Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán FLC - Pdf 18


Mở Đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn 12 năm đi vào hoạt động đã
trải qua không ít khó khăn nhưng cũng gặt hái được nhiều thành quả đáng
khích lệ. Với đà phát triển mạnh mẽ được đánh giá là nhanh nhất thế giới
trong thời gian vừa qua quy mô của thị trường chứng khoán được nâng lên
một tầm cao mới, tốc độ phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn đã làm xuất
hiện hàng loạt các công ty chứng khoán. Theo thông tin từ Ủy ban chứng
khoán Nhà Nước cuối năm 2012 đã có gần 100 công ty chứng khoán chính
thức hoạt động. Sự xuất hiện của quá nhiều các công ty chứng khoán mới
khiến cho cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán trở lên gay gắt hơn bao
giờ hết. Hơn thế nữa, với sự hôi nhập xâu rộng vào kinh tế toàn cầu, sự xuất
hiện của các công ty chứng khoán nước ngoài, sự cạnh tranh ngày càng gay
gắt. Một cuộc đua thầm lặng nhưng khốc liệt giữa các công ty chứng khoán
trong và ngoài nước đã chính thức bắt đầu. Để tồn tại và phát triển không còn
cách nào khác là các công ty chứng khoán phải tự nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình Chính vì thế, làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của
các công ty chứng khoán trong tình hình hiện nay là vấn đề vô cùng cấp thiết.
Hơn thế nữa, sự hội nhập với kinh tế toàn cầu xảy ra như một xu thế tất
yếu, các công ty tài chính nước ngoài không giấu ý định tiềm kiếm cơ hội đầu
tư ở một thị trường giàu tiềm năng như Việt Nam. Sự cạnh tranh không chỉ
đến từ các công ty nhỏ bé trong nước mà còn từ ngoài biên giới. Để tồn tại và
phát triển không còn cách nào khác là các công ty chứng khoán phải tự nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình. Chính vì thế, làm thế nào để nâng cao năng
lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán trong tình hình hiện nay là vấn đề
vô cùng cấp thiết.

Được đào tạo về chuyên ngành Thị trường chứng khoán cộng với sự yêu
thích của bản thân về ngành này, em đã có cơ hội được thực tập tại CTCP
Chứng khoán FLC để có dịp được cọ xát với thực tế, áp dụng những kiến thức

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CỞ BẢN VỀ CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
1.1 Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán
1.1.1 Mô hình tổ chức của các công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian, có vị trí, vai
trò rất quan trọng trong thị trường chứng khoán. Lịch sử hình thành và phát
triển thị trường chứng khoán đã chứng minh: “Một thị trường chứng khoán
không thể thiếu loại chủ thể này, nó cần cho cả người phát hành, người đầu tư
chứng khoán. Nó là một trong những nhân tố quyết định đến phát triển, sự sôi
động của thị trường chứng khoán”. Những ảnh hưởng tác động của công ty
chứng khoán đối với các chủ thể tham gia thị trường và sự vận hành của thị
trường chứng khoán là rất lớn.
Hiện nay trên thế giới có 2 mô hình hoạt động của công ty chứng khoán
bao gồm: Mô hình công ty chuyên doanh và mô hình công ty đa năng
- Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các CTCK
độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân
hàng không đuợc tham gia vào kinh doanh chứng khoán.
Với ưu điểm hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho
TTCK phát triển, mô hình này đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp
dụng, trong đó có các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Canada…
- Mô hình công ty đa năng
Ngày nay với sự phát triển của TTCK để tận dụng thế mạnh của lĩnh
vực tiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướng nới lỏng ngăn

cách giữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành
mô hình công ty đa năng một phần – các Ngân Hàng Thương Mại thành lập
công ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán

khác hẳn với các doanh nghiệp thông thường. Vì vậy, các quốc gia đều sử
dụng pháp luật để điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động của Công ty chứng
khoán. Thậm chí có những nước ban hành đạo luật riêng để quy định việc tổ
chức và hoạt động của công ty chứng khoán như Mỹ, Nhật, Thái lan…, còn
một số nước các quy định về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán
là một phần trong đạo luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán như:
Malaixia, Trung Quốc.
Ở Việt Nam vấn đề tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán
trước đây được quy định trong Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/07/1998
về chứng khoán và thị trường chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi
hành. Sau này vấn đề tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán được
quy định tại Nghị định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/11/2003 và
được cụ thể hoá trong Quyết định số 55/2004/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài
chính ngày 17/6/2004 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của
công ty chứng khoán.
Hiện nay, tại Luật chứng khoán Việt Nam không có định nghĩa về công
ty chứng khoán. Tuy nhiên, qua các quy định cụ thể trong Luật chứng khoán
có thể khái quát định nghĩa về công ty chứng khoán như sau:
Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH được thành
lập, hoạt động theo Luật chứng khoán và các các quy định của pháp luật có
liên quan để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng
khoán dưới đây theo giấy phép do UBCKNN cấp: Môi giới chứng khoán, tự
doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng
khoán.
Từ định nghĩa trên, có thể khái quát các đặc điểm pháp lý của các công ty
chứng khoán nói chung như sau:

Một là, công ty chứng khoán là loại hình doanh nghiệp được thành lập dựa
trên cơ sở Luật chứng khoán và các quy định pháp luật có liên quan
Hai là, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức pháp lý công ty

cực bề ngoài"; cấm đưa ra lời đồn đại, xúi dục hoặc lừa đảo trong giao dịch
chứng khoán; cấm giao dịch nội gián sử dụng thông tin nội bộ mua bán chứng
khoán cho chính mình làm thiệt hại tới khách hàng.
1.1.3.2 Nguyên tắc tài chính
- Vốn.
Vốn của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ. Nhìn
chung, số vốn cần có để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằng
việc cân đối giữa vốn pháp định và nhu cầu vốn kinh doanh của công ty.
- Cơ cấu vốn: Nợ và Có.
Cơ cấu vốn là tỉ lệ các khoản nợ và vốn cổ đông hoặc vốn góp của các
thành viên mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình.
Việc huy động vốn được tiến hành thông qua việc góp vốn của các cổ đông,
thông qua hệ thống ngân hàng, thị trường vốn.
Việc huy động vốn và cơ cấu vốn của công ty chứng khoán có các đặc
điểm chung:
Các công ty phụ thuộc khá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn.
Các chứng khoán đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường chiếm phần
lớn tổng giá trị tài sản của công ty chứng khoán (40% - 60%).
Ở các nước đang phát triển, thông thường các công ty chứng khoán
không được vay vốn của nước ngoài trong khi ở những nước phát triển điều
này được phép thực hiện.

Tỉ lệ nợ tuỳ thuộc vào công ty chứng khoán nhưng phải tuân theo qui
định của các cấp quản lí.
- Quản lí vốn và hạn mức kinh doanh.
* Quản lí vốn khả dụng: các công ty chứng khoán thường phải duy trì một
mức vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán.
* Quản lí quĩ bù đắp rủi ro: Các công ty chứng khoán thực hiện hoạt động tự
doanh thường phải duy trì một tỉ lệ dự trữ trên mức lợi nhuận ròng, còn các
công ty môi giới duy trì tỉ lệ dự trữ tính trên tổng doanh thu với mục đích bù

CTCK đã góp phần làm cho kênh huy động vốn trung và dài hạn trở nên
thông suốt, dễ dàng hơn, san sẻ bớt gánh nặng cho hệ thống ngân hàng thương
mại.
Xem xét tất cả các khía cạnh của CTCK, từ đặc điểm đến chức năng cho
ta thấy được vai trò quan trọng không thể thiếu được của CTCK đối với sự
tồn tại và phát triển của TTCK
- Vai trò làm cầu nối cung cầu chứng khoán
CTCK là một định chế tài chính trung gian than gia hầu hết vào quá trình
luân chuyển của chứng khoán: từ khâu phát hành trên thị trường sơ cấp đến
khâu giao dịch trên thị trường thứ cấp
 Trên thị trường sơ cấp
CTCK là cầu nối giữa nhà phát hành và nhà đầu tư, giúp các tổ chức
phát hành huy động vốn nhanh chóng thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
CTCK với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ máy
tổ chức thích hợp, họ thực hiện tốt vai trò trung gian môi giới mua bán, phát
hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số nghiệp vụ khác cho cả
nhà đầu tư và nhà phát hành. Với nghiệp vụ này, CTCK thực hiện vai trò làm
cầu nối và kênh dẫn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu
 Trên thị trường thứ cấp

