Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
LỜI MỞ ĐẦU
Nguồn nước sạch không bị ô nhiễm là điều mong mỏi của toàn thể
nhân loại trên thế giới. Hiện nay, hơn một tỷ người trên thế giới thường
xuyên thiếu nguồn nước sạch để sử dụng. Việt Nam cũng là một quốc gia
đang đối đầu với tình trạng khan hiếm nguồn nước sạch dùng cho mục đích
sinh hoạt và sản xuất. Nhất là tại các khu vực ngoại thành hay nông thôn, nơi
mà nguồn nước cấp còn chưa đầy đủ và chưa đảm bảo các yêu cầu về chất
lượng nguồn nước cấp cho sinh hoạt.
Dư lượng kim loại nặng trong nước với một lượng lớn vượt quá tiêu
chuẩn cho phép sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ con người. Nhiễm
độc Cadimi gây ung thư, bệnh phổi và xương; Kẽm gây tác động đến hệ tiêu
hoá, Niken gây bệnh về da. Dư lượng kim loại nặng Kẽm, Cadimi, Niken
thường được tìm thấy nhiều nhất trong nước thải của ngành sản xuất xi mạ,
nước thải này được đổ ra sông gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn
nước mặt và nước ngầm.
Chính vì vậy vấn đề xử lý dư lượng kim loại nặng trong nước là một
nhu cầu cấp thiết hiện nay. Trong thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu được
thực hiện nhằm mục đích loại bỏ dư lượng kim loại nặng trong nguồn nước.
Trong các phương pháp được nghiên cứu thì phương pháp dùng vật liệu để
hấp phụ dư lượng kim loại trong nước cho thấy có nhiều ưu điểm.
Hướng nghiên cứu: Điều chế và khảo sát khả năng hấp phụ dư lượng
kim loại nặng Kẽm, Cadimi, Niken trong nước của vật liệu hấp phụ có nguồn
gốc từ bùn đỏ nhà máy hoá chất Tân Bình tại phòng thí nghiệm.
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 2
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
tháng 12 năm 2006 tại Phòng Xúc tác và Công nghệ Môi trường thuộc Viện
Khoa học Vật liệu ứng dụng.
1.2. NHÀ MÁY HOÁ CHẤT TÂN BÌNH [7][11][12]
1.2.1 Giới thiệu chung [7]
Nhà máy hoá chất Tân Bình là một trong sáu thành viên của công ty
Hoá chất cơ bản Miền Nam, thuộc tổng công ty hoá chất Việt Nam. Công Ty
Hoá Chất Cơ Bản Miền Nam là doanh nghiệp nhà nước được thành lập từ
năm 1976 chuyên sản xuất các sản phẩm hoá chất vô cơ cơ bản. Nhà máy
hoá chất Tân Bình ban đầu là cơ sở sản xuất hoá chất do tư nhân Đài Loan
xây dựng năm 1969 với sản phẩm chính là axit sulfuric và phèn đơn. Đến
năm 1973, nhà máy sản xuất thêm hydroxit nhôm Đấn năm 1976, nhà máy
được tiếp quản và thuộc Công Ty Hoá Chất Cơ Bản Miền Nam. Từ 1995
công ty thuộc Tổng công ty hoá chất Việt Nam.
Nhà máy sản xuất các sản phẩm gồm:
Axit Sulfuric (H
2
SO
4
) : 40.000 tấn/năm
Hydroxit nhôm (Al(OH)
3
: 30.000 tấn/năm
Phèn đơn Sulfat nhôm : 10.000 tấn/năm
Phèn kép gồm phèn amoni & kalisulfat của nhôm Sulfat:1tấn/ca
Các sản phẩm phụ: Na
2
SO
3
.5H
2
Bảng 1 : Thành phần hoá học của quặng Bauxit
Al
2
O
3
Fe
2
O
3
SiO
2
TiO
2
H
2
O
30% - 75% 2% - 37% 1% - 27% 0% - 11% 8% - 25%
Người ta đánh giá quặng bauxit thông qua modul silic: tỷ số giữa hàm
lượng Al
2
O
3
và SiO
2
, quặng bauxit nào có hàm lượng Al
2
O
3
>= 50% và
modul silic >= 10 thì chất lượng quặng thuộc loại tốt.
thích hợp với phương pháp Bayer.
