Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không
sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc chuyên đề của người khác, nếu sai phạm,
tôi xin chịu kỷ luật với nhà trường.
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2009
Nguyễn Đức Thành
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN..................................................................................................1
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2009........................................................................1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VNDirect Công ty cổ phần chứng khoán VNDirect
UBCKNN Uỷ ban chứng khoán nhà nước
HOSE Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
HASTC Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
NLCT Năng lực cạnh tranh
TTCK Thị trường chứng khoán
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
OTC Over the counter
BHYT Bảo hiểm y tế
BHXH Bảo hiểm xã hội
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
STT
Tên bảng, biểu, sơ đồ
Trang

thì đến đầu năm 2009, đã có hơn 90 công ty chứng khoán hoạt động, trong đó 10
công ty chứng khoán hàng đầu đã chiếm 57% thị phần hoạt động. Điều đó cho thấy
sự cạnh tranh rất lớn giữa các công ty chứng khoán nhằm gia tăng thị phần, đặc biệt
là những công ty chứng khoán trẻ như VNDirect.
“Cạnh tranh” đang dần trở thành một khái niệm không xa lạ đối với các doanh
nghiệp trong nền kinh tế nói chung cũng như các công ty chứng khoán nói riêng. Với
các công ty chứng khoán, hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh là điều tất
yếu, nó không những giúp nâng cao vị thế của công ty trên thị trường mà còn có tác
dụng thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trong quá trình thực tập của mình, tôi đã có cơ hội được tiếp xúc và bổ sung
những kiến thức thực tế tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect. Ở VNDirect em
có thể nhận thấy được tinh thần làm việc hăng say, năng động và đầy nhiệt huyết của
một công ty chứng khoán trẻ, hiện đại và luôn mong muốn vươn cao hơn nữa. Chính
vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ
phần chứng khoán VNDirect” qua đó nêu lên thực trạng và các giải pháp đầu tư
nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2
Chuyên đề gồm có các nội dung sau:
Chương I. Một số vấn đề lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của
công ty chứng khoán
Chương II. Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ
phần chứng khoán VNDirect trong thời gian qua
Chương III. Một số giải pháp tăng cường đầu tư nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect trong thời gian tới.
Do thời gian và điều kiện còn hạn chế nên chuyên đề không tránh khỏi thiếu
sót, tôi rất mong nhận được sự đánh giá, chỉ bảo và đóng góp để chuyên đề được
hoàn thiện hơn.
Trong thời gian thực tập tại đây, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
các anh chị trong Công ty, cùng với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của TS Trần

thế giới tiếp tục đi vào hoạt động ổn định, phát triển và trở thành một định chế không
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4
thể thiếu trong đời sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo
định hướng thị trường.
Thị trường chứng khoán chính là sự trao đổi, là sự thoả thuận và giao dịch
giữa người muốn mua chứng khoán và người nắm giữ chứng khoán. Với những yếu
tố như vậy, thị trường chứng khoán có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hạn chế gia nhập và có nội quy hoạt động. Hàng ngày có rất nhiều
các nhà đầu tư có nhu cầu mua bán chứng khoán, chính vì vậy một đặc điểm rất khác
biệt của thị trường chứng khoán đó là không thể biết được các giao dịch của mình.
Tuy nhiên, các nhà đầu tư đều muốn biết được đối tượng giao dịch của mình là ai và
giao dịch được thực hiện như thế nào bởi như vậy họ mới có thể yên tâm về khoản
đầu tư của mình. Chính vì vậy, các thị trường chứng khoán đều quy định chỉ có
những người được phép mới được giao dịch trên sàn, tất cả những nhà đầu tư chỉ có
thể giao dịch thông qua những người này đó là những nhà môi giới. Để trở thành
người môi giới, phải hội đủ một số điều kiện về vốn, chuyên môn và đạo đức, các hội
viên phải tuân thủ nội quy hành nghề, những ai vi phạm sẽ bị xử phạt hay bị tước
giấy phép hành nghề. Nhờ những biện pháp trên, nên khi người đầu tư ra lệnh mua
bán, họ mới dám tin tưởng người mình giao dịch và điều này làm cho chi phí giao
dịch giảm.
Thứ hai, tiêu chuẩn hoá. Việc giao dịch ở trên thị trường phải được tiêu chuẩn
hoá và đơn giản hoá, việc tiêu chuẩn hoá các giao dịch này được thực hiện theo từng
quy định riêng của mỗi thị trường, các quy định như về lô giao dịch, về thời gian giao
dịch và về phương thức và thời gian thanh toán các chứng khoán. Sự tiêu chuẩn hoá
sẽ giúp việc mua bán được đơn giản hơn, người mua và bán chỉ cần đồng ý với nhau
về giá hàng và số lượng, tất cả các vấn đề khác của việc mua bán thì đã được thực
hiện theo một quy định chung của mỗi sở giao dịch.
Thứ ba, việc giải quyết tranh chấp. Dù có những quy định riêng như vậy
nhưng tranh chấp cũng vẫn xảy ra, giải quyết chuyện đó sẽ mất nhiều thời gian và chi

