Thuý Kiều là chò mà sao lại cậy? Cậy là chỉ có kẻ dưới, kẻ yếu nhờ kẻ trên. Sao
tác giả lại không dùng:
- Nhờ em em có chòu lời
- Trông em em có chòu lời
Từ “cậy” ở đây được tác giả dùng rất đắt. Nó nói lên tâm trạng tan nát, đau đớn
của Thúy Kiều mong cho Thúy Vân nhận lời kết nối với Kim Trọng, thay nàng chăm
sóc cho chàng. Thương mối tình trong trắng với Kim Trọng mà phải trao gửi lại, nàng
thấy mình có tội. Chính vì thế mà nàng mong Thúy Vân gánh vác trách nhiệm nặng
nề và khó khăn này nên phải “cậy”. Hay trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh
Hải có đoạn viết:
“Ơi con chim chiền chiện.
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng”
Cái hay của đoạn thơ này là gì? “Từng giọt long lanh rơi”. Xưa nay người ta đón
nhận âm thanh bằng thính giác, ở đây tác giả lại đón nhận âm thanh bằng xúc giác, thò
giác: “giọt” âm thanh. Đó chính là cái hay cái thú vò của oạn thơ, một sự chuyển đổi
cảm giác. Trong bài thơ “Quê hương” của Tế Hanh có câu: “Phăng mái chèo mạnh
mẽ vượt trường giang”. Tại sao tác giả không dùng:
Khua mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Đẩy mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Mà lại “phăng”, phăng là động từ mạnh thể hiện sức mạnh của con người, nhanh
nhẹn, rứt khoát qua đó cũng hứa hẹn một thành quả lao động rực rỡ ngoài khơ3i xa
mà nếu dùng “khua”, “đẩy” sẽ không làm thoát được ý này, nhòp thơ thiếu mạnh mẽ,
hào hùng.
Học sinh vâïn dụng kiến thức Tiếng Việt để hiểu tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Gáo
viên từng bước giáo dục học sinh vận dụng vào việc lựa chọn từ ngữ trong bài làm văn.
2.2. Năng lực cảm thụ tác phẩm :
Rèn luyện, bồi dưỡng năng lực cảm thụ tác phẩm ở học sinh là việc làm thường
xuyên, lâu dài vì nó rất quan trọng. Nếu học sinh không có năng lực cảm thụ tác phẩm thì
việc giảng dạy kiểu bài nghò luận tác phẩm ( đặt biệt là tác phẩm thơ ) sẽ thất bại vì học
sinh không xác đònh được mình sẽ nghò luận về vấn đề gì? Vấn đề dó ra sao? Nên nghò
luận như thế nào? Như vậy để giảng dạy có hiệu quả kiểu bài nghò luận về đoạn thơ, bài
thơ giáo viên phải liên tục rèn luyện năng lực cảm thụ tác phẩm cho học sinh. Theo tôi,
giáo viên phải nắm vững kiến thức đã nêu ở trên ( mục 2.1 ) để giúp học sinh cảm thụ
được tác phẩm .
Sau khi đọc bài thơ học sinh xác đònh được hoàn cảnh sáng tác vài thơ đó. Tức là
những gì tác động đến tác giả để tác giả viết nên bài thơ đó. Từ đó tìm hiểu được nội
dung phản ánh, ước mơ, khát vọng hay tâm trạng, cảm xúc của tác giả thông qua các tín
hiệu thẩm mỹ trong tác phẩm thơ ca đó. Đặt bài thơ trong hoàn cảnh lòch sử khi nó ra đời
để đònh hướng nghò luận về tư tưởng thẩm mỹ của tác phẩm. Xác đònh nguồn mạch cảm
xúc của tác giả rồi tự đặt mình vào đấy , trôi theocảm xúc đó để cảm và viết những cảm
nhận của mình thành bài văn nghò luận có cảm xúc tự nhiên, chân thành. Nói cách khác,
học sinh phải biết soi mình vào tác phẩm thơ ca để hiểu được tâm trạng, cảm xúc của tác
giả. Từ đó khám phá vẻ đẹp văn chương của tác phẩm thơ ca đó. Khi viết bài văn nghò
luận học sinh cần phải viết bằng cảm xúc, tâm trạng cùng chiều với tác giả thì bài văn
mới có cảm xúc tự nhiên được.
