1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Lý do chọn đề tài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hình thức đầu tư dài hạn đóng vai trò
quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, tạo công ăn việc
làm… của các quốc gia trong đó có các nước đang phát triển. Kể từ khi xuất hiện lần
đầu tiên trên thế giới vào khoảng thế kỷ thứ 19 đến nay, hoạt động đầu tư nước ngoài
đã có những biến đổi sâu sắc. Xu hướng chung là ngày càng tăng lên về số lượng, quy
mô, hình thức, thị trường, lĩnh vực đầu tư và sự tập trung ngày càng nhiều của các công
ty xuyên quốc gia(MNE). Các MNE kiểm soát gần 90% vốn FDI trên thế giới, điều này
phản ánh xu thế tham gia tích cực hơn của các nước vào quá trình toàn cầu hoá, liên kết
và hợp tác quốc tế. Vì vậy, thông qua dòng vốn FDI, các quốc gia đang phát triển nói
chung và khu vực Châu Á nói riêng nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu đáng kể và
trở thành một trong những vùng kinh tế năng động, đầy hứa hẹn trên bản đồ thế giới.
Riêng tại Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua, FDI giữ vai trò then chốt trong trong sự
nghiệp thúc đẩy công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, sau khủng hoảng năm 2008, nền kinh tế vẫn chưa kịp phục hồi dẫn
đến dòng vốn FDI toàn cầu sụt giảm đáng kể. Theo báo cáo về đầu tư xuất bản ngày
24/1/2013 của Cơ quan Liên Hợp Quốc về đầu tư và thương mại(UNCTAD) cho biết
năm 2012 thế giới ghi nhận con số 1.300 tỷ USD vốn FDI được luân chuyển toàn cầu,
đã giảm so với con số 1.600 tỷ của năm 2011. Và tình hình năm 2013 cũng không mấy
khả quan, vẫn quay quanh ngưỡng của năm trước đã tạo nên một ―cuộc đua‖ FDI ngày
càng trở nên khắc nghiệt. Những vấn đề này đặt ra câu hỏi làm thế nào để thu hút FDI
và ― sử dụng vốn ngoại‖ một cách hiệu quả ở các nước đang phát triển?
Để trả lời cho câu hỏi này, hàng loạt các bài nghiên cứu ra đời và không ít bài
nghiên cứu trong số đó như một cuộn băng tua chậm giúp ta có cái nhìn ban đầu về tác
động của các nhân tố lên dòng vốn FDI. Như nghiên cứu của Garibaldi và cộng
sự(2002) tại 26 nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu cho ra kết quả hồi quy FDI được giải
thích tốt bởi các nhân tố cơ bản của nền kinh tế như sự ổn định của kinh tế vĩ mô, mức
độ cải cách nền kinh tế, tự do hoá thương mai, tình trạng quan liêu của chính phủ mà
1. Thể chế phi chính thức có mối tương quan như thế nào với các thể chế chính
thức của các quốc gia đó?
3
2. Xác định tác động của các thể chế chính thức khác nhau đến sự hấp dẫn của một
quốc gia đối với những nhà quản trị các công ty đa quốc gia và thu hút dòng vốn
FDI đổ vào như thế nào?
Phƣơng pháp nghiên cứu
Để kiểm tra những ảnh hưởng trên và các tác động của môi trường thể chế,
chúng tôi đã thu thập và phân tích dữ liệu 10 quốc gia Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonexia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippine, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam
trong 13 năm từ giai đoạn năm 2000 đến năm 2012 đã cung cấp mẫu gồm nhiều định
chế và văn hóa đa dạng, phong phú. Ngoài các nước phát triển, mẫu dữ liệu cũng bao
gồm một số nền kinh tế mới nổi Ấn độ, và Trung Quốc và một vài nước đang phát triển
nhưng chậm hơn gồm Việt Nam, Indonexia, Malaysia…
Phương pháp được sử dụng là kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (Exploratory
Factor Analysis – EFA) để kiểm định chiều và mức độ tác động của các thể chế phi
chính thức cụ thể là văn hoá cùng với thể chế chính thức gồm thể chế điều tiết, thể chế
chính trị và thể chế kinh tế lên sự thay đổi trong dòng vốn FDI chảy vào.