Tổ chức kinh doanh
Nhà phát hành
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6
- Các công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và các trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ thụ hưởng,….phục vụ cho hoạt động của họ.
1.1.2.2. Nhà đầu tư:
Nhà đầu tư là những người mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng
khoán. Nhà đầu tư bao gồm có nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức:
- Các nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân tự mình tham gia mua và bán chứng
khoán trên thị trường, tự quyết định về danh mục đầu tư của mình và tự chịu trách
nhiệm trong quyết định của mình.
- Nhà đầu tư có tổ chức là các quỹ đầu tư, là các hội đồng đầu tư, ban đầu tư
của các công ty, các doanh nghiệp tham gia mua và bán chứng khoán trên thị trường.
Khác với các nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư có tổ chức đầu tư theo quy trình, dưới sự
giám sát của hội đồng đầu tư.
1.1.2.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán:
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán bao gồm có các tổ chức
sau:
- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính
1.1.2.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán:
Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán bao gồm có các tổ chức
sau:
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Sở giao dịch và trung tâm giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán

mua bán trực tiếp chứng khoán với nhau mà phải thông qua các trung gian mua bán,
các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả nhà đầu tư và nhà phát
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8
hành và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động
vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán, và hưởng phí môi giới.
Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư,
quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí, thời gian
giao dịch, do vậy nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá thông
thường, việc mua bán trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán,
nhưng đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả các
loại chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém
chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư, nhưng
thông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao, uy tín nghề nghiệp
sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư có hiệu quả.
Đối với thị trường chứng khoán: Công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò
chính: Thứ nhất, công ty chứng khoán góp phần tạo lập thị trường. Giá cả chứng
khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên để đưa ra mức giá cuối cùng thì các nhà
đầu tư phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được trực tiếp tham gia
vào quá trình giao dịch. Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trường,
vì vậy họ góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ
cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành sẽ là người định giá đầu
tiên cho các chứng khoán mới phát hành. Chính vì vậy, giá cả mỗi loại chứng khoán
giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán. Thứ hai, công ty
chứng khoán góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Thị
trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản cho các tài
sản tài chính, nhưng các công ty chứng khoán mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì
công ty chứng khoán tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường sơ cấp,
do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh và phát hành, chứng khoán hoá, các công ty
chứng khoán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh

