Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Trong thời đại ngày nay lạm phát là vấn đề trung tâm và nhạy cảm
hàng đầu của đời sống kinh tế - xã hội cả ở cấp quốc gia và quốc tế . Đặc biệt
lạm phát là bạn đồng hành của nền kinh tế thị trờng cho nên muốn phát triển
nền kinh tế không thể không đi vào việc nghiên cứu vấn đề lạm phát . Lạm
phát là kết quả tổng hoà của các chính sách kinh tế xã hội vĩ mô đã có tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp , nhanh hoặc chậm ,tích cực hay tiêu cực đến
các khía cạnh hoạt động của chính phủ ,doanh nghiệp và cá nhân , đến các
quan hệ kinh tế đối nội và đối ngoại của quốc gia . Mặt khác ,thực tiễn lạm
phát thế giới luôn diễn tiến không ngừng với nhiều đặc tính mới mẻ cha đợc
phân tích thấu đáo . Vì vậy nghiên cứu lạm phát luôn luôn có ý nghiã thời sự
cả về lý thuyết lẫn thực tiễn.
ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng , hiện tợng lạm phát xảy ra là điều
khó tránh khỏi .Bởi lẽ trong thời kỳ quá độ này cơ chế cũ bị phá vỡ nhng cha
xoá bỏ hết đợc ngay , còn cơ chế mới bắt đầu hình thành nhng lại cha hoàn
chỉnh .Vì thế việc tìm kiếm một giải pháp để chống lạm phát và đi đến kiểm
soát lạm phát phù hợp với thực tế Việt Nam đồng thời thích ứng với giai đoạn
quá độ này đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc , lựa chọn một cách kỹ càng .
Với momg muốn tìm hiểu thêm về vấn đề lạm phát cũng nh những
biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát , em đã lựa chọn : Lạm phát và những
giải pháp kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế nớc ta hiện nay để làm
đề tài cho đề án môn học lý thuyết tài chính tiền tệ .
Trong quá trình nghiên cứu , do tiếp cận với nhiều nguồn tài liêụ khác
nhau , nên không tránh khỏi những hạn chế độ về độ chính xác . Em rất
mong nhận đợc sự góp ý của cô giáo và các bạn.
Em xin chân thành cản ơn cô giáo Cao Thị ý Nhi đã giúp đỡ em thực
hiện đề án này.
Trang :1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hàng trong tổng chi tiêu cho tiêu dùng của thời kỳ có lạm phát.
Chỉ số giá tiêu dùng đợc tính nh sau :
Những thay đổi của giá cả đợc tính với các mặt hàng khác .
Trong đó : CPI
t
: giá trị của CPI trong năm t.
P
t
gạo: giá gạo trong năm t.
P
o
gạo: giá gạo trong năm gốc.
- Chỉ số thứ hai cũng thờng đợc sử dụng là chỉ số giá cả sản xuất,
đây là chỉ số giá bán buôn PPI . PPI đợc xây dựng để tính giá cả trong lần
bán đầu tiên do ngời sản xuất ấn định . Chỉ số này rất có ích vì nó đợc tính
chi tiết sát với những thay đổi của thực tế .
- Ngoài hai chỉ số nói trên , chỉ số giảm phát GNP cũng đợc sử dụng .
Chỉ số giảm phát GNP là chỉ số giá cả cho toàn bộ GNP , nó đợc xác định nh
sau :
Chỉ số giảm phát GNP =GDP danh nghĩa / GDP thực tế
Chí số này toàn diện hơn CPI vì nó bao hàm giá của tất cả các loại hàng hoá
và dịch vụ trong GNP.
1.1.2. Các quan điểm giải thích về lạm phát.
- Quan điểm trữ kim :
Quan điểm này cho rằng sẽ xảy ra hiện tợng lạm phát nếu số lợng tiền
giấy phát hành ra lớn hơn lợng vàng đảm bảo trong kho . Tuy nhiên trong tr-
ờng hợp lợng vàng trong kho lớn hơn lợng tiền giấy phát hành nhiều khi vẫn
xảy ra lạm phát , quan điểm này đã không giải thích đợc hiện tợng đó .
- Quan điểm tĩnh về lạm phát :
Tiêu biểu cho quan điểm này là nhà kinh tế học Hoa Kỳ Iring Fisher , ông
nghiệp sẽ hoạt động hết công suất vì họ thấy rằng càng mở rộng sản xuất
Trang :4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
càng lãi khi đó chắc chắn sẽ dẫn đến một số kênh tắc nghẽn trong lu thông
nh thiếu năng lợng , thiếu nguyên liệu , thiếu lao động
Trong trờng hợp này cung tiền tệ tiếp tục tăng cho đến khi sản lợng
không thể tăng đợc nữa khi đó buộc giá cả phải tăng thêm và xảy ra lạm phát
. Theo Keynes lạm phát tuyệt đối trong giai đoạn toàn dụng vẫn có ích , vì nó
làm hng thịnh nền kinh tế, cứu vãn suy thoái , thất nghiệp .
