Lời mở đầu
Từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nớc quyết định chuyển đổi nền kinh tế nớc ta
từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng định hớng Xã Hội Chủ Nghĩa có
sự quản lý của nhà nớc, thì cơ hội và thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp ngày
càng lớn hơn. Để có thể tồn tại trong một môi trờng mà cạnh tranh là một qui luật
phổ biến đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tạo cho mình tiềm lực và thế mạnh để
tham gia và chiến thắng trong cạnh tranh, tồn tại và tiếp tục phát triển. Để giải
quyết những vấn đề đó một trong các nguồn lực đó là vốn. Ngời ta cần đến vốn
ngay từ khi thành lập doanh nghiệp và khi doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản
xuất và phát triển thì vốn là yếu tố quan trọng đầu tiên. Vốn đợc đầu t vào quá
trình sản xuất để tạo ra lợi nhuận tức là làm tăng giá trị cho chủ sở hũ doanh
nghiệp. Do đó công tác huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là một
trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của công tác tài chính doanh nghiệp
trong bất cứ doanh nghiệp nào.
Cơ chế kinh tế mới đã có những tác động tích cực. Các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế đã tăng nhanh cả số lợng lẫn chất lợng. Song do nền kinh
tế nớc ta còn khó khăn, khả năng tích luỹ từ nội bộ còn thấp, trừ một số doanh
nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài là có qui mô lớn, còn
lại các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ chiếm phần lớn trong hệ thống các
doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt nam. Do qui mô nhỏ và các khó khăn của nền
kinh tế cho nên các doanh nghiệp ở nớc ta thờng xuyên bị thiếu vốn để hoạt động
sản xuất kinh doanh, trong khi đó đã xảy ra một nghịch lý là vốn ứ đọng ở các
Ngân hàng thơng mại tới hàng ngàn tỉ đồng. Rõ ràng doanh nghiệp thiếu vốn
không phải do Ngân hàng thiếu vốn mà là do doanh nghiệp cha có các giải pháp
khai thác các nguồn và huy động vốn một cách hợp lý. Do đó, việc tìm ra các giải
pháp huy động vốn cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung
và doanh nghiệp xây lắp nói riêng đã trở nên cấp thiết !
Trong điều kiện nớc ta, với một thị trờng tài chính cha hoàn thiện, cơ chế
chính sách cha đồng bộ, công tác quản lý vốn trong các doanh nghiệp cha đợc
1
thực hiện đầy đủ làm hạn chế khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp,
bộ công ty xây dựng Sông Đà 8 đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
PHần 1 : vốn và điều kiện huy động vốn
1.1. Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.1. Vốn và phân loại vốn.
1.1.1.1. Khái niệm vốn :
Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có
vốn. Trong nền kinh tế thị trờng vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định
tới các bớc tiếp theo của quá trình kinh doanh. Với mọi loại hình doanh nghiệp,
vốn đợc đầu t vào quá trình kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, tức là làm tăng thêm
giá trị của chủ sở hữu doanh nghiệp.
Quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp bắt đầu từ sự kết hợp
các yếu tố đầu vào để sản xuất đầu ra, đầu vào đợc thể hiện ở nhiều yếu tố nhng
tựu chung trong hai yếu tố cơ bản: Sức lao động và t liệu lao động. Để có các yếu
tố đầu vào các doanh nghiệp phải có trong tay một lợng tiền nhất định. Số tiền này
đợc đa vào sản xuất kinh doanh dới các dạng vật chất khác nhau. Do có sự tác
động của lao động vào đối tợng lao động thông qua t liệu lao động, hàng hoá, dịch
vụ đợc tạo ra và đợc tiêu thụ trên thị trờng. Các hình thái vật chất khác nhau lại đ-
ợc chuyển về hình thái ban đầu của nó, đó là tiền. Số tiền thu đợc do tiêu thụ sản
phẩm sử dụng cho nộp thuế, tiêu dùng cá nhân ... phần còn lại tiếp tục đợc chuyển
hoá thành các điều kiện sản xuất trong các chu kì tiếp theo. Nh vậy số tiền ứng ra
ban đầu không những chỉ đợc bảo toàn mà nó còn đợc tăng thêm do hoạt động sản
xuất kinh doanh mang lại. Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trtình tiếp
theo cho sản xuất kinh doanh đợc gọi là vốn. Vốn đợc biểu hiện cả bằng tiền mặt
lẫn giá trị vật t tài sản và hàng hoá của doanh nghiệp. Tiền chỉ đợc coi là vốn khi
bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh, ngợc lại không đợc coi là vốn khi đợc dùng
để mua sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân
và xã hội.
