Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới ở nước ta trong thời gian qua đã thu được những bước
đầu quan trọng. Việt Nam không những đã vượt qua được sự khủng hoảng
triền miên trong thập kỷ 80 mà còn đạt được những thành tựu to lớn trong
phát triển kinh tế xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân
khoảng 6, 94% sau hơn 20 năm đổi mới từ 1986-2008. Công nghiệp giữ nhịp
độ tăng giá trị sản xuất hàng năm 13, 5%, lạm phát được đẩy lùi, đời sống của
đại bộ phận nhân dân được cải thiện về mặt vật chất lẫn tinh thần.
Có được thành tựu kinh tế đáng ghi nhận này, là nhờ phần đóng góp lớn
của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên vào những năm trở lại đây,
do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ đã xẩy ra ở một số nước trong
khu vực. Cộng với mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước
ngoài ở các nước như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam có phần gảim thiểu về số lượng và chất lượng. Do
đó đã ảnh hưỏng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế xã hội.
Trước tình hình đó, vấn đề chúng ta phải có sự nhìn nhận và đánh giá
đúng đắn về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua, để thấy được
những tác động tiêu cực hay tích cực đối với đất nước. Trên cơ sở đó đề ra
những giải pháp cụ thể, kịp thời nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Việt Nam trong những năm tới, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược
mà đảng và nhà nước ta đã đề ra: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công
nghiệp phát triển.
Để nhận rõ hơn vấn đề này, Em chọn nghiên cứu đề tài: “Một số vấn đề
về huy động vốn FDI vào Việt Nam thực trạng và giải pháp”
Vì khả năng còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót,
Em rất mong được sự góp ý của các thầy các cô để bài viết này được hoàn
thiện hơn.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sản phẩm, hợp đồng mua thiết bị trả chậm…. Lợi dụng sơ hở này mà một số
nhà đầu tư nước ngoài đã trốn sự quản lý của nhà nước. Tuy vậy hợp đồng
hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư nước ngoài dễ thực hiện và có ưu htế
lớn trong việc phối hợp sản phẩm. Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi phải có
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau. Đây
cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần, xu
hướng của sự phân công lao động chuyên môn hoá sản xuấu trên phạm vi
quốc tế.
2.2. Doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp lien doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiều bên
nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng
hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi do theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp lien
doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách
pháp nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các
nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm khoảng
65% trong tổng ba hình thức đầu tư trong đó thì hình thức hợp tác kinh doanh
chiếm khoảng 17%, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm khoảng 18%.
Thông qua hợp tác lien doanh với các đối tác của Việt Nam, các nhà đầu
tư nước ngoài tranh thủ được sự hỗ trợ kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam
trên thị trường mà họ chua quên biết trong quá trình làm ăn của họ tại Việt
Nam. Mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất trắc lên các
nhà đầu tư nước ngoài không muốn gánh chịu rủi ro mà muốn các đối tác Việt
Nam chia sẻ với họ nếu có. Lien doanh với một đối tác ở bản địa, các nhà đầu
tư nước ngoài yên tâm hơn trong kinh doanh và họ đã có một người bạn đồng
hành.
Những năm gần đây, xu hướng của các nhà đầu tư nước ngoài giảm sự
quan tâm đến hình thức này và dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài lại có xu
hướng tăng lên. Đó là do sau thời gian tiếp xúc với thị trường Việt Nam, các
+ Các chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi do tiền tệ ở nước tiếp
nhận đầu tư, yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
các nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản địa bị nâng cao hay bị hạ thấp đều ảnh hưởng
xấu đến hoạt động xuất nhập khẩu.
+ Chính sách thương nghiệp, yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn
đề đầu tư trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu. Mức thuế quan cũng ảnh hưởng
tới giá hàng xuất khẩu. Hạn mức quota xuất nhập khẩu thấp và các hang rào
thương mại khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể không kích
thích hấp dẫn tới các nhà đầu tư nước ngoài. Chính yếu tố này làm phức tạp
them cho thủ tục xuất khẩu và bị xếp vào hang rào xuất khẩu khác.
+ Chính sách thuế và ưu đãi, chính sách này thường được áp dụng để thu
hút các nhà đầu tư nước ngoài.
+ Chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách này mà ổn định thì sẽ góp phần
tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của nhà đầu tư bản xứ lẫn nước
ngoài. Nếu không có biện pháp tích cực chống lạm phát thì có thể các nhà đầu
tư thích bỏ vốn vào nước này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thì khó có
thể tiên định đước các kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
3.1.2. Luật đầu tư.
Yếu tố này có thể làm hạn chế cản trở hoạt động của các công ty nước
ngoài trên thị trường bản địa luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà các
nhà bản xứ. Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các điều
kiện giống như các nhà đầu tư bản xứ.