1.2.3 Giới thiệu quy trình Bayer [12]
Hình 1 : Sơ đồ quy trình Bayer
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 6
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
1.2.4 Thuyết minh quy trình công nghệ Bayer [12]
Quặng Bauxit từ bãi chứa được chuyển vào phễu định lượng, sau khi
quặng ra khỏi phễu (được hoà trộn với một lượng vôi thích hợp) sẽ được hệ
thống vít tải xoán đưa vào máy nghiền bi để thực hiện quá trình nghiền ướt.
Tại máy nghiền, quặng được nghiền đến kích thước khoảng 60 - 70 µm
với dung dịch xút, sau khi cô đặc, được lấy từ bồn chứa xút.
Quặng sau khi nghiền có dạng huyền phù, phần quặng có kích thước
đạt yêu cầu sẽ chảy vào bồn trung gian được khuấy liên tục với tốc độ cánh
khuấy 15 vòng/phút để tránh lắng đọng. Phần không đạt yêu cầu sẽ theo hệ
thống vít tải xoán trở lại máy nghiền.
Từ bồn trung gian, huyền phù được bơm lên bồn pha liệu để ủ và khử
silíc.
Sau khi pha liệu xong, huyền phù được bơm vào thiết bị trao đổi nhiệt
để gia nhiệt lên khoảng 130 - 140
0
C, rồi được bơm vào thiết bị phản ứng. Ở
nhiệt độ này, Al
2
O
3
tách ra khỏi quặng bauxite tạo thành dung dịch
Aluminate theo phản ứng:
40
2 2 3
2 ( )
NaAlO H O Al OH NaOH
=
+ = +
Sau khi kết tinh hỗn hợp này được đưa qua hệ thống phân ly bằng
cyclon sẽ chia hỗn hợp thành hai phần: phần nước phía trên được tuần hoàn
về bồn chứa xút để cô đặc, phần phía dưới đem đi lọc thành phẩm.
1.2.5 Cách xử lý bã thải của nhà máy hoá chất Tân Bình [11][12]
Thành phần bao gồm:
+ Phần dung dịch có 1 - 3g/l Na
2
O; 1 - 3g/l Al
2
O
3
.
+ Phần rắn có 18 - 22% Al
2
O
3
; 40 - 50% Fe
2
O
3
; 3% SiO
2
Bã thải rắn có màu đỏ do trong đó còn chứa 1 lượng sắt khá lớn, có
tính kiềm do lượng kiềm trong khi xử lý còn dư được rửa bằng nước thải từ
phân xưởng axít (được rửa nhiều lần). Bã đã xử lý đổ xuống mương chứa rồi
theo đường mương này đến sân phơi.
khi phơi khô bùn có độ ẩm 4,17%, tỉ trọng 3,37g/cm
3
, diện tích bề mặt
28.36g/cm
2
. Thành phần khoáng vật chính của bùn đỏ là gibbsit, goethit,
hematit và một phần nhỏ ilmenit. Hàm lượng oxit nhôm và sắt còn lại khá
cao Al
2
O
3tb
~ 21,285% và Fe
2
O
3tb
~ 47,4717%
Thành phần hoá học và thành phần khoáng một số mẫu bùn đỏ của nhà
máy hoá chất Tân Bình.
Bảng 3 : Thành phần hoá học một số mẫu bùn đỏ của nhà máy
HCTB :
Mẫu Thành phần %
Al
2
O
3
Fe
2
O
3
SiO
Độ pH 11,7 - 12,5
Kích thước hạt
70% hạt <100µm và 30% hạt >= 100µm
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 10
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
Diện tích bề mặt riêng 7,3 - 36,4 m
2
/g
Tỷ trọng 1,08 - 1,33
Nếu bùn thải có diện tích bề mặt riêng (độ xốp) lớn và kích thước hạt
nhỏ sẽ gây khó khăn trong quá trình lắng.