quả mua bán của mình. Công ty chứng khoán là người trung gian, kết nối giao dịch
giữa người mua và người bán chứng khoán, họ cung cấp các sản phẩm dịch vụ tiện
ích đến với các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư thực hiện giao dịch chứng khoán với
chi phí hợp lý nhất. Với tính chất đặc biệt của thị trường chứng khoán nên các công
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10
ty chứng khoán phải là những người chia sẻ động viên với các nhà đầu tư của mình,
giúp họ có những quyết định đầu tư tốt nhất. Mặc dù các công ty chứng khoán được
hưởng phí giao dịch từ chính các khách hàng của mình nhưng không phải vì thế mà
họ lừa gạt các nhà đầu tư để hưởng phí mà họ phải tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề
nghiệp nhất định.
1.2.3.2. Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng
khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh chứng khoán là việc các công ty chứng
khoán dùng chính nguồn vốn của mình để tham gia mua bán chứng khoán trên thị
trường nhằm mục tiêu tích luỹ lợi nhuận. Các công ty chứng khoán cũng đóng vai trò
là như các khách hàng, nắm giữ chứng khoán và mua bán chứng khoán nhằm mục
tiêu hưởng chênh lệch giá. Chính vì vậy dẫn tới một vấn đề đó là mâu thuẫn về quyền
lợi giữa các nhà đầu tư và công ty chứng khoán, công ty chứng khoán đặt lệnh cho
mình để thực hiện việc tự doanh chứng khoán, nhưng nghiệp vụ môi giới yêu cầu
công ty chứng khoán phải ưu tiên đặt lệnh cho khách hàng trước. Do đó các công ty
chứng khoán phải tuân thủ các quy định của sở giao dịch chứng khoán của nước đó,
đó là phải tách bạch hai nghiệp vụ là tự doanh chứng khoán và môi giới chứng khoán,
đồng thời ưu tiên lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty.
Hoạt động tự doanh chứng khoán là hoạt động đem lại lợi nhuận cao nhất cho
các công ty chứng khoán nhưng nó cũng chính là hoạt động có mức rủi ro lớn nhất,
chính vì vậy các cơ quản quản lý chứng khoán thường yêu cầu mức vốn điều lệ cao
để thực hiện nghiệp vụ này. Ở Việt Nam các công ty chứng khoán muốn thực hiện
nghiệp vụ tự doanh chứng khoán phải có mức vốn điều lệ tối thiểu là 100 tỷ đồng.
Hoạt động tự doanh không chỉ đem lại lợi nhuận cho các công ty chứng

chia thành nhiều hình thức bảo lãnh phát hành khác nhau: Bảo lãnh với cam kết chắc
chắn, bảo lãnh với cố gắng tối đa, bảo lãnh bán tất cả hoặc không, bảo lãnh tối thiểu
hay tối đa.
1.3. Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
1.3.1. Năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán và sự khác biệt so với năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12
Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thì đều
cần có cạnh tranh, chính vì vậy hiểu thế nào là năng lực cạnh tranh và đầu tư thế nào
để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là yếu tố hết sức cần thiết. Đối với
các công ty chứng khoán, năng lực cạnh tranh(NLCT) được hiểu là khả năng duy trì
và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng,tạo ra sản phẩm dịch vụ
có chất lượng cao hơn, nâng cao thị phần, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố
kinh doanh nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững. Đối với các công ty chứng
khoán, sản phẩm là các dịch vụ môi giới, tư vấn, bảo lãnh phát hành,.......các sản
phẩm của công ty chứng khoán là các dịch vụ, nó khác với các sản phẩm vật chất của
các doanh nghiệp sản xuất. NLCT của doanh nghiệp cũng giống như NLCT của các
công ty chứng khoán, nó thể hiện thực lực và lợi thế của công ty so với đối thủ cạnh
tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng nhằm thu về lợi ích
cao nhất.
NLCT của công ty chứng khoán cũng giống như các loại hình doanh nghiệp
khác, nó được tạo ra từ các yếu tố nội hàm của doanh nghiệp như công nghệ, tài
chính, nhân lực, quản trị doanh nghiệp,…….Tuy nhiên, điểm mạnh hay điểm yếu của
các yếu tố này nếu không được so sánh với các đối thủ cạnh tranh thì nó sẽ không
phản ánh được năng lực cạnh tranh của công ty. Công ty muốn nâng cao năng lực
cạnh tranh thì phải tạo lập được các lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh, qua đó
thu hút khách hàng về với mình.
NLCT của công ty chứng khoán nói chung cũng có những điểm tương đồng
giống với NLCT của các loại hình doanh nghiệp khác, đặc biệt là các doanh nghiệp