CTCK là cầu nối giữa các nhà đầu tư, là trung gian chuyển các khoản
đầu tư thành tiền và ngược lại
- Vai trò hình thành giá chứng khoán
Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành
chứng khoán cho các tổ chức phát hành. công ty chứng khoán thực hiện vai
trò hình thành giá cả chứng khoán thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ
chức phát hành mức giá hợp lý đối với các chứng khoán trong đợt phát hành.
- Vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán
Các nhà đâu tư luôn muốn dễ dàng chuyển tiền mặt sang chứng khoán
và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định

Nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng cũng như đảm bảo tính ổn định
hiệu quả cho TTCK, pháp luật có những yêu cầu rất cao đối với nhà môi giới.
Người môi giới, trước hết phải được tín nhiệm, phải có lòng tin của khách
hàng. Tiếp đó họ phải có năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp, có khả năng
phân tích tài chính doanh nghiệp. Và các nhà môi giới hoạt động trên thị
trường chính thức hay thị trường Upcom đều phải đăng ký và được cấp giấy
phép hành nghề
Quy trình mô giới gồm các bước cơ bản sau
- Bước 1: Khai thác tìm kiếm khách hàng:
Nhân viên môi giới tiếp cận và giải thích cho khách hàng hiểu về việc
đầu tư chứng khoán có những lợi và bất lợi gì. Trong quá trình tiếp cận khách
hàng cũng giải thích cho khách hàng biết cách thức tham gia thị trường như
thế nào, những thủ tục và những quy định của chính phủ, Bộ Tài Chính, và
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước về việc tham gia đầu tư và kinh doanh chứng
khoán của các nhà đầu tư.
- Bước 2: Mở tài khoản cho khách hàng.

Sau khi khách hàng chấp nhận đầu tư chứng khoán, nhân viên môi giới
hướng dẫn khách hàng làm các thủ tục mở tài khoản giao dịch chứng khoán,
làm hợp đồng mở tài khoản giữa khách hàng và công ty chứng khoán. Khi mở
tài khoản giao dịch chứng khoán, công ty sẽ cấp cho khách hàng mã số giao
dịch và số hiệu tài khoản.
- Bước 3: Nhận lệnh của khách hàng.
Nhân viên môi giới kiểm tra các số dư trên tài khoản của khách hàng và
hướng dẫn khách hàng cách thức đặt lệnh. Khách hàng đặt lệnh mua hoặc bán
chứng khoán bằng cách ghi trên tờ phiếu lệnh mua hoặc lệnh bán (in theo mẫu
của trung tâm giao dịch chứng khoán) của công ty.
- Bước 4: Gửi lệnh của khách hàng vào trung tâm giao dịch chứng
khoán.
Nhân viên đại diện của công ty sẽ nhập lệnh của khách hàng vào hệ

bắt và xử lý thông tin, trình độ phân tích tài chính, chính trị-xã hội và khả
năng phân tích tâm lý, khả năng điều hành của ban lãnh đạo công ty để xây
dựng chiến lược đầu tư của mình. Chiến lược kinh doanh của công ty chứng
khoán có thể là chiến lược đầu tư chủ động, thụ động hoặc kết hợp…
- Bước 2: Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư.
Theo mục tiêu chiến lược đã lựa chọn, công ty sẽ chủ động tìm kiếm
mặt hàng, nguồn hàng, khách hàng, cơ hội đầu tư… Việc tìm kiếm cơ hội đầu
tư áp dụng với cả chứng khoán niêm yết và chưa niêm yết, trên cả thị trường
sơ cấp và thứ cấp.
- Bước 3: Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư.
Dựa trên các nguồn thông tin (báo cáo tài chính, các thông tin liên quan
trực tiếp đến doanh nghiệp như tình hình kinh tế nghành, các chỉ tiêu phát
triển kinh tế chung…) và trên cơ sở chiến lược đã lựa chọn, công ty sẽ thẩm
định, phân tích các khoản đầu tư bằng các phương pháp phân tích cơ bản và
phân tích kỹ thuật để tìm ra các kết luận phù hợp về cơ hội đầu tư, mặt hàng,
giá cả, địa điểm…