1.3.3. Vấn đề sử dụng bùn đỏ hiện nay [6][16][17]
1.3.3.1. Sử dụng trong lĩnh vực luyện kim
Việc sử dụng bùn đỏ để thu hồi các kim loại rõ nét nhất là việc tách
sắt, thu hồi Ti và Al. Ngoài ra cũng tách được các kim loại quý khác như: V,
Ga, Sc… (tính kinh tế không cao vì hàm lượng các nguyên tố này rất thấp).
a. Thu hồi khoáng sắt
Có một số quy trình đã triển khai để thu hồi khoáng sắt từ bùn đỏ như
sau:
Phương pháp xỉ cacbon: trộn bùn với sôđa và đá vôi đem nung
chảy, sắt bị khử về dạng có từ tính và thu hồi bằng phương pháp
tuyển từ.
Nung chảy trong lò điện: trong quá trình này có 98% sắt chứa trong
Bauxit được thu hồi.
Nung chảy trong lò cao: trộn bùn với than đá trong lò cao để khử
sắt rồi sau đó thêm vôi vào khử hoàn toàn.
b. Thu hồi nhôm
Khi nung chảy bùn đỏ để thu hồi sắt phần xỉ từ quá trình nung chảy đó
được rửa bằng dung dịch Na
2
trong khoảng giới hạn (25 - 50%).
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 12
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
Đây là một hướng quan trong trong xử lý bùn đỏ. Ở Mỹ vào năm 1973
có 350 nhà máy sản xuất ra 18 triệu tấn gạch mỗi năm, ước tính lượng bùn đỏ
sử dụng cho mục đích này khoảng 4,5 - 9 triệu tấn/năm.
c. Sản xuất chất độn nhẹ
Một số khoáng sét hay phiến nham khi gia nhiệt bị phồng lên tạo thành
chất độn nhẹ. Bùn đỏ cũng có tính chất trương nở này nên người ta tiến hành
nghiên cứu và đã thu được kết quả: khi trộn bùn đỏ với sét theo tỷ lệ Bùn:Sét
= 50:50 - 90:10 tốt nhất là 75:25 rồi sau đó nung lên tạo thành chất độn nhẹ.
Đây cũng là một hướng giải quyết được một lượng lớn bùn đỏ. Vì chỉ
tính riêng ở Mỹ (1973) sản lượng chất độn nhẹ sản xuất ra hàng năm khoảng
2,5 triệu tấn, vậy lượng bùn sử dụng tương đương 1,3-2 triệu tấn/năm.
d. Sản xuất tấm lợp cách âm
Trộn bùn đỏ với thuỷ tinh và một số loại chất thải rắn khác để sản xuất
tấm lợp chống cháy, cách âm và chịu sự thay đổi của điều kiện khí hậu môi
trường tốt hơn tấm lợp bằng nhựa hay xenlulo.
e. Sản xuất chất keo tụ
Ở nước Anh trước chiến tranh thế giới lần thứ 2 người ta đã xử lý bùn
đỏ với acid HCl hoặc H
2
SO
4
đậm đậc để chiết sắt và nhôm oxit thành các
sunfat hoặc các clorua có tác dụng keo tụ. Sau đó phơi khô và nghiền mịn để
xử lý nước thải.
f. Xử lý khí thải
Bùn đỏ hấp thụ được 90% khí thải H
2
2
/Al
2
O
3
(x >= 2)
y: số phân tử nước.
n : hoá trị của cation M
n+
Công thức hoá học của zeolit được biểu diễn dưới dạng:
M
x/n
.[(AlO
2
)
x
.(SiO
2
)
y
].zH
2
O
Trong đó : M: kim loại hoá trị n.
y/x: tỷ số nguyên tử Si/Al; tỷ số này thay đổi tuỳ theo
từng loại zeolit.
z: số phân tử H
2
O kết tinh trong zeolit.
Ký hiệu trong móc vuông là thành phần của một ô mạng cơ sở tinh thể.
mao quản: gồm nhiều zeolit có hệ thống mao quản một chiều, hai chiều và ba
chiều.
- Theo đường kính mao quản (thường được xác định từ vòng cửa
sổ mao quản tạo nên bởi các nguyên tử oxy): gồm zeolit mao quản nhỏ (vòng
6÷8 oxy, đường kính mao quản Φ= 3÷4A
0
, ví dụ: ZSM-5, ZSM-11, ZSM-
22); zeolit mao quản rộng (vòng 12÷20 oxy, Φ= 7÷ trên 15A
0
, ví dụ: faujasit,
mordenit, VPI-5, offretit).