Nội dung nghiên cứu
Nội dung bài nghiên cứu đóng góp vào lý thuyết thể chế bằng cách kiểm tra tác
động của các thể chế phi chính thức lên các thể chế chính thức và tác động của các thể
chế chính thức lên dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào. Cụ thể, chúng tôi tổng
hợp nhiều bài nghiên cứu trước đây, từ nhiều lĩnh vực khác nhau để xác định vai trò của
thể chế điều tiết, thể chế chính trị và thể chế kinh tế của một quốc gia. Kết quả cho thấy
những thể chế phi chính thức của quốc gia thể hiện qua hai phương diện của văn hóa là
chủ nghĩa tập thể và định hướng tương lai, đã góp phần hình thành nên các thể chế
chính thức của quốc gia đó. Lần lượt, mỗi yếu tố trong ba yếu tố của thể chế chính thức
có những tác động khác nhau tới mức độ dòng FDI chảy vào trong nước. Từ đó, hình
thành nền tảng cơ bản trong việc thu thập và xử lý dữ liệu cũng như đưa ra những lập
chúng. Hơn nữa, công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp nền tảng cho các nghiên cứu
trong tương lai về các chiến lược của doanh nghiệp và những tác động của chúng lên
hiệu suất kinh doanh.
5
Hƣớng phát triển đề tài
Bên cạnh những đóng góp thiết thực, đề tài không thể tránh khỏi những hạn chế
nhất định, đó là hạn chế khách quan trong môi trường thể chế phức tạp đa góc cạnh,
cũng như hạn chế chủ quan trong việc xây dựng mô hình. Bên cạnh đó việc ghi nhận dữ
liệu của nhóm theo phương pháp thủ công do đó sai sót trong khâu nhập liệu là điều
khó tránh khỏi. Ngoài ra, kết quả kiểm định cho thấy có rất ít mối quan hệ giữa văn hoá
với các thể chế thanh khoản thị trường, do đó cần có các kiểm định lý thuyết có ý nghĩa
hơn đối với biến này.
Một hướng nghiên cứu mới cho đề tài này chính là đi sâu phân tích, kiểm định
sự ảnh hưởng hỗn hợp của nhiều thể chế lên sự lựa chọn của nhà quản trị các MNE; đặc
biệt xem xét nguồn gốc của thể chế chính thức và phi chính thức. Thật vậy, chúng tôi
thiếu những dữ liệu để hiển thị một cách rõ ràng rằng các thể chế phi chính thức là
nguồn gốc của các thể chế chính thức, và các bài nghiên cứu trước đây đều yêu cầu để
giải quyết vấn đề này. Greif (1994) đã kiểm tra cách thức mà nền văn hóa của hai xã
hội trong thế kỷ 11 và 12 đã góp phần vào sự phát triển của các thể chế chính thức khác
nhau đến chi phối kinh tế trao đổi và thực thi quyền sở hữu. Ông cho rằng các thể chế
chính thức phát triển theo quỹ đạo đường cong mà được định hình từ văn hóa của xã
hội. Theo thời gian, những thay đổi về thể chế lại củng cố nền văn hóa. Nói cách khác,
các tiêu chuẩn và các giá trị văn hóa có thể là nền tảng cho sự phát triển của tổ chức
chính thức. Từ đó có thể đưa ra các bằng chứng bao quát về mối quan hệ tồn tại giữa
thể chế phi chính thức và thể chế chính thức cũng như giữa chúng lền dòng vốn FDI.