trội nhưng nguồn nhân lực không dồi dào và không có chất lượng thì khả năng sử
dụng hiệu quả các yếu tố khác sẽ thấp, chính vì vậy nguồn nhân lực là yếu tố cần và
đủ tạo nên năng lực cạnh tranh tổng thể của doanh nghiệp. Khi nói đến nguồn nhân
lực của công ty chứng khoán ta sẽ xét đến số lượng nhân lực và chất lượng nguồn
nhân lực, công ty chứng khoán có bao nhiêu người có trình độ cử nhân trở lên, bao
nhiêu người đã có các chứng chỉ hành nghề, đã có các chứng chỉ nghiệp vụ,……
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14
Một công ty chứng khoán có nhân lực đông đảo và có chất lượng, từ đội ngũ
lãnh đạo đến đội ngũ nhân viên sẽ giúp cho công ty có lợi thế so với các công ty
chứng khoán khác, đặc biệt là trong thời điểm mà yếu tố công nghệ và trình độ cao
được đặt lên hàng đầu. Hơn nữa đội ngũ nhân viên có kiến thức sẽ giúp cho các
mảng hoạt động như tự doanh và tư vấn phát triển, qua đó tạo ra nguồn thu nhập
đáng kể cho công ty.
1.3.2.3. Các chỉ tiêu định tính:
Các chỉ tiêu định tính là các chỉ tiêu mang tính chung chung, không thể đánh
giá bằng một con số cụ thể, song thông qua đánh giá của các khách hàng, các chuyên
gia và các tổ chức đánh giá tín nhiệm, ta có thể có những đánh giá cơ bản về công ty
chứng khoán thông qua các chỉ tiêu này.
* Chất lượng sản phẩm dịch vụ: Các công ty chứng khoán là nhà môi giới trung gian
cho các nhà đầu tư, nhiệm vụ chính của họ là cung cấp dịch vụ nhằm tạo thuận lợi
nhất cho giao dịch chứng khoán của các nhà đầu tư, vì vậy chất lượng các sản phẩm
dịch vụ là yếu tố cần thiết. Việc tìm kiếm khách hàng đã là khó, nhưng làm thế nào
để làm khách hàng vừa lòng lại càng khó hơn. Do đặc tính riêng biệt của thị trường
chứng khoán nên các nhà đầu tư sẽ tìm cho mình nhà môi giới nào có thể đáp ứng
được cho họ các dịch vụ tốt nhất với chi phí phù hợp. Vì vậy, các công ty chứng
khoán muốn thu hút và giữ được khách hàng thì bắt buộc họ phải đầu tư nghiên cứu
các sản phẩm mới, nâng cao chất lượng các sản phẩm đã có và tạo ra lợi thế cạnh
tranh về phí sử dụng sản phẩm dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh.
* Thương hiệu uy tín trên thị trường: Thương hiệu là yếu tố khẳng định vị thế của

Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là điều hết sức
quan trọng và cần thiết, song trong quá trình đó các công ty chứng khoán cũng chịu
nhiều tác động từ nhiều yếu tố, từ các yếu tố bên ngoài đến các yếu tố nội tại của
mình.
Sơ đồ 1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
công ty chứng khoán
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16
Nguồn: Giáo trình thị trường chứng khoán
1.3.3.1. Các nhân tố môi trường vĩ mô
Một công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường phụ thuộc rất nhiều vào
các tác động của các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô như xu hướng phát triển của thế
giới và của thị trường trong nước, các yếu tố chính trị, pháp lý, văn hoá, xã hội,….và
định hướng phát triển của ngành. Các tác động vĩ mô này có ảnh hưởng chung đến sự
phát triển của các công ty chứng khoán cũng như là định hướng cho hoạt động của
các công ty chứng khoán.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước và thế giới chính là tiền
đề giúp cho sự phát triển của các công ty chứng khoán thông qua những khoản lợi
nhuận mà các công ty chứng khoán thu về. Ngược lại, sự phát triển của các công ty
chứng khoán thông qua đầu tư vào nhân lực, công nghệ, cơ sở hạ tầng, các sản phẩm
dịch vụ,……sẽ là yếu tố tiên quyết giúp cho thị trường chứng khoán đó phát triển
hơn.
Ngoài ra các tác động từ cơ quan quản lý nhà nước, các chính sách, pháp lý có
ảnh hưởng rõ nét đến thị trường, đặc biệt là tâm lý của các nhà đầu tư. Thị trường
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhân tố môi
trường bên
trong
Nhân tố môi
trường vi mô