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng khác.
Yếu tố hang đầu là thị trường bản địa như: quy mô, dung lượng của thị
trường, sức mua của dân bản xứ và khả năng mở rộng quy mô đầu tư.
Đặc điẻm của thị trường nhân lực, công nhân lao động là mối quan tâm
hàng đầu ở đây, đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốn vào các
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thiếu hay bị yếu kém thì cũng ảnh hưởng và làm giảm sự hấp dẫn của các nhà
đầu tư.
II. ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIÉP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ CỦA NƯỚC NHẬN ĐẦU TƯ
1. Những ảnh hưởng tích cực của FDI
1.1. Là nguồn hỗ trợ cho phát triển
FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp cho việc thiếu hụt
về vốn ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém
phát triển.
Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào các “vòng luẩn quẩn” đó là:
Thu nhập thấp dẫn tới tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi thu nhập lại là
thấp. Tình trạng luẩn quẩn này chính là điểm nút khó khăn mà các nước này
phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo kinh tế hiện đại. Nhiều nước lâm vào
tình trạng trì trệ của nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tìm ra một điểm đột
phá chính xá. Một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này.
Trở ngại lớn nhất để thực hiện điều đó đối với các nước kém phát triển là
vốn đầu tư và kỹ thuật. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong
nước, đổi mới kỹ thuật công nghệ tăng năng suất lao động…. Từ đó tạo tiền
đề tăng thu nhập, tăng tích luỹ cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì
hậu quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do
đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần đột phá vào cái “vòng
luẩn quẩn” đo. Đặc bệt là FDI nguồn quan trọng đẻ khắc phục tình trạng thiếu
vốn mà không gây nợ cho các nước nhận đầu tư. Không như vốn vay nước
nhận đầu tư chỉ nhận một phần lợi nhuận thích đáng khi công trình đầu tư có
hiệu quả. Hơn nữa nguồn vốn này lợi thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ thời hạn
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thập kỷ 60 Hàn Quốc còn kém về lắp giáp xe hơi, nhưng nhờ chuyển nhận
công nghệ Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số nước công nghiệp phát triển khác mà
năm 1993 họ đã trở thành nước sản xuất ôtô lớn thứ 7 trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay, trên thế giới có nhiều công ty của nhiều quốc
gia khác nhau có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài và thực hiện chuyển giao công
nghệ cho nước nào tiếp nhận đầu tư. Thì đây là cơ hội cho các nước đang phát
triển có thể tiếp thu được các công nghệ thuận lợi nhất. Nhưng không phải các
nước đang phát triển được “đi xe miễn phí” mà họ còn phải trả một khoản
“học phí” không nhỏ trong việc chuyển giao tiếp nhận công nghệ này.
1.3. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển
muốn thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh kinh tế. Đây cũng
là điểm nút để các nước đang phát triển thoát ra khỏi cái “vòng luẩn quẩn”
của sự nghèo đói. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các
quốc gia nào thực hiện chiến lược kinh tế mở cửa đối với bên ngoài, biết tranh
thủ và phát huy tác dụng vủa các nhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân
tố bên trong thì quốc gia đó tạo được tốc độ tăng trưởng cao.
Mức độ tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng
đầu tư, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng
suất lao động cũng tăng theo. Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã góp phần tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước đang phát triển.
Nó là tiền đề là chỗ dựa để khai thác những tiềm năng to lớn ở trong nước
nhằm phát triển nền kinh tế.
1.4. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ đòi hỏi của bản thân sự phát
triển nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống
kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những bộ phận quan trọng của
3 Mexico 32, 1%
4 Agentina 24, 9%
5 Hàn Quốc 24, 7%
6 Đài Loan 22, 7%
Nguồn: Bộ kế hoặch và đầu tư
Cùng với việc tăng khả năng xuất khẩu hang hoá, đầu tư trực tiếp nước
ngoài còn mở rộng thị truờng cả trong nước và ngoài nước. Đa số các dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có phương án bao tiêu sản phẩm. Đây gọi là
hiện tượng “hai chiều” đang trở nên khá phổ biến ở nhiều nước đang phát
triển hiện nay.
Về mặt xã hội, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm việc
mới, thu hút một khối lượng đáng kể người lao động ở nước nhận đầu tư vào
làm việc tại các đơn vị của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều đó góp phần
đáng kể vào việc giảm bớt nạn thất nghiệp vốn là một tình trạng nan giải của
nhiều quốc gia. Đặc biệt là với các nước đang phát triển, nợi có lực lượng lao
động rất phong phú nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được. Thì
đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là chìa khoá quan trọng để giải quyết vấn
đề trên đây. Vì đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra được các điều kiện về vốn
kỹ thuật, cho phép khai thác và sử dụng các tiềm năng về lao động. Ở một số
nước đang phát triển số người làm việc trong các xí nghiệp chi nhánh nước
ngoài so với tổng người có việc làm đạt tỉ lệ tương đối cao như sau:
Bảng 2: Tỷ lệ số nguời làm việc trong các doanh nghiệp có vốn FDI
so với tổng số lao động.