Kết cấu bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu bao gồm 5 chương:
4.1. Phân tích nhân tố khám phá EFA 44
4.2. Mô hình hồi quy 50
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 57
5.1. Kết luận 57
5.2. Đề xuất ý kiến 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Phụ lục 1. Bảng mô tả biến 1
Phụ lục 2. Bảng thống kê mô tả của các biến thể chế 4
Phụ lục 3. Bảng kết quả hệ số tải nhân tố trƣớc khi xoay 5
Phụ lục 4. Ma trận hệ số tƣơng quan của các biến 6
Phụ lục 5. Ma trận hệ số nhân tố 7
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt
Gốc tiếng Anh
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Foreign Direct Investment
MNE
Công ty xuyên quốc gia
Multinational enterprises
UNCTAD
Hội nghị LHQ về thương
mại và phát triển
United Nations Conference
on Trade and Development
Chỉ báo phát triển thế giới
World Development
Indicators
IEF
Chỉ số về tự do kinh tế
Index of Economic
Freedom
POLCON
Chỉ số về ràng buộc chính
trị
Political Constraint Index
PRS
Dữ liệu về rủi ro chính trị
Political Risk Services
MLE
Phương pháp ước lượng
hợp lý cực đại
Maximum Likelihood
Estimates
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
Gross Domestic Product
CP
Chính phủ
NH
Ngân hàng
1
1. GIỚI THIỆU
Trong nhiều thập niên gần đây, dưới làn sóng toàn cầu hoá, dòng vốn FDI đổ
vào các nước ngày càng gia tăng, tạo nên nhiều cơ hội tăng trưởng và phát triển ở các
quốc gia nhận đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có sự gia tăng nhanh chóng trên
toàn thế giới, từ mức trung bình hàng năm 142 tỷ USD trong những năm 1985 -1990
lên hơn 385 tỷ USD vào năm 1996, đến năm 2007, FDI đã đạt mức 1900 tỷ USD (
UNCTAD, 2009). Tuy nhiên, năm 2008, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính
khiến cho dòng vốn FDI sút giảm 14% (chỉ còn 1700 tỷ USD) và 1200 tỷ USD vào
năm 2009. Cho đến năm 2010, đã đánh dấu sự gia tăng trở lại của FDI toàn cầu tăng
15% so với năm 2009, FDI tiếp tục gia tăng trong năm 2011 đạt mức 1600 tỷ USD. Tuy
nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu giảm xuống 18% trong năm 2012, giảm từ
1600 tỷ USD xuống còn 1300 tỷ USD và năm 2013 giữ ngang mức tương đương với
năm 2012. Nguyên nhân có thể là do sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng kéo
dài hơn dự kiến và chính sách vĩ mô bất ổn. Năm 2012 cũng là năm đầu tiên ghi nhận
các nước đang phát triển tiếp nhận nhiều vốn FDI hơn các nước phát triển. Trong đó, tại
khu vực Châu Á tuy sụt giảm khoảng 6,7% nhưng tính chung toàn khu vực thì Châu Á
chiếm 58% lượng vốn FDI vào các nước đang phát triển. Riêng tại khu vực Đông Nam
Á, thu hút FDI vào Indonesia và Philippines cũng như ở các nước có thu nhập thấp như
Campuchia, Myanmar và Việt Nam được cải thiện.
Có thể nói, sự biến động nguồn vốn FDI lên xuống theo những thời điểm khác
nhau cũng như khác biệt giữa các khu vực rõ ràng được tác động bởi nhiều yếu tố
trong đó có cả những yếu tố thể chế chính thức và phi chính thức Vậy những nguyên
nhân nào thu hút FDI và chúng có tác động như thế nào lên FDI của một số quốc gia
Châu Á? Đó chính là dấu hỏi lớn cần được giải đáp.