Theo trình bày đó, vốn luôn luôn đợc bảo tồn và tăng trởng . Tuy nhiên điều
đó không có nghĩa là nếu nh các giá trị đầu t vào sản xuất kinh doanh không đợc
3
4
b) Căn cứ vào qui định của pháp luật về điều kiện của vốn để thành lập
doanh nghiệp thì vốn bao gồm: vốn pháp định và vốn điều lệ:
+ Vốn pháp định là vốn tối thiểu phải có của một doanh nghiệp khi thành lập
doanh nghiệp và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp theo quy định
của pháp luật. Số vốn này là bảo đảm trên cơ sở của luật pháp cho hoạt động kinh
doanh của một doanh nghiệp. Qui mô của vốn pháp định tuỳ thuộc vào tính chất
và qui mô của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Vốn điều lệ là loại vốn đợc hình thành theo điều khoản vốn trong điều lệ
của doanh nghiệp.
c) Căn cứ vào tính chất sở hữu đối với khoản vốn sử dụng thì vốn của
doanh nghiệp đợc chia thành vốn chủ sở hữu (vốn cổ phần) và vốn vay nợ.
Hai loại vốn này đợc phân biệt với nhau qua bảng 1.1.1.2:
Vốn vay Vốn cổ phần
1) Ngời tài trợ không phải chủ sở hữu
của doanh nghiệp.
1) Do các chủ sở hữu của doanh nghiệp tài trợ.
2) Phải trả lãi cho các khoản tiền vay. 2) Không phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy
động mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở
hữu.
3) Có thời hạn sử dụng. Hết thời hạn
doanh nghiệp phải hoàn trả nợ cho chủ
nợ hoặc xin gia hạn mới.
3) Không hoàn trả những khoản tiền đã huy
động.
4) Khi huy động doanh nghiệp phải có
bảo đảm (tài sản hoặc tín chấp)
4) Khi huy động không phải có bảo đảm bằng
tài sản.
5) Vốn nợ gồm các khoản cụ thể sau :
đổi trên thị trờng vốn.
1.1.2. Vai trò của vốn đối với hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức đợc thành lập chủ yếu nhằm mục đích kinh
doanh. Đối với doanh nghiệp, vai trò của vốn đợc thể hiện chủ yếu dới những khía
cạnh chính sau đây:
- Trớc hết, vốn là điều kiện cho sự ra đời và tồn tại của doanh nghiệp. Theo
qui định của pháp luật của tất cả các nớc trên thế giới thì điều kiện để thành lập
doanh nghiệp là chủ doanh nghiệp phải có một mức vốn tối thiểu theo quy định
của pháp luật đối với mỗi ngành nghề kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh,
vốn của chủ doanh nghiệp có thể tăng, có thể giảm nhng không đợc giảm xuống d-
ới mức vốn pháp định. Trong trờng hợp vốn của chủ doanh nghiệp giảm xuống dới
mức tối thiểu hoặc là không đủ khả năng thanh toán nợ đến hạn mà chủ sở hữu
không tăng đợc mức vốn chủ sở hữu để đảm bảo mức vốn pháp định hoặc đảm bảo
khả năng thanh toán nợ tới hạn thì doanh nghiệp bị giải thể (lâm vào tình trạng
phá sản).
6
- Thứ hai, vốn là đầu vào không thể thiếu đợc của sản xuất. Trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn đợc sử dụng để trang trải các khoản chi phí
nh mua sắm nguyên vật liệu, trả lơng công nhân, mua sắm trang thiết bị và các chi
phí khác. Kết thúc một chu kì sản xuất, vốn đó lại tiếp tục đợc sử dụng để tái sản
xuất và tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp. Các chu kì vận động này của vốn
đợc thực hiện trong suốt vòng đời của doanh nghiệp.