Stt Tên nước Tỷ lệ
1 Singapore 54, 6%
2 Brazin 23%
3 Mexico 21%
Nguồn Bộ Kế Hoặch và Đầu Tư
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
không hữu hiệu.
+ Chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của các
nước nhận đầu tư khó có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Thực tiễn cho thấy, tình hình chuyển giao công nghệ của các nước công
nghiệp sang các nuớc đang phát triển đang còn là vấn đề gây cấn. Ví dụ theo
báo cáo của ngân hang phát triển Mỹ thì 70% của các nước Mỹ La Tinh nhập
khẩu từ các nước cơ bản phát triển là công nghệ lạc hậu. Cũng tương tự, các
trường hợp chuyển giao công nghệ ASEAN lúc đầu chưa có kinh nghiệm
kiểm tra nên đã bị nhiều thiệt thòi.
Tuy nhiên, mặt trái này cũng một phần phụ thuộc vào chính sách công
nghệ của các nước nhận đầu tư. Chẳng hạn như Mexico có 1800 nhà máy lắp
giáp sản xuất của các công ty xuyên quốc gia Mỹ. Một số nhà máy này được
chuyển sang Mexico để tránh những quy định chặt chẽ về môi trường ở Mỹ
và lợi dụng những khe hở của luạt môi trường ở Mexico.
2.2. Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được chủ yếu do các công ty xuyên
quốc gia, đã làm nảy sinh nỗi lo rằng các công ty này sẽ tăng sự phụ thuộc
của nền kinh tế của nước nhận đầu tư vào vốn kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ
hang hoá của các công ty xuyên quốc gia. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có
đóng góp phần vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và
thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư. Đồng thời cũng
thong qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nước ngoài để
chúng ta có thể tiêu thụ hang hoá vì các công ty này nắm hầu hết các kênh
tiêu thụ hang hoá từ nươc này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào
đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các nước
phát triển càng lớn. Và nếu nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào đầu tư trực tiếp
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nước ngoài thì sự phát triển của nó chỉ là phồn vinh giả tạo, sự phồn vinh đó
có được bằng cái của người khác.
thậm chí đôi khi còn là những hang hoá có hại cho sức khoẻ con người và gây
ô nhiễm môi trường. Ví dụ như khuyến khích dung thuốc lá, thuốc trừ sâu,
nước ngọt có gat hay thế nước hoa quả tươi, chất tẩy thay thế xà phòng…
2.4. Những mặt trái khác.
Trong một số các nhà đầu tư không phải không có trường hợp hoạt động
tình báo, gây rối an ninh chính trị. Thông qua nhiều thủ đoạn khác nhau theo
kiểu “diễn biến hoà bình”. Có thể nói rằng sự tấn công của các thế lực thù
địch nhằm phá hoại ổn định về chính trị của nước nhận đầu tư luôn diễn ra
với mọi hình thức tinh vi và xảo quyệt. Trường hợp chính phủ Xanvado
Angiende ở Chile bị giật dây lật đổ năm 1973 là một ví dụ về sự can thiệp của
các công ty xuyên quốc gia ITT (công ty viễn thông và điện tín quốc tế) và
chính phủ Mỹ can thiệp công việc nội bộ của Chile.
Mặt khác, mục đích của các nhà đầu tư kiếm lời nên họ chỉ đầu tư vào
những nơi có lợi nhất. Vì vậy khi lượng vốn nước ngoài đã tăng them sự mất
cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị. Sự mất cân đối này có thể
gây ra mất ổn định về chính trị. Hoặc FDI cũng có thể gây ảnh hưởng xấu về
mặt xã hội. Những người dân bản xứ làm thuê cho các nhà đầu tư có thể bị
mua chuộc biến chất, thay đổi quan điểm, lối sống và nguy cơ hơn là họ có
thể phản bội tổ quốc. Các tệ nạn xã hội cũng có thể tăng cường như mại dâm,
ma tuý…
Những mặt trái của FDI không có nghĩa là phủ nhận những lợi thế cơ
bản của nó mà chúng ta chỉ lưu ý rằng không nên quá hi vọng vào FDI và cần
phải có những chính sách, biện pháp quản lý hữu hiệu để phát huy những mặt
tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì mức độ thiệt hại của
FDI gây ra cho mước chủ nhà nhiều hay ít phụ thuộc vào chính sách, năng
lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư.
16