- Theo tỷ số Si/Al: gồm Zeolit có hàm lượng silic thấp (Si/Al=
1÷1.5,ví dụ: A,X); hàm lượng silic trung bình (Si/Al= 2÷5, ví dụ: mordenit,
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
chabazit, erionit, Y); hàm lượng silic cao (Si/Al > 10, ví dụ: ZSM-5,
silicalit).
Tuy có rất nhiều zeolit đã được biết, bao gồm các zeolit tự nhiên và
hơn 150 cấu trúc zeolit tổng hợp, nhưng chỉ có số ít trong chúng là có ứng
dụng thương mại. Đó là một vài zeolit tự nhiên (mordenit, chabarit, erinoit,
clinoptiolit) và một số lượng lớn các zeolit tổng hợp (A,X,Y,L, omega,
mordenit tổng hợp, ZSM-5).
1.3.4.2. Tính chất hấp phụ của Zeolit [4][5]
Zeolit có khả năng hấp phụ rất cao nhờ cấu trúc tinh thể rỗng, các
khoang trống chiếm khoảng 50% thể tích và diện tích bề mặt bên trong các
khoang có thể đến 1000 m
2
/g.
Zeolit có khả năng hấp phụ lớn ngay cả ở nhiệt độ cao, do nhiệt độ cao
cơ cấu tinh thể vẫn bền. Nhờ vậy, có thể dùng làm chất xúc tác cho những
lượng sản phẩm.
- Bảo quản một số nông sản sau thu hoạch, làm chất vi lượng trong thức ăn
gia súc, tẩy uế chuồng trại trong chăn nuôi.
1.3.5.3. Trong công nghiệp
- Công nghệ thực phẩm: zeolit đã được dùng làm chất lọc, sấy khô bảo
quản thực phẩm.
- Công nghệ hoá dầu: làm chất tách, xúc tác cho các phản ứng trong hóa
dầu.
- Công nghệ hoá chất: sản xuất chất tẩy rửa, xà phòng.
1.3.5.4. Một vài ứng dụng khác
Gần đây, zeolit được ứng dụng làm xúc tác bazơ cho phản ứng điều
chế nhiên liệu diesel sinh học, vật liệu từ tính…
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
1.4. GIỚI THIỆU VỀ QUÁ TRÌNH HẤP PHỤ VÀ
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHẾ ZEOLIT [1][2][3][4][5][9]
[10][15]
1.4.1. Hấp phụ [2]
Hấp phụ là một hiện tượng hoá lý thường gặp trong tự nhiên, đó là quá
trình đặc trưng xảy ra sự cô đọng các chất hay dung dịch trên bề mặt phân
chia pha. Quá trình hấp phụ chủ yếu xảy ra trên bề mặt tiếp xúc giữa chất hấp
phụ và môi trường liên tục chứa chất hấp phụ. Thông thường, chất bị hấp phụ
là các khí hay các dung dịch chất tan; chất hấp phụ thường là các chất có
nhiều lỗ xốp (chất rắn), các chất có độ phân tán cao với bề mặt riêng lớn
(chất lỏng).
Bản chất của hiện tượng hấp phụ là do lực tương tác giữa chất bị hấp
phụ và chất hấp phụ - lực tương tác giữa các chất gây ra hấp phụ vật lý, trao
đổi ion, lực nội phân tử gây ra hấp phụ hoá học - tạo ra các liên kết hoá học.
1.4.1.1. Hấp phụ vật lý
Lực hấp phụ có bản chất như lực tương tác phân tử (lực cảm ứng, lực
• Tính đặc trưng của quá trình cũng khác biệt, hấp phụ hoá học xảy ra
đặc trưng tuỳ điều kiện còn hấp phụ vật lý thì không.
• Số lớp hấp phụ cũng là đặc điểm khác biệt, hấp phụ hoá học là đơn
lớp còn hấp phụ vật lý là đa lớp.
1.4.2. Động học quá trình hấp phụ [2]
Quá trình hấp phụ xảy ra chủ yếu trên bề mặt trong của chất hấp phụ,
vì vậy quá trình động học hấp phụ xảy ra theo một loạt giai đoạn kế tiếp
nhau: khuếch tán của chất bị hấp phụ tới bề mặt ngoài, khuyếch tán bến trong
hạt hấp phụ và giai đoạn hấp phụ thực sự. Trong tất cả các giai đoạn đó, giai
đoạn nào có tốc độ chậm nhất sẽ quyết định hay khống chế chủ yếu toàn bộ
quá trình động học hấp phụ.