- Trên góc độ quản trị thì vốn là điều kiện tiền đề để thực hiện các quyết
định kinh doanh mà quan trọng nhất là các quyết định đầu t. Vốn là điều kiện để
đảm bảo cho dự án có thể thực hiện đợc. Mọi quyết định đầu t đều phải dựa trên
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu không thì quyết định đầu t đó rất dễ rơi
vào một trong hai trờng hợp sau: một là, dự án thực hiện sẽ hứa hẹn đem lại hiệu
quả rất tốt nhng doanh nghiệp không thực hiện đợc do vốn đầu t đòi hỏi quá lớn,
doanh nghiệp không có khả năng huy động đợc; hai là, dự án lựa chọn có mức vốn
đầu t quá nhỏ so với tình hình tài chính của doanh nghiệp trong khi đó lại bỏ qua
có thời hạn lớn hơn một năm.
b.1. Vay ngắn hạn.
Vay ngắn hạn là phơng thức huy động vốn quan trọng đối với các doanh
nghiệp. Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức
thời cho doanh nghiệp từ vài ngày cho tới cả năm với lợng vốn theo nhu cầu kinh
doanh của doanh nghiệp.
Vốn vay ngắn hạn đợc huy động theo các phơng thức sau:
Vay theo hạn mức tín dụng
Theo phơng thức này, doanh nghiệp và ngân hàng thoả thuận trớc về hạn mức
tín dụng, tức là ngân hàng cho doanh nghiệp vay trong một hạn mức mà không
phải thế chấp. Trong hạn mức này, doanh nghiệp có thể vay bất cứ lúc nào mà
ngân hàng không cần thẩm định. Hạn mức tín dụng đợc ngân hàng tạo sẵn cho
doanh nghiệp do mối quan hệ kinh tế giữa hai bên, thông thờng hạn mức này mỗi
năm đợc thoả thuận lại một lần tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể.
8
Đây là nguồn vốn có chi phí thấp nhng đôi khi gây ra trục trặc: khi ngân
hàng gặp khó khăn về tài chính hay thanh toán thì công ty phải hoàn trả hoặc
không đợc vay.
Vay theo hợp đồng: Theo hình thức này khi doanh nghiệp có những hợp
đồng về sản xuất gia công cho khách hàng thì ngân hàng có thể cho vay căn cứ
vào các hợp đồng đã đợc ký kết trớc đó.
- Vay có đảm bảo: bao gồm các hình thức sau:
+ Huy động vốn bằng cách bán nợ: Một công ty có thể huy động vốn bằng
cách bán các khoản nợ của mình. Các tổ chức mua nợ thờng là các ngân hàng hoặc
các công ty tài chính. Sau khi việc mua bán đợc hoàn tất, bên mua nợ căn cứ vào
hoá đơn chứng từ để thu hồi nợ và quan hệ kinh tế lúc này là của của ngời nợ và
chủ nợ mới lúc này là bên mua nợ.
+ Huy động vốn vay bằng cách thế chấp các khoản phải thu: Các công ty
trong quá trình hoạt động có thể đem các hoá đơn thu tiền làm vật đảm bảo cho
khoản vay. Số tiền mà các ngân hàng cho vay tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của các
không bị ảnh hởng. Với phơng thức huy động vốn từ lợi nhuận để lại các cổ đông
không bị chia sẻ quyền kiểm soát công ty và họ thể hởng toàn bộ cổ tức tăng thêm
và chênh lệch giá cổ phiếu. Một công ty khi thực hiện phơng thức huy động vốn từ
lợi nhuận để lại, phải đặt ra mục tiêu có một khối lợng lợi nhuận đủ lớn để đáp
ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.Việc tái đầu t có thể thực hiện bằng cách ghi tăng
giá trị sổ sách của cổ phiếu từ đó làm tăng thị giá cổ phiếu hoặc phát hành thêm cổ
phiếu thờng và cổ đông sẽ nhận cổ phiếu thay bằng nhận thu nhập dới dạng cổ tức.