1.2. Phân loại lạm phát.
1.2.1.Căn cứ vào tốc độ lạm phát ngời ta chia lạm phát làm ba loại.
- Lạm phát vừa phải : loại lạm phát này xảy ra khi giá cả tăng chậm và
tỉ lệ lạm phát dới 10% một năm . Đây là mức lạm phát mà nền kinh tế
chấp nhận đợc , với mức lạm phát này , những tác động kém hiệu quả
của nó là không đáng kể. Loại lạm phát này phổ biếnvà tồn tại gần nh
thờng xuyên , một căn bệnh kinh niên cố hữu và đặc trng ở hầu hết
các nền kinh tế thị trờng trên thế giới .
- Lạm phát phi mã : khi tỉ lệ tăng , giá đã bắt đầu tăng đến hai chữ số
mỗi năm . ở mức lạm phát hai chữ số thấp ( 11 , 12 , 13% / năm ) nói
chung những tiêu cực của nó là không đáng kể , nền kinh tế có thể vẫn
chấp nhận đợc . Nhng khi tỉ lệ tăng giá ở mức hai chữ số cao , lạm phát
sẽ trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập vì những tác động tiêu cực
của nó là không nhỏ . Lạm phát hai chữ số trở thành mối đe doạ đến sự
ổn định của nền kinh tế .
- Siêu lạm phát : tuỳ theo quan niệm của các nhà kinh tế , ngoài các lạm
phát trên đây còn có lạm phát ba chữ số . Nhiều ngời coi các loại lạm
phát này là siêu lạm phát vì nó có tỉ lệ lạm phát rất cao và tăng rất
nhanh. Với siêu lạm phát , những tác động tiêu cực của nó đến đời
sống và đến nền kinh tế trở nên nghiêm trọng : kinh tế suy sụp một
cách nhanh chóng , thu nhập thực tế của ngời lao động giảm mạnh .
1
2
p
3
p
1
y
n
y
1
ad
2
ad
3
ad
1
as
2
as
3
as
Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ
Ban đầu nền kinh tế ở điểm 1 ,với sản lợng đạt ở mức sản lợng tự nhiên
Y
n
tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên , mức giá cả P
1
- điểm giao nhau của đờng tổng
cung AS
1
tới mức cân bằng mới tại điểm 3 . Tại đây , mức giá cả đã tăng lên đến P
3
.
Nếu cung tiền tệ vẫn tiếp tục tăng thì sự dịch chuyển của đờng tổng cầu và đ-
ờng tổng cung nh trên lại tiếp tục diễn ra và nền kinh tế đạt tới mức giá cả
ngày càng cao hơn , lạm phát tăng cao.
Trang :7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3.2. Chỉ tiêu công ăn việc làm cao.
Một mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng mà đa số Chính phủ các nớc
theo đuổi cũng thờng gây nên lạm phát , đó là mục tiêu công ăn việc làm cao.
Có hai loại lạm phát là kết quả của chính sách ổn định năng động
nhằm thúc đẩy một mức công ăn việc làm cao , đó là lạm phát chi phí - đẩy
và lạm phát cầu-kéo .
1.3.2.1. Lạm phát do chi phí đẩy.
Lạm phát chi phí đẩy xảy ra do những cú sốc cung tiêu cực hoặc do
kết quả của những cuộc đấu tranh đòi tăng lơng gây ra.
p
p
p
p
p
1
2
1'
3
2'
p
1
ad
mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên những đòi hỏi tăng lơng của công nhân dễ
đợc giới chủ chấp nhận. ảnh hởng của việc tăng lơng ( cũng giống nh ảnh h-
ởng của những cú sốc cung tiêu cực ) làm đờng tổng cung AS
1
dịch chuyển
vào đến AS
2
.
Trang :8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nền kinh tế sẽ chuyển từ điểm 1 đến điểm 1 giao điểm của đờng tổng
cung mới AS
2
và đờng tổng cầu AD
1
. Sản lợng đã giảm xuống dới mức sản l-
ợng tự nhiên Y (Y<Y
n
) và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên, đồng thời mức giá cả tăng lên đến P
1
.Vì mục đích muốn duy trì một
mức công ăn việc làm cao hơn hiện tại , Chính phủ sẽ thực hiện các chính
sách điều chỉnh năng động làm tác động lên tổng cầu , làm tăng tổng cầu ,
lúc này đờng tổng cầu AD
1
dịch chuyển ra AD
2
, nền kinh tế quay trở lại mức
sản lợng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tại điểm cân bằng mới - điểm
Trang :9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dịch chuyển ra đến AD2, nền kinh tế chuyển đến điểm 1 ( giao điểm giữa đ-
ờng tổng cầu mới AD2 và đờng tổng cung ban đầu AS1) . Sản lợng bây giờ
đã đạt đợc tới mức Yt lớn hơn sản lợng tiềm năng và mục tiêu tỷ lệ thất
nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiênđă đạt đợc .