- Bước 4: Thực hiện đầu tư.
Nếu thực hiện mua chứng khoán trên thị trường sơ cấp, bộ phận tự
doanh phải tuõn thủ đúng quy trình đấu thầu, hoặc bảo lãnh phát hành, hoặc
thoả thuận với tổ chức phát hành trong các công đoạn chuẩn bị phát hành
chứng khoán.
Nếu thực hiện trên thị trường thứ cấp, bộ phận tự doanh phải đặt lệnh
giao dịch theo phương thức khớp lệnh hoặc giao dịch thoả thuận (trên sở giao
dịch chứng khoán) hoặc khớp giá ( trên OTC). Sau đó, nhân viên tự doanh
phối hợp với bộ phận kế toán để xác nhận kết quả giao dịch, hoàn tất các thủ
tục thanh toán chứng khoán và tiền.
- Bước 5: Quản lý đầu tư và thu hồi vốn.
Sau khi thực hiện kinh doanh chứng khoán, bộ phận tự doanh sẽ có trách
nhiệm theo dừi, đánh giá tình hình và thực hiện những hoạt động nghiệp vụ

bán. Tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải xác lập lượng sàn là
lượng chứng khoán họ có cam kết chắc chắn đồng thời phải cố gắng tối đa để
bán đến lượng trần
1.1.5.4 Tư vấn đầu tư
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân
tích , công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán
Tính đa dạng và phong phú của hoạt động tư vấn được thể hiện qua một
số tiêu chí phân loại sau:
* Theo hình thức hoạt động tư vấn
- Tư vấn trực tiếp: khách hàng gặp gỡ trực tiếp với nhà tư vấn hoặc sử dụng
các phương tiện liên lạc như: điện thoại, fax
- Tư vấn gián tiếp: nhà tư vấn tư vấn cho khách hàng thông qua các ấn phẩm,
sách báo hoặc đưa thông tin lên các phương tiện truyền thông như Internet
* Theo đối tượng tư vấn
- Tư vấn cho người phát hành: hoạt động này rất đa dạng, từ việc tư vấn cho
tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức phát hành; xây dựng hồ sơ,

bản cáo bạch vừa giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn tổ chức bảo
lãnh, phân phối chứng khoán đến việc phân tích tình hình tài chính, xác định
giá trị doanh nghiệp, giúp tổ chức phát hành cơ cấu lại nguồn vốn, chia tách,
thâu tóm, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp, niêm yết chứng khoán.
- Tư vấn đầu tư: là hoạt động nhà đầu tư tư vấn cho khách hàng về thời gian
mua bán, nắm, giữ, loại chứng khoán, giá trị của chứng khoán, cung cấp các
thông tin
1.1.5.5 Các nghiệp vụ khác
- Lưu ký chứng khoán
Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán cho khách hàng thông qua các tài
khoản lưu ký chứng khoán. Khi thực hiện dịch vụ lưu ký, CTCK sẽ nhận
được các khoản phí lưu ký chứng khoán, phí gửi và phí chuyển nhượng chứng
khoán

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm
năng lực cạnh tranh .Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy
trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng
mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất
nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.
Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán là khả năng công ty chứng
khoán tạo ra được lợi thế cạnh tranh so với các công ty chứng khoán khác.
Nghĩa là công ty chứng khoán có khả năng tạo ra sản phẩm dịch vụ có chất
lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh,chiếm thị phần lớn hơn, tạo ra thu nhập cao
hơn và phát triển bền vững hơn
Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán do nhiều yếu tố cấu thành
nên việc định giá nó rất phức tạp. Tuy nhiên có thể đánh giá theo hai nhóm
chỉ tiêu định tính và định lượng.
1.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ông ty chứng
khoán
1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính

 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ của CTCK là sự thỏa mãn nhu cầu và mong muốn
của khách hàng trên một nền tảng ổn định trong một nỗ lực để thu hút được
khách hàng mới và duy trì được những khách hàng cũ của công ty
Chất lượng dịch vụ được phản ánh thông qua mức độ thỏa mãn của
khách hàng khi sử dụng dịch vụ của công ty. Có 5 mức độ đo lường chất
lượng dịch vụ như sau:
- Mức độ tính nhiệm: Thể hiện hoàn thành đấy đủ nghĩa vụ cam kết
với khách hàng khi họ mở tài khoản và giao dịch tại hệ thống của công ty
- Mức độ bảo đảm: Thể hiện kiến thức, tinh thần trách nhiệm và
năng lực giải quyết vấn đề của nhân viên.Giải quyết các vấn đề một cách
nhanh nhất mà gây thiệt hại ít nhất cho khách hàng của mình
- Mức độ thực hiện: Thể hiện các phương tiện vật chất hỗ trợ.Hệ

 Năng lực quản lý
Khủng hoảng kinh tế diễn ra đã phơi bày nhiều hạn chế trong công tác
quản lý ở các doanh nghiệp tài chính. Nhiều CTCK hoạt động không hiệu quả
đi đến thua lỗ phá sản là do trình độ quản lý yếu kém.Chính vì thế, một
CTCK muốn tồn tại và phát triển lâu dài phải có một bộ máy quản lý kinh
doanh đủ mạnh giúp cho nó có khả năng sử dụng một cách tốt nhất các nguồn
lực trong quá trình kinh doanh .Như vậy vai trò của nhà quản trị cấp cao là rất
quan trọng đối với các CTCK, nhà quản trị cấp cao phải biết tổ chức phối hợp
để các bộ phận trong công ty hoạt động một cách nhịp nhàng hiệu quả, phải
biết biến sức mạnh của cá nhân thành sức mạnh chung của cả tập thể như vậy
sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động , nâng cao khả năng cạnh tranh của CTCK
 Thương hiệu công ty
Thương hiệu có vai trò cực kỳ to lớn đối với các CTCK. Thương hiệu là
hình ảnh uy tín của công ty . Nếu thương hiệu trở nên nổi tiếng thì nó là

phương tiện rất hữu hiệu để cạnh tranh. Bên cạnh đó giá trị của công ty cao
hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào sự nổi tiếng của thương hiệu
Về mặt nhận diện, thương hiệu là cái tên hay dấu hiệu giúp nhận biết một
sản phẩm. Một thương hiệu thành công đánh dấu một sản phẩm là có lợi thế
cạnh tranh bền vững. Bảo Việt, Agirbank hay BIDV là một ví dụ về thương
hiệu. Một khi mà các sản phẩm đã đạt đến mức độ hầu như không thể phân
biệt được bằng tính chất, đặc điểm và lợi ích công dụng thì thương hiệu là yếu
tố duy nhất tạo ra sự khác biệt giữa các sản phẩm. Thương hiệu nói lên sự tin
tưởng và sự an toàn.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng
o Thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần
Thị phần = Doanh số dịch vụ cung cấp của công ty / Tổng giá trị dịch vụ
toàn ngành
Một công ty có thị phần lớn sẽ phản ánh vị thế của công ty đó trên thị
trường.