Đối với một doanh nghiệp không phải là một công ty cổ phần, lợi nhuận để
lại sẽ đợc tăng cờng vào quỹ đầu t và phát triển. Không nh các quỹ khác, nguồn
vốn từ quỹ đầu t phát triển sẽ tiếp tục tham gia vào quá trình sản xuất trực tiếp
mang lại lợi nhuận mới cho doanh nghiệp.
Tựu chung lại, một doanh nghiệp nếu muốn huy động vốn theo phơng thức
này phải thực sự làm ăn có lãi, đạt đến mức lợi nhuận để lại cao. Lợi nhuận thể
hiện kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời là cơ hội
cho doanh nghiệp tái đầu t mở rộng hoạt động của mình trong thời gian tới.
10
d. Huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu.
Trái phiếu là một công cụ vay nợ trung và dài hạn, phát hành trái phiếu là ph-
ơng thức huy đông vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp. Phát hành trái phiếu
tức là doanh nghiệp đã tăng nợ trong tổng nguồn vốn của mình, trên trái phiếu có
ghi đầy đủ các yếu tố: mệnh giá, thời hạn và lãi suất.Có nhiều loại trái phiếu, mỗi
loại có đặc điểm riêng, căn cứ vào đó doanh nghiệp lựa chọn và quyết định phát
hành loại trái phiếu nào là phù hợp.
d.1. Trái phiếu có đảm bảo và trái phiếu không có đảm bảo.
Trái phiếu có đảm bảo: Là một loại trái phiếu đợc đảm bảo bằng tài sản của
doanh nghiệp. Tài sản đảm bảo thờng là các bất động sản, trong một số trờng hợp
có thể là nhà xởng hay những thiết bị sản xuất đắt tiền. Khi phát hành trái phiếu có
đảm bảo, doanh nghiệp có trách nhiệm duy trì, giữ gìn tài sản đảm bảo ở tình trạng
tốt nhất. Một tài sản có thể đảm bảo cho nhiều lần phát hành trái phiếu nhng tổng
tất cả các trái phiếu không thể lớn hơn giá trị tài sản. Loại trái phiếu này đem lại
ợc hởng lợi do tăng giá vừa đợc hởng lãi cổ phần. Do vậy trái chủ chấp nhận mức
lãi suất thấp của trái phiếu chuyển đối hơn là trái phiếu thông thờng. Điều này rất
có lợi cho những doanh nghiệp cho những doanh nghiệp gặp khó khăn về tài
chính.
Nếu giá trị cổ phiếu sẽ giảm trong thời gian gần đây và sẽ tăng trong thời
gian tới mà công ty muốn tăng vốn cổ phần, thì trái phiếu có thể chuyển đổi là
công cụ huy động vốn hữu hiệu, vì doanh nghiệp vừa phải trả chi phí thấp vừa
không tốn chi phí phát hành cổ phiếu thờng. Tuy nhiên nếu giá cổ phiếu không
tăng thì sự chuyển đổi không xảy ra và doanh nghiệp phải trả một mức lãi suất cao
hơn lãi suất thông thờng.
Các công ty ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển thờng phát hành
những chứng khoán kèm theo các điều kiện có thể chuyển đổi. Sự chuyển đổi đó
có thể đem lại cho công ty một phơng thức huy động vốn thích hợp. Công cụ để
tiến hành hình thức này là giấy đảm bảo, giấy đảm bảo thờng đợc phát hành kèm
với các cổ phiếu u đãi, trái phiếu theo phơng thức bán trọn gói để tăng tính hấp
dẫn đối với các nhà đầu t. Thực chất giấy đảm bảo là một tờ giấy mà ngời sở hữu
nó có thể mua một lọng cổ phiếu thờng với giá cả và thời gian đợc qui định tr-
ớc.Khi giá thị trờng của cổ phiếu cao hơn so với mức giá ghi trên giấy đảm bảo thì
12
ngời sở hữu giấy đảm bảo có quyền mua cổ phiếu của công ty tại mức giá thấp
hơn đó, ngợc lại nếu giá trên thị trờng của cổ phiếu cao thấp hơn giá ghi trên giấy
đảm bảo thì giấy đảm bảo không có ý nghĩa. Đây là một hình thức tăng tính hấp
dẫn để huy động vốn của công ty, nó giúp công ty huy động vốn dễ dàng hơn.