Rèn luyện năng lực cảm thụ tác phẩm cho học sinh giáo viên không thể không cung
cấp cho học sinh quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng xã hội, hoặc những quy luật tâm lý, những
đạo lý truyền thống….
Khi tìm hiểu tác phẩm thơ ca trung đại học sinh phải được cung cấp những tiêu chí
như : cảnh có đủ phong, hoa, tuyết, nguyệt là cảnh đẹp. Những hình ảnh, âm thanh gắn
với một trạng thái tâm lý nhất đònh. Những loài cây như mai, lan, cúc, trúc có ý nghóa như
thế nào? Tiêu chí vẻ đẹp trong cách sống ra sao ? Như vậy sẽ giúp học sinh hiểu được
những câu thơ tả cảnh ngụ tình, miêu tả tâm trạng nhân vật hay ca ngợi vẻ đẹp trong
cách sống của Thúy Kiều ( trong “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du ), của Lục Vân Tiên
2.3. Kỹ năng trình bày : ù
Rèn luyện kỹ năng trình bày bài văn cho học sinh là việc làm không thể thực hiện
ngày một ngày hai. Ngoài kiến thức cơ bản về đoạn thơ, bài thơ cần nghò luận còn có kỹ
năng lựa chọn từ ngữ, sắp xếp các luận điểm để bài văn có bố cục chặt chẽ, hợp lý, có
cảm xúc tự nhiên, trong sáng.
Khả năng dùng từ của học sinh là kết quả của quá trình rèn luyện trong tâùt cả các tiết
học, đặc biệt là các tiết học tiếng việt. Để bài văn có cảm xúc tự nhiên trong sáng học
sinh phải có hướng tiếp cận tác phẩm hợp lý nhất. Để bài văn của học sinh có bố cục hợp
lý giáo viên cần phải cung cấp cho học sinh một dàn ý rõ ràng, chính xác. Qua quá trình
tìm hiểu, giảng dạy tôi tâm đắc với dàn ý sau đây :
DÀN Ý BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ
• Mở bài :
_ Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác. (những yếu tố từ đời sống xã hội, cá nhân tác
đôïng đến tác giả đểtác giả viết nên tác phẩm dó).
_ Giới thiệu tác giả ( phong cách sáng tác, thể loại, đề tài thường viết ), tác phẩm
( xuất xứ, hoặc vò trí đoạn trích ). Nêu khái quát giá trò tác phẩm ( nội dung và nghệ
thuật).
Trích dẫn ( đoạn thơ, bài thơ dài quá 10 câu không cần trích dẫn).
• Thân bài :
_ Trình bày nôi dung chính của bài thơ.Nội dung đó bao gồm những luận điểm
nào ?
_ Mỗi luận điểm được thể hiện ở những câu thơ nào ? (phần này xác đònh ở giấy
nháp ). Sau đó phân tích từng luận điểm theo các bước sau :
+ Giới thiệu (có thể nêu vò trí câu thơ hoặc dẫn dắt vào luận điểm )
+ Trích dẫn câu thơ,
+ Bình giảng ( nội dung và nghệ thuật).
+Liên tưởng ( chọn dẫõn chứng minh họa cho luận điểm đang nghò luận).
+ Kết đoạn, thực hiện liên kết đoạn với đoạn tiếp theo .
*Đoạn thơ, bài thơ có bao nhiêu luâïn điểm thì thực hiêïn các bước trên bấy nhiêu lần.
lực thẩm thơ, bình thơ tốt. Thực hiện tích hợp giữa các phân môn, tạo điều kiện cho
học sinh lện tập bình giảng trong tiêùt đọc- hiểu văn bản . Điều này ngoài năng
lực chuyên môn, đòi hỏi kỹ năng sư phạm tốt vì thời gian tiết học có hạn.
Thực hiện “Hướng dẫn học sinh làm bài văn nghò luâïn về đoạn thơ, bài thơ” là
từng bước hình thành, rèn luyện năng lực văn chương ở học sinh . Giúp các em thấy
được vẻ đẹp của thơ, của đời. Từ đó yêu thích bộ môn Ngữ văn và có tình yêu thơ
ca. Tôi ghi lại lý thuyết và cách thực hiện của mình hy vọng góp phần vào việc cải
tiến phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn tốt hơn.
Eakar ngày 12 tháng 12 năm 2009