Và bài nghiên cứu hướng đến cung cấp một nền tảng lý thuyết về các thể chế phi chính
thức và chính thức tác động lên dòng vốn FDI cũng như các bằng chứng thực nghiệm
dựa vào mô hình phân tích các nhân tố khám phá EFA và mô hình các ảnh hưởng ngẫu
sự hiểu biết mang tính tập thể nhưng không được hệ thống hóa thành những quy tắc và
chuẩn mực, qua đó tạo nên sự gắn kết và phối hợp giữa các cá nhân trong một xã hội và
phản ánh cấu trúc thực sự của xã hội đó (Scott, 2005). Đại diện cho giá trị chung và
những chuẩn mực không được hệ thống như văn hoá, phong tục, tập quán… một trong
những yếu tố quan trọng của thể chế phi chính thức trong một quốc gia. Văn hoá mang
tính bền vững, ổn định, lâu dài, đồng thời, nó thể hiện chuẩn mực và giá trị của mỗi
thành viên trong xã hội.
Thể chế chính thức đại diện cho cấu trúc của các quy tắc và chuẩn mực được hệ
thống hoá, góp phần định hình những hành vi đúng đắn và tạo điều kiện hình thành kì
vọng cho các hành vi liên quan nhằm tạo nên sự ổn định và trật tự của xã hội. Trong
khi, các thể chế phi chính thức thay đổi từng bước như văn hoá được truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác thì các thể chế chính thức lại thay đổi linh hoạt hơn ở chỗ chúng là
sản phẩm của ý thức. Thể chế chính thức ra đời như giải pháp cho các vấn đề xã hội.
Các giải pháp nằm riêng lẻ cho đến khi chúng kết tinh thành những quy tắc và chuẩn
mực chính thức ảnh hưởng đến hành vi trong tương lai. Bởi vì, các cá nhân trong xã hội
tuân theo các quy tắc và chuẩn mực này, nên theo thời gian chúng được thừa nhận và
4
thông lệ hoá, sản sinh ra trong những giai đoạn tiếp theo và dần dần được chấp nhận
như những thể chế chính thức. Do đó, như DiMaggio (1988) lập luận, thể chế chính
thức phản ánh động lực và những hành động của các thành viên trong xã hội, vì vậy, để
hiểu biết được thể chế chính thức đòi hỏi phải có sựu hiểu biết logic dựa trên nền tảng
từ các thể chế phi chính thức (North, 1990).
2.1.1. Một số thể chế chính thức
Có 3 loại thể chế chính thức rất quan trọng đối với nhà quản trị đó là: thể chế
điều tiết, thể chế chính trị và thể chế kinh tế. Như một tổng thể, ba thể chế này tạo
thành và xác định trình tự trong tiến trình kinh doanh. Zucker quan điểm rằng ―các thể
chế thường ở trạng thái liên kết‖, mỗi thể chế được ban hành chủ yếu bởi chính phủ
nhằm kiểm soát việc tuân thủ các quy tắc.
2.1.1.1. Thể chế điều tiết
hội mà nhấn mạnh đến sự phụ thuộc qua lại giữa con người với nhau và tầm quan trọng
của tập thể chứ không phải là của từng cá nhân riêng lẻ. Về mặt triết học chủ nghĩa tập
thể coi trọng cái tổng thể quan trọng hơn tổng tất cả những cái riêng lẽ.
Không những thế, chủ nghĩa tập thể còn phản ánh mức độ giàu có của dân cư
trong sự bình đẳng, gắn kết giữa các đơn vị trong xã hội. Chủ nghĩa tập thể định hình
cách mà các thể chế thúc đẩy hoặc kìm hãm lợi ích của tổ chức, cá nhân cụ thể liên
quan đến lợi ích của toàn xã hội (Gelfand, Bhawuk, Nishii, & Bechtold, 2004; Triandis,
1995). Nghĩa là vừa đảm bảo lợi ích chung nhưng vẫn phù hợp với hoàn cảnh mỗi cá
nhân.