Khi tiến hành phát hành trái phiếu để huy động vốn, doanh nghiệp phải lựa
chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện của mìmh và tình hình thị tr-
ờng tài chính. Việc lựa chọn trái phiếu phù hợp là quan trọng vì có liên quan đến
chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu, từ
đó, nó sẽ ảnh hởng đến số lợng vốn có thể huy động đợc và lợi nhuận của doanh
nghiệp.
e. Tín dụng thuê mua.
Một hợp đồng thuê tài chính thông thờng đợc chia làm ba phần:
Phần 1: Thời hạn thuê chính thức: Đây là khoảng thời gian quan trọng nhất
của hợp đồng thuê, trong thời gian này các bên không đợc đơn phơng huỷ bỏ hợp
đồng trừ trờng hợp đặc biệt đợc cả hai bên chấp nhận. Hết thời hạn này hầu nh ng-
ời cho thuê đã thu hồi đủ số tiền đầu t ban dầu.
Phần 2: Thời gian thuê tự chọn: Là khoảng thời gian mà ngời thuê có thể tiếp
tục thuê tài sản với chi phí thuê rất thấp.
Phần 3: Thực hiện giá trị còn lại: Bên cho thuê sẽ bán thanh lý tài sản
Trong hợp đồng thuê tài chính, các chi phí cũng nh các rủi ro của tài sản do
bên thuê chịu tơng tự nh nh các tài sản mà công ty mua sắm.
f. Vốn liên doanh, liên kết hoặc sát nhập các doanh nghiệp nhỏ thành
một doanh nghiệp lớn:
Liên doanh là một hoạt động mà trong đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn để
kinh doanh và thu lợi nhuận và chịu trách nhiệm, rủi ro trong phạm vi góp vốn.
Huy động vốn bằng hai hình thức này có u điểm giúp cho doanh nghiệp tranh
thủ đợc vốn, nhân công, kinh nghiệm của các đối tác để thực hiện sản xuất, kinh
doanh nhng có nhợc điểm là phải phân chia thành quả hoạt động, nhiều khi không
thống nhất đợc mục tiêu quan điểm, có thể dẫn đến tan vỡ liên doanh.
g. Tín dụng thơng mại :
14
Trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp có thể sử dụng tài trợ bằng cách
mua chịu, mua trả chậm hay trả góp của các nhà cung cấp. Phơng thức này thờng
gọi là tín dụng của nhà cung cấp hay còn gọi là tín dụng thơng mại. Trong bảng
cân đối kế toán của công ty nó thể hiện ở khoản mục "phải trả ngời bán". Công cụ
để thực hiện tín dụng thơng mại là các kỳ phiếu, hối phiếu và các hợp đồng kinh
tế.
Tín dụng thơng mại là một phơng thức tài trợ tiện lợi và thông dụng trong
kinh doanh. Một mặt nó là một phơng thức huy động vốn của doanh nghiệp, mặt
khác nó còn tạo cho doanh nghiệp khả năng mở rộng các mối quan hệ hợp tác lâu
bền. Các điều kiện ràng buộc cụ thể đợc qui định khi hai bên kí kết hợp đồng mua
ơng thức huy động khác với một doanh nghiệp thơng mại.. . Một doanh nghiệp có
qui mô nhỏ, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ không thể so sánh về nguồn tài trợ với một
công ty đa quốc gia có qui mô và cơ cấu quản lý rộng trên toàn thế giới. Hơn nữa
nguồn vốn và phơng thức huy động vốn chịu ảnh hởng bởi chiến lợc đầu t, trình độ
quản lý của doanh nghiệp. Nếu chiến lợc đầu t không đặt ra những mục tiêu chiến
lợc hay trình độ ngời quản lý không phù hợp yêu cầu thì việc thiết lập một cơ cấu
và thực hiện huy động vốn không thể đạt đến lợi ích cần thiết cho doanh nghiệp.