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
Các quá trình động học hấp phụ là: quá trình chuyển khối, khuếch tán
phân tử, chuyển khối trong hệ hấp phụ. Quá trình hấp phụ kim loại nặng
bằng các vật liệu hấp phụ nghiên cứu trong luận văn có thể mô tả qua các giai
đoạn sau:
- Đầu tiên các phân tử chất bị hấp phụ (các kim loại nặng) tiến đến bề
mặt của các hạt vật kiệu hấp phụ, đây là giai đoạn khuếch tán trong
dung dịch.
- Sau đó chất bị hấp phụ chuyển động đến bề mặt ngoài của vật liệu
hấp phụ, đây là giai đoạn khuếch tán màng.
- Tiếp đó các phân tử chất bị hấp phụ được gắn vào bề mặt chất hấp
phụ, đây là giai đoạn hấp phụ thật sự.
Trong nội dung nghiên cứu, cơ sở để mô tả quá trình động học hấp phụ
dựa trên các giả thuyết sau:
- Quá trình hấp phụ xảy ra dưới điều kiện đẳng nhiệt và là một quá
trình thuận nghịch.
- Cơ chế chuyển khối của chất bị hấp phụ được diễn tả qua quá trình
khuếch tán.
+ 1/nLgC
e
Với: K
F
: hằng số phụ thuộc nhiệt độ, diện tích bề mặt riêng của chất hấp
phụ và các yếu tố khác.
1/n với n>1 và n: hằng số phụ thuộc nhiệt độ.
Q : độ hấp phụ tại nồng độ cân bằng (mg/g)
C
e
: nồng độ dung dịch ở cân bằng (mg/L)
Từ phương trình trên ta vẽ đồ thị LgQ = f(Ce), thu được hệ số góc 1/n
và tung độ góc lgK
F
; bên cạnh đó xác định thêm sự phù hợp của lý thuyết và
thực nghiệm thông qua hệ số tương quan R
2
của đường thẳng.
1.4.3.2. Phương trình Langmuir
Thuyết hấp phụ đơn phân tử của khí trên chất hấp phụ rắn được
Langmuir đưa ra năm 1915. Trên bề mặt chất hấp phụ có trường lực hoá trị
chưa bão hoà, vì vậy có khả năng hấp phụ các phân tử chất bị hấp phụ ở
những vị trí này (trung tâm hấp phụ). Lực hấp phụ có bán kính tác dụng nhỏ,
là lực có bản chất gần với lực hoá học, nên mỗi trung tâm chỉ giữ được một
phân tử chất bị hấp phụ. Các phân tử chất bị hấp phụ này chỉ tương tác với bề
mặt chất bị hấp phụ và không tương tác hay ảnh hưởng đến các phân tử khác.
Các giả định sau được đưa ra để thiết lập phương trình hấp phụ:
• Các chất bị hấp phụ hình thành một lớp phân tử.
• Năng lượng hấp phụ các phân tử là đồng nhất (bề mặt đồng nhất).
/Q) = f(C
e
) ta sẽ xác định được các giá trị Q
m
và K
L
;
bên cạnh đó có thể xác định thêm sự phù hợp của thực nghiệm so với lý
thuyết thông qua hệ số tương quan R
2
.
1.4.3.3. Hấp phụ trong môi trường nước
Trong môi trường nước, tương tác giữa một chất hấp phụ và bị hấp phụ
thì rất phức tạp vì trong hệ có ít nhất 3 thành phần gây tương tác: nước - chất
hấp phụ - chất bị hấp phụ. Do sự có mặt của dung môi nên trong hệ sẽ xảy ra
quá trình hấp phụ cạnh tranh giữa chất bị hấp phụ và dung môi trên bề mặt
chất hấp phụ. Cặp nào có tương tác mạnh thì hấp phụ xảy ra cho cặp đó.
Tính chọn lọc của cặp tương tác phụ thuộc vào các yếu tố: độ tan của chất bị
hấp phụ trong nước, tính ưa hay kỵ nước của chất hấp phụ, mức độ kỵ nước
của các chất bị hấp phụ trong môi trường nước.