Ngược lại, với chủ nghĩa tập thể là chủ nghĩa cá nhân có xu hướng coi trọng và
ưu tiên sự độc lập, tự chủ của con người. Những người theo chủ nghĩa cá nhân chủ
trương không hạn chế mục đích và ham muốn của mình. Họ phản đối sự can thiệp từ
bên ngoài lên sự lựa chọn của mình - cho dù sự can thiệp đó là từ xã hội, nhà nước,
hoặc bất kỳ một thể chế nào khác. Đặc điểm của thể chế điều tiết và thể chế chính trị
phụ thuộc vào mức độ mà xã hội ưu tiên quyền lợi và sự tham gia của cá nhân vào
chính phủ cũng như nhấn mạnh về lợi ích tập thể so với lợi ích cá nhân.
2.1.2.2. Định hướng tương lai.
Định hướng tương lai phản ánh mức độ mà các kết quả dài hạn được nhấn mạnh
hơn là các kết quả ngắn hạn như việc lập kế hoạch và đầu tư hướng trực tiếp đến kết
6
quả trong tương lai. Trong dự án GLOBE khi nghiên cứu sự khác biệt về văn hóa và tác
động của chúng đến quản lý kinh doanh, các nhà nghiên cứu xác định một nền văn hóa
định hướng tương lai là sự hy sinh những thoã mãn trong ngắn hạn để đạt được thành
công lâu dài và thịnh vượng trong tương lai. Ví dụ như các cá nhân tổ chức từ bỏ việc
chi tiêu ở hiện tại để tiết kiệm cho tương lai. Lần lượt, vốn tích luỹ cung cấp phương
tiện tài chính để đầu tư vào các cơ hội tăng trưởng trong dài hạn, vì vậy định hướng
tương lai có thể ảnh hưởng đến cả cung và cầu vốn, từ đó định hình các đặc điểm của
thể chế kinh tế quản trị vốn (Feldstein, 1983).
2.1.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
ngược trong dòng vốn này không chỉ tác động trực tiếp lên nhu cầu tài trợ bên ngoài,
mà còn ảnh hưởng đến đầu tư và phát triển (IMF 2010). FDI ưu việt hơn so với vay nợ
và đầu tư ngắn hạn - một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng kinh
tế tại các nước đang phát triển do tỷ lệ vay nợ ngắn hạn quá cao trong khi vốn FDI thì
chỉ chiếm tỷ trọng thấp.
Thập kỉ vừa qua đã chứng kiến một sự gia tăng đáng kinh ngạc của dòng FDI
chảy vào các quốc gia có thu nhập thấp. Sự dấy lên của dòng vốn đầu vào được giải
thích là do tính thanh khoản toàn cầu phong phú và sự gia tăng trong giá cả hàng hóa,
kết hợp với nền kinh tế ngày càng phát triển cùng những cải cách ở thị trường phương
Đông. Tuy nhiên, hệ quả của suy thoái tài chính toàn cầu đã làm thay đổi hoàn toàn cục
diện trên. Nguồn vốn FDI thu hẹp lại đáng kể, trong khi sự căng thẳng của điều kiện tín
dụng toàn cầu thì không ngừng kìm hãm khả năng tài trợ của các tổ chức đa quốc gia và
làm gia tăng e ngại rủi ro. Khôi phục kinh tế ở các nước phát triển được trông chờ sẽ rất
chậm chạp vì tính thanh khoản toàn cầu giảm và ít phong phú hơn trong những năm sắp
tới. Cạnh tranh giữa những nước đang phát triển để thu hút dòng vốn FDI sẽ trở nên
khốc liệt hơn so với những năm trước đó.
Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để có thể thu hút FDI ở các nước đang phát
triển, mới nổi và cả những nước phát triển? Phải chăng là những thay đổi trong pháp
luật hoặc những yếu tố về kinh tế, chính trị sẽ tạo điều kiện hấp dẫn FDI hơn? Để trả lời
các câu hỏi đó, nhiều bài nghiên cứu và phân tích đã được các chuyên gia tài chính
cũng như các tổ chức kinh tế thế giới lớn như World Bank, IMF đề xuất. Hầu hết các
nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đều cho thấy rằng không chỉ những nhân tố kinh
tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, dự trữ ròng…tác động đến FDI mà còn cả những yếu tố
về thể chế chính trị như tham nhũng, tự do dân chủ và những yếu tố liên quan đến thể
8
chế điều tiết như môi trường đầu tư, chính sách của chính phủ, các rào cản xuất nhập
khẩu…tất cả đều dẫn truyền mạnh mẽ đến dòng vốn FDI đổ vào theo những cách khác
nhau
Trước hết là những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động của thể chế kinh
của nhà đầu tư khi đứng trước các cơ hội tìm kiếm lợi nhuận.