( Tổng sản phẩm )
y
p
( Tổng sản phẩm )
y'
n
y
1
as
as
as
ad
3
2
ad
1
ad
2
3
Lạm phát cầu kéo
2
p
1
p
nguyên liệu nhập khẩu và những nghành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
( nguyên liệu của ngành nayg là sản phẩm của ngành khác ) .
1.3.4. Lạm phát do thâm hụt ngân sách .
Thâm hụt ngân sách cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăng
cung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát cao .
Chính phủ có thể khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nớc
bằng biện pháp phát hành tráI phiếu Chính phủ ra thị trờng tàI chính để vay
vốn trong dân chúng , bù đắp cho phần bị thiếu hụt . Biện pháp này không
làm ảnh hởng đến cơ số tiền tệ và do đó , không tăng cung ứng tiền tệ và
không gây ra lạm phát . Một biện pháp khác Chính phủ có thể sử dụng để bù
đắp cho thâm hụt ngân sách nhà nớc là phát hành tiền . Biện pháp này trực
tiếp làm tăng thêm cơ số tiền tệ , do đó tăng cung ứng tiền , đẩy tổng cầu lên
cao và làm tăng tỷ lệ lạm phát . Tuy nhiên , ở các nớc đang phát triển , do thị
trờng vốn bị hạn chế nên việc phát hành trái phiếu Chính phủ nhằm bù đắp
cho thiếu hụt ngân sách nhà nớc là rất khó thực hiện . Đối với các Quốc gia
này , con đờng duy nhất đối với họ là sử dụng máy in tiền . Vì thế , khi tỷ
lệ thâm hụt ngân sách nhà nớc của các quốc gia đó tăng cao thì tiền tệ cũng
sẽ tăng nhanh và lạm phát tăng . ở các nớc kinh tế phát triển ( nh ở Mỹ ) , thị
trờng vốn phát triển , vì vậy một khối lợng lớn trái phiếu chính phủ có thể đ-
ợc bán ra và nhu cầu trang trải cho thâm hụt ngân sách nhà nớc đợc thực hiện
từ nguồn vốn vay của chính phủ . Tuy nhiên , nếu Chính phủ cứ liên tục phát
hành trái phiếu ra thị trờng , cầu về vốn vay sẽ tăng, do đó , lãi suất sẽ tăng
Trang :11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
cao . Để hạn chế việc tăng lãi suất thị trờng , ngân hàng trung ơng sẽ phải
mua vào các trái phiếu đó , điều này lại làm cho cung tiền tệ tăng.
Do vậy , trong mọi trờng hợp , tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nớc
cao , kéo dài sẽ là nguồn gốc tăng cung ứng tiền và gây ra lạm phát.
1.3.5. Lạm phát do yếu tố tâm lý.
yếu tố tâm lý nhiều khi là nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát .
tăng cao , nếu muốn cho lãi suất thực ổn định , lãi suất danh nghĩa phải tăng
lên cùng với tỷ lệ lạm phát . Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả
mà nền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng.
1.4.2. Lạm phát và thu nhập thực tế.
Trong trờng hợp thu nhập danh nghĩa không đổi , lạm phát xảy ra sẽ
làm giảm thu nhập thực tế của ngời lao động . Với 600.000 đồng tiền lơng
một tháng hiện nay , một công nhân sẽ mua đợc 2 tạ gạo ( với giá gạo 3000
đ/1kg ) . Vào năm sau , nếu tiền lơng của công nhân này không đổi , nhng tỷ
lệ lạm phát trong nền kinh tế vào năm sau tăng thêm 50% so với năm trớc ,
tức là giá gạo đã tăng lên 4500đ/1kg , thì với số tiền lơng nhận đợc trong một
tháng , ngời công nhân này chỉ có thể mua đợc 133,3 kg gạo .
Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thực của những tài sản không có
lãi ( tức tiền mặt ) mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi ,
tức là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi , các khoản lợi tức . Điều đó
xảy ra là do chính sách thuế của nhà nớc đợc tính trên cơ sở của thu nhập
danh nghĩa . Khi lạm phát tăng cao , những ngời đi vay tăng lãi suất danh
nghĩa để bù vào tỷ lệ lạm phát tăng cao , điều đó làm cho số tiền thuế thu
nhập mà ngời có tiền cho vay phải nộp tăng cao ( mặc dù thuế suất vẫn
không tăng ) . Kết quả cuối cùng là thu nhập ròng ( thu nhập sau thuế ) , thực
( sau khi đã loại trừ tác động của lạm phát ) mà ngời cho vay nhận đợc bị
giảm đi .
Trang :13