Nước là một dung môi phân cực, trong trạng thái lỏng các phân tử
không tồn tại ở dạng biệt lập mà chúng tương tác, gắn kết với nhau thông qua
cầu liên kết hydro. Năng lượng liên kết cầu hydro trong nước đá và nước
lỏng khoảng 23kJ/mol, tuy nhỏ hơn nhiều so với liên kết OH (khoảng 450
kJ/mol) nhưng lớn hơn nhiều so với lực tương tác Van Der Waals (khoảng 4
-5 kJ/mol). Nước trong trạng thái lỏng có cấu trúc trung gian giữa nước đá và
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
hơi nước và thay đổi theo nhiệt độ. Cấu trúc của nước ở trạng thái lỏng được
coi là dễ chấp nhận là mô hình tập hợp mỏng của Frank và Went. Theo mô
có khả năng hấp phụ. Đặc điểm này không chỉ xảy ra giữa dung môi với chất
bị hấp phụ mà còn đối với giữa các chất bị hấp phụ với nhau nhất là đối với
nước tự nhiên luôn tồn tại nhiều chất bị hấp phụ.
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 23
Đồ án tốt nghiệp GVHD : TS.Nguyễn Đình Thành
Đối với một số chất hấp phụ có độ phân cực cao, như là các ion kim
loại hay các dạng phức oxy anion thì quá trình hấp phụ xảy ra do tương tác
tĩnh điện thông qua lớp điện tích kép thì hình ảnh tương tác có khác hơn.
Trên bề mặt chất hấp phụ hình thành các lớp điện tích kép hay lớp khuếch tán
chứa điện tích sắp xếp lần lượt các loại trái dấu nhau. Các ion hoặc các phân
tử có độ phân cực lớn bị bao bọc bởi một lớp vỏ của các phân tử nước, kích
thước của các phân tử chất bị hấp phụ có ảnh hưởng nhiều đến khả năng hấp
phụ của hệ do tương tác tĩnh điện. Với các ion cùng hoá trị thì loại có kích
thước lớn sẽ bị hấp phụ tốt hơn do có độ phân cực cao và lớp vỏ hydrat nhỏ
hơn. Ngoài ra khả năng hấp phụ các ion có hoá trị cao sẽ tốt hơn nhiều các
ion hoá trị thấp.
Bản thân chất hấp phụ trong môi trường nước cũng mang điện tích,
điện tích thay đổi dấu khi thay đổi pH của môi trường. Tai pH bằng điểm
đẳng điện thì diện tích bề mặt chất rắn bằng không. Mật độ tích điện càng lớn
khi điểm pH của hệ càng xa điểm đẳng điện. Với các chất hấp phụ có tính
axit hay bazơ yếu phụ thộc vào giá trị pH thì nó có thể mang điện tích hay
trung hoà. Với các axit yếu thì khi pH>pK thì nó tích điện âm và khi pH<pK
thì nó trung hoà.
So với quá trình hấp phụ trong pha khí thì tốc độ hấp phụ trong nước
xảy ra chậm hơn nhiều chủ yếu là do quá trình chuyển khối, khuếch tán
chậm. Do đó trong thực tiễn công nghiệp, dung lượng hấp phụ của một hệ rất
ít khi được sử dụng triệt để, nhất là đối với chất hấp phụ có dung lượng cao
(diện tích bề mặt lớn, độ lớn của mao quản nhỏ). Kết quả sử dụng ngoài thực
tiễn vì vậy đôi lúc có điều trái ngược: chất hấp phụ có dung lượng cao có kết
quả sử dụng kém hơn chất có độ chọn lọc thấp. Đó là kết quả của sự tương
trong ống thuỷ tinh ở nhiệt độ 170
0
C.
Thông thường quá trình tổng hợp thuỷ nhiệt được tiến hành ở nhiệt độ
và áp suất cao. Hỗn hợp phản ứng được hình thành từ các cấu tử, mà thành
phần của chúng tương ứng với thành phần của sản phẩm mong muốn. Hỗn
hợp này được giữ trong một thời gian xác định, ở nhiệt độ và áp xuất xác
định với sự có mặt của một lượng lớn nước.
SVTH : Nguyễn Thị Hương Thảo Trang 25