Song yếu tố thể chế chính trị cũng có những tác động đáng kể trong việc thu hút
dòng FDI đổ vào. Salter và Niswander (1995) dựa trên dữ liệu 29 nước, kết hợp với mô
hình Gray 1988 tìm thấy rằng yếu tố về tôn giáo của một quốc gia có những tác động
đáng kể đến dòng vốn FDI. Một cách tổng quát, các nước có sự điều hành tốt của chính
phủ có xu hướng thu hút nhiều FDI hơn bởi vì nếu điều hành không tốt thì việc đầu tư
sẽ không được bảo hộ (Globerman & Shapiro, 2003) và việc điều hành yếu kém sẽ làm
tăng chi phí và sự bất ổn (Cuervo-Cazurra, 2008). Thông qua một số câu hỏi khảo sát
52 Giám đốc điều hành của các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Thổ Nhĩ Kỳ
trong năm 2006, Devrim Dumludag (2009) kết luận các yếu tố như các thể chế, ổn định
kinh tế - xã hội là nhân tố giải thích hành vi của dòng vốn FDI ở quốc gia này.
Tại Nga, Mats Nilsson và Patrik Soderholm (2002) khảo sát 32 công ty lâm
nghiệp ở Tây Âu có ảnh hưởng, kết quả cho thấy mặc dù Nga có tài nguyên rừng rộng
lớn nhưng một số yếu tố về thể chế và hệ thống pháp luật không rõ ràng làm họ dè dặt
trong đầu tư. Kostova và Roth (2002) dựa trên bộ dữ liệu gồm 104 công ty con trên 10
quốc gia khác nhau để đưa ra hai tiêu chí mà các công ty đa quốc gia sẽ xem xét khi
đầu tư vào một quốc gia nào đó là: chính sách thể chế của quốc gia này và mối quan hệ
giữa công ty đa quốc gia với quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư. Nghiên cứu của Zulkefly
Abdul Karim (2011) hồi quy bằng mô hình ARDL trên mẫu dữ liệu từ năm 1984 đến
2009 của Malaysia cho rằng việc cung cấp và duy trì chính sách đầu tư tốt là một đóng
góp tích cực trong thu hút FDI giúp tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, một vài phân tích
cũng cho rằng sự điều hành tốt của chính phủ cũng giúp thu hút FDI (Shleifer &Vishny,
1998; World Bank, 2002;Globerman & Shapiro, 2002; Globerman & Shapiro, 2003;
Globerman et al, 2004; La Porta et al, 1997, 1998; Gani, 2007). Đồng thời, một chính
sách vĩ mô đúng đắn có thể tạo ra một sự kích thích chung cho hiệu ứng lan tỏa FDI
đến đầu tư nội địa thông qua việc tăng sản phẩm biên của những cuộc đầu tư mới và tạo
ra môi trường khả dụng cho quá trình truyền bá công nghệ (Mody và Murshid, 2005).
FDI chỉ có tác động lên tăng trưởng khi các nước có lạm phát thấp – ngụ ý sự ổn định
của nền kinh tế vĩ mô (Norris, Honda, Amina và Verdier 2010).