nghệ, đổi mới sản phẩm, dịch vụ để phù hợp hơn với sự phát triển của thị trường, tạo
vị thế của mình đối với các công ty chứng khoán khác. Hơn nữa công ty cũng phải
phát triển để cạnh tranh với các đối thủ tiềm tàng, đó là các công ty chứng khoán
mới, là các công ty mới thành lập có nền tảng về vốn và nhân sự, hay các công ty
chứng khoán nước ngoài,……
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18
Đối với các công ty chứng khoán, mục tiêu hàng đầu là tăng trưởng khách
hàng về số lượng và chất lượng, qua đó có thể thấy được sự quan trọng của khách
hàng đối với các công ty chứng khoán. Các khách hàng chính là người đem lại nguồn
thu chính cho các công ty chứng khoán, chính vì vậy số lượng khách hàng chính là
một con số quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh và vị thế của công ty trên thị
trường. Khách hàng chính là người sử dụng các sản phẩm dịch vụ công nghệ của
công ty, tất cả các hoạt động đầu tư của công ty đều nhằm mục đích phục vụ cho nhu
cầu của khách hàng, nhằm mở rộng phạm vi và quy mô khách hàng, đưa dịch vụ của
mình đến với các nhà đầu tư.
1.3.3.3. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp
Các nhân tố nội tại như năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, nguồn nhân
lực, marketing, hoạt động nghiên cứu phát triển, các chiến lược cạnh tranh,….là các
yếu tố tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Sự tác động tích
cực của các yếu tố này sẽ làm gia tăng vị thế của công ty trên thị trường. Mỗi công ty
chứng khoán có những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, vì thế các yếu tố nội tại
cũng khác nhau, nên mỗi công ty sẽ có năng lực cạnh tranh khác nhau. Các hoạt động
đầu tư của công ty sẽ làm gia tăng hoặc giảm sút các nhân tố nội tại này.
Năng lực tài chính thể hiện tiềm năng và năng lực thực sự của công ty, không
có tài chính vững mạnh thì công ty không thể phát triển mạnh mẽ được và sẽ sớm bị
các đối thủ cạnh tranh vượt qua. Năng lực tài chính thể hiện thông qua năng lực huy
động vốn, và hiệu quả sử dụng vốn. Một công ty có năng lực cạnh tranh là công ty có
vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có
nguồn vốn huy động hợp lý, và khi có vốn thì công ty cần có kế hoạch sử dụng đồng

Đối với mỗi công ty chứng khoán có những cách thức đầu tư khác nhau nhưng
tựu chung lại đối với các công ty chứng khoán, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh
có nội dung như sau:
 Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
 Đầu tư cho cơ sở hạ tầng, công nghệ, máy móc thiết bị
 Đầu tư nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ
 Đầu tư cho marketing, nghiên cứu phát triển.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNDIRECT THỜI GIAN QUA
2.1. Giới thiệu chung về công ty cổ phần chứng khoán VNDirect:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 21
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển:
VNDirect là công ty chứng khoán thành viên của Tập đoàn Đầu tư IPA, một
tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính và đầu tư bất động sản. Công ty
hoạt động theo giấy phép của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp ngày 7/11/2006
với đầy đủ nghiệp vụ kinh doanh, bao gồm hoạt động môi giới, lưu ký chứng khoán,
tư vấn tài chính doanh nghiệp, tự doanh, bảo lãnh phát hành và quản lý danh mục đầu
tư. Công ty là thành viên thứ 21 của HOSE và HASTC, chính thức kết nối vào sàn
giao dịch và mở tài khoản giao dịch đầu tiên vào ngày 19/12/2006. Công ty được
thành lập và điều hành bởi một nhóm các chuyên gia tài chính và các nhà lãnh đạo
doanh nghiệp giàu kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Khi mới thành lập,
VNDirect có số vốn điều lệ là 50 tỷ đồng với các nghiệp vụ như môi giới, lưu ký
chứng khoán, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tự doanh, bảo lãnh phát hành và quản lý
danh mục đầu tư. Theo quyết định số 87/UBCK-GP về việc sửa đổi Giấy phép thành
lập và hoạt động kinh doanh Chứng khoán số 22/UBCK-GPHĐ, UBCKNN cho phép
VNDirect tăng vốn điều lệ từ 50 tỷ đồng lên 300 tỷ đồng và chính thức rút nghiệp vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status