Chỉ khi có khả năng thanh toán tốt thì CTCK mơi có khả năng nâng cao uy tín
của mình, tạo được lòng tin ở khách hàng cũng như đối tác của mình trong
giao dịch kinh doanh. Từ đó có thể thấy chứng mình được năng lực tài chính
của công ty lúc nào cũng được đảm bảo, công ty luôn có đủ khả năng để cạnh
tranh trên thị trường và thanh toán cho khách hàng đầy đủ, kịp thời. Nhóm chỉ
tiêu này gồm
 Khả năng thanh toán hiện hành = tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành nói lên khả năng thanh toán ngắn
hạn của doanh nghiệp. Nếu tỉ số này lớn thì khả năng thanh toán nợ cao và
ngược lại
Vì nợ ngắn hạn được thanh toán bới tài sản lưu động mà tài sản lưu động lại
gồm những khoản khó chuyển ra tiền như hàng tồn kho nên chỉ tiêu khả năng
thanh toán hiện hành chưa phản ánh hết được khả năng thanh toán của doanh

nghiệp. Vì vậy, một cách chính xác hơn, chúng ta dùng chỉ tiêu khả năng
thanh toán nhanh.
 Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động – Hàng tồn kho)/Nợ
ngắn hạn
oNhóm chỉ tiêu khả năng an toàn tài chính
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh sự tự chủ và ổn định tài chính của công ty
chứng khoán. Thông qua chỉ tiêu nay chúng ta biêt được tình hình cơ cấu
nguồn vốn của công ty như thế nào từ đó xem xét chính sách vay nợ của công
ty. Nếu công ty có cơ cấu và sử dụng hợp lý các nguồn vay nợ sẽ tạo ra cho
công ty những lợi thế cạnh tranh cho công ty: khi công ty muốn vay thêm nợ
các chủ nợ nhìn vào cơ cấu nguồn vốn của công ty họ sẽ thể hiện mức độ tin
tưởng vào sự đảm bảo thanh toán nợ của công ty. Tất cả những điều đó nói
lên sự chuyên nghiệp và nhanh nhay của công ty trong việc đưa ra các chính
sách tài chính. Ở đây chính là khả năng sử dụng đòn bẩy tài chính để tạo ra
khả năng cạnh tranh của công ty chứng khoán so với các công ty chứng khoán
khác.

quản lý trong công ty. Nếu quản trị tốt công ty có thể đưa ra những chính sách
tốt, những chiến lược hợp lý và cũng có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của
các bộ phận trong công ty. Công ty có thể giảm thiểu rủi ro trong hoạt dộng
nếu có sự quản lý tốt
1.2.3.1.4 Đội ngũ nhân viên
Như đã nói ở trên, đội ngũ con người chính là chìa khóa để công ty
chứng khoán này cạnh tranh với công ty khác. Trên thị trường tài chính,mức
độ rủi ro là cao nhất trong các ngành, do vậy công ty nào có được đội ngũ có
chất xám cao, tinh thần trách nhiệm, tuân thủ nguyên tắc làm việc, phân tích
hợp lý các nguốn thông tin thì công ty đó có lợi thế cạnh tranh hơn so với
phần còn lại
1.2.3.1.5 Mạng lưới hoạt động

Một trong những biện pháp mà các công ty chứng khoán quan tâm đầu
tiên là mở rộng mạng lưới và quy mô hoạt động. Việc mở rộng mạng lưới là
hướng đi tốt nhất hiện nay để mở rộng thị phần. Khi mạng lướii khách hàng
mở rộng thân thiện với nhà đầu tư sẽ giúp cho thị trường chứng khoán càng
đáp ứng tốt nhu cầu đại chúng, tạo nãng lực cho công ty chứng khoán mở
rộng quy mô hoạt động tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường
1.2.3.1.6 Xây dựng các giá trị côt lõi cho công ty
Đây là xu hướng mới được các doanh nghiệp khác áp dụng trong những
năm gần đây.
Là những nguyên lí thiết yếu và mang tính lâu dài của một tổ chức – tập
hợp các quy tắc hướng dẫn rất nhỏ có ảnh hưởng sâu sắc tới cách mà mọi
người trong tổ chức suy nghĩ và hành động.
Giá trị cốt lõi không quan tâm đến dư luận, nó có giá trị thực chất và có
tầm quan trọng rất lớn đối với những người ở bên trong tổ chức. Giá trị cốt lõi
là một số rất hiếm những quy tắc hướng dẫn có khả năng ảnh hưởng vô cùng
lớn, là linh hồn của tổ chức; đó là những giá trị làm nhiệm vụ hướng dẫn tất
cả các hành động.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status