Tiếp đến, nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc bảo hộ quyền sở hữu yếu kém ở
mới nổi, như Brazil, Nga, Ấn độ, và Trung Quốc (được gọi chung là nước BRIC;
O’Neill, 2001), và một vài nước đang phát triển nhưng chậm hơn gồm Nigeria,
Slovenia, và Romania. Sử dụng tổng cộng có 450 quan sát quốc gia-năm (nghĩa là dữ
liệu có 9 năm) bài nghiên cứu tiến hành phương pháp đo lường mới và hồi quy dữ liệu
bảng cho ba loại hình thể chế chính thức quan trọng, giữ vai trò khác nhau đối với thu
11
hút dòng vốn FDI. Đây là nghiên cứu đầu tiên giải thích về mặt lý thuyết lẫn thực
nghiệm cơ chế truyền dẫn của các thể chế phi chính thức lên thể chế chính thức và từ
thể chế chính thức đến FDI.
Như vậy, thông qua các nghiên cứu này đã giúp các nhà điều hành chính sách có
nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tiếp cận để đạt được mục tiêu thu hút FDI của quốc
gia.
2.3. Mối quan hệ giữa thể chế phi chính thức và thể chế chính thức tới dòng vốn
FDI
2.3.1. Mối quan hệ giữa thể chế phi chính thức và dòng vốn FDI
2.3.1.1. Chủ nghĩa tập thể có mối quan hệ đồng biến với việc kiểm soát hoạt
động của các tổ chức kinh doanh trong một quốc gia của thể chế
điều tiết
Theo Zucker (1987), trong một xã hội các thể chế đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong nhiều vấn đề như tạo thành và phân phối của cải, sự nhàn rỗi, địa vị xã hội
và việc sử dụng các nguồn lực. Chính vì vậy, mà thể chế điều tiết tồn tại để xây dựng
và thiết lập các nguyên tắc kiểm soát và điều khiển hoạt động của các tổ chức kinh
doanh. Ví dụ như các nhà chức trách thông qua việc ban hành các quy định để giám sát
hoạt động này trong khi đó lại không can thiệp đối với hành động khác nhằm thể hiện
mục tiêu, sự quan tâm và ưu tiên của họ cho lĩnh vực nào (Hillman & Keim, 1995).
Bằng cách này các nhà chức trách có thể sử dụng thể chế điều tiết để kiểm soát một số
nguồn lực quốc gia.
Chủ nghĩa tập thể tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thể chế điều tiết nhằm
kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức trong nước. Xã hội tập thể thường nỗ lực
thể chế điều tiết sẽ vững mạnh hơn trong một xã hội với nền văn hoá tập thể so với nền
văn hoá cá nhân.
2.3.1.2. Chủ nghĩa tập thể có mối quan hệ nghịch biến với thể chế chính trị
dân chủ.
―Ăn sâu vào nền văn hoá dân tộc‖, các thể chế chính trị giúp định hình sự thay
đổi thể chế trong tương lai. Cụ thể, các thể chế chính trị đưa ra một khuôn khổ gây ảnh
hưởng đến sự thay đổi và phát triển của các thể chế khác bằng việc tác động đến nhận
thức các thành viên trong xã hội về những thay đổi có thể xảy ra, mức độ cần thiết của
chúng và làm thế nào để chúng được thông qua (DiMaggio, 1998). Các thể chế chính trị
13
cũng phân phối quyền lực trong một xã hội vì hầu như nó chỉ đại diện cho lợi ích của
những người cầm quyền. Như luật lệ bầu cử, các quy định pháp luật và nội dung của
các điều luật không chỉ xác lập quyền lực của các chính trị gia mà còn của mỗi công
dân. Ví dụ, xây dựng luật pháp nhằm xác định quyền chính trị và tự do của công dân,
hơn nữa theo Matten & Crane (2005) cho rằng thể chế chính trị còn vạch ra cách thức
mà các công dân có thể tham gia tích cực vào xây dựng thể chế.
Trong xã hội chủ nghĩa cá nhân, mỗi cá nhân được xem là tế bào chủ yếu và
quan trọng nhất. Thay vì tuân theo các quy định của chính phủ, họ thường có xu hướng
ủng hộ ―quyền tự chủ, độc lập, tự do‖ và hầu như không phụ thuộc vào chính quyền.