Đây là những yếu tố hình thành từ lúc thành lập doanh nghiệp bởi nó qui
định đặc điểm của doanh nghiệp, do đó khi xem xét sự ảnh hởng của nhân tố này
là xem xét nhân tố chủ quan tồn tại cố hữu trong doanh nghiệp.
a.2. Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp.
Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp ảnh hởng rất lớn đến nguồn vốn và phơng
thức huy động vốn của doanh nghiệp. Thực chất huy động vốn để đầu t, tức là tài
trợ cho các tài sản phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Trớc khi tiến hành huy
động vốn mỗi doanh nghiệp đã phải xem xét đến nhu cầu về tài sản của doanh
nghiệp, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần bao nhiêu tài sản lu
động, bao nhiêu tài sản cố định, và dựa trên cơ cấu tài sản thực có trong doanh
nghiệp thì cần tài trợ thêm bao nhiêu, từ đó xác định đợc nhu cầu vốn của mình và
tiến hành các công tác của hoạt động huy động vốn. Cũng căn cứ vào cơ cấu tài
sản trong doanh nghiệp để có thể lựa chọn nguồn vốn huy động cho phù hợp. Nếu
nhu cầu vốn phần lớn tập trung vào vốn lu động để tài trợ cho tài sản lu động thì
doanh nghiệp sẽ vận dụng phơng thức huy động nguồn ngắn hạn, ngợc lại khi nhu
16
cầu vốn tập trung đầu t cho tài sản cố định thì huy động nguồn dài hạn là phơng
thức phù hợp hơn.
Cơ cấu tài sản của mỗi doanh nghiệp là khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp sản xuất sẽ có cơ cấu
tài sản khác với một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, một ngân
hàng kinh doanh tiền tệ sẽ có cơ cấu khác với một doanh nghiệp thông thờng. Do
vậy mỗi doanh nghiệp phải xác định đợc cơ cấu tài sản của mình trớc khi tiến
a.4. Uy tín của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp là một trong các nhân tố ảnh hởng rất lớn đến khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp. Có thể hiểu uy tín theo nghĩa rộng, bao gồm
uy tín trong thanh toán, uy tín trong sản xuất kinh doanh biểu hiện bằng quá trình
thực hiện hợp đồng, danh tiếng của doanh nghiệp trong ngành và trên thị trờng .. .
Trong đó uy tín trong thanh toán giữ vai trò quan trọng nhất, một chủ nợ sẽ không
muốn đặt quan hệ với một doanh nghiệp có tiếng là không thanh toán nợ đúng
hạn, các nhà đầu t cũng không muốn đầu t vào một công ty mà cổ tức của họ
không đợc thanh toán đầy đủ. Nh vậy không phải chỉ huy động đợc vốn là công
tác huy động vốn đã hoàn thành mà các doanh nghiệp cần phải thực hiện để đảm
bảo các điều kiện mà mình thoả thuận khi huy động đợc thực hiện, có nh vậy mới
đảm bảo dợc uy tín của mình làm tiền đề cho những lần huy động sau.
a.5 Tính khả thi của dự án, phơng án kinh doanh.
Một trong những khó khăn lớn nhất khi huy động vốn là thiếu các dự án,
phơng án kinh doanh có tính khả thi. Trong điều kiện hiện nay tiềm lực nhàn rỗi ở
nớc ta vẫn đợc đánh giá là cha khai thác hết, nhng nhiều nhà đầu t không dám cho
doanh nghiệp vay vốn hoặc ngần ngại khi góp vốn vào doanh nghiệp vì không tin
vào tính khả thi của các phơng án kinh doanh đợc đa ra. Chính vì vậy xây dựng
những phơng án kinh doanh có đủ căn cứ, sức thuyết phục về tơng lai khả quan khi
sử dụng vốn là một yêu cầu bức thiết hiện nay.Yêu cầu đối với một dự án, phơng
án kinh doanh mang tính khả thi là đảm bảo căn