Như vậy, xã hội theo chủ nghĩa cá nhân thường chú trọng, quan tâm nhiều hơn vào các
cơ hội để các cá nhân tham gia vào tiến trình chính trị. Thật vậy, Gelfand, Triandis &
Chan (1996) nhận ra rằng giá trị cá nhân phần lớn mâu thuẫn với thể chế chính trị
chuyên quyền mà thuần hoá lợi ích cá nhân và yêu cầu cao về sự bằng lòng và phục
tùng cho nhà nước. Do đó, tính dân chủ của mỗi cá nhân sẽ bị lu mờ, phải bỏ đi những
lợi ích cá nhân để phục tùng cho những mục tiêu chung. Vì vậy, thể chế chuyên quyền
khó tồn tại trong một xã hội mang tính cá nhân mạnh mẽ. Ngược lại, sự tham gia mạnh
mẽ của một công dân trong tiến trình chính trị phần nào mâu thuẫn với bản chất của xã
hội tập thể - nơi nhấn mạnh lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Thêm vào đó,
những cá nhân theo chủ nghĩa tập thể hầu như có cái nhìn rộng lượng đối với những ý
Gali (1992) thì khi tăng cung tiền, lãi suất tất nhiên giảm mà một sự giảm trong lãi suất
sẽ làm giảm chi phí sử dụng vốn và làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt,
qua đó khuyến khích đầu tư (Romer,1992). Mặc khác, khuynh hướng đánh giá và phản
ứng lại các ưu đãi đầu tư phụ thuộc một phần vào mức độ mà xã hội chú trọng đến kết
quả trong dài hạn.
Ngoài chính sách tiền tệ thì định hướng tương lai cũng được phản ánh rõ trong
chính sách tài khóa. Khi nguồn vốn hữu dụng giảm (ví dụ, do suy thoái kinh tế), định
hướng tương lai của xã hội có khả năng đánh giá thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn.
Thâm hụt ngân sách có thể khiến cho các chính phủ bù đắp bằng cách bơm tiền nhiều
hơn vào khu vực tư nhân hơn là thông qua thuế. Tuy nhiên, giảm thuế cũng cho phép
các cá nhân và tổ chức tăng lợi nhuận giữ lại và có thể tái đầu tư nhiều hơn từ các
khoản lợi nhuận này nhằm tăng nguồn vốn khả dụng. Thông thường các chính phủ phải
15
vay nợ để trang trải các khoản thâm hụt trong ngân sách. Khi vay trong nước (ví dụ, từ
các cá nhân và các tổ chức địa phương), họ thường phân bổ một phần vốn này cho khu
vực tư nhân (Feldstein, 1983; Fischer, 1993). Đồng thời, thông qua các khoản chi cho
các đơn vị trong nước, chính phủ đã tạo một nguồn cung ổn định, có tính thanh khoản
trên thị trường. Ngoài ra, chính phủ đôi khi tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng vay nợ
nước ngoài.
Không những thế, định hướng tương lai của xã hội có khả năng đánh giá hiệu
quả của các thể chế kinh tế, thông qua đó thúc đẩy chính sách tài khóa hiệu quả hơn,
bởi vì chúng tạo điều kiện cho các khoản vốn đầu tư bằng cách đảm bảo rằng các cá
nhân, tổ chức có thể tiếp cận với các nguồn lực tài chính cần thiết để tài trợ cho nhu cầu
đầu tư. Thật vậy, Brodbeck và cộng sự (2002) nhận thấy rằng định hướng tương lai của
một xã hội đánh giá cao này những cơ hội tạo ra các nguồn vốn đầu tư cần thiết mà ưu
tiên cho việc tăng trưởng, phát triển kinh tế và các kết quả trong dài hạn. Về bản chất,
các khoản đầu tư khá tốn kém và có tầm nhìn xa, chính vì thế mà nguồn cung cấp vốn
sẵn có là cần thiết để tài trợ cho chúng.
Sau khi xem xét tác động của các thể chế phi chính thức lên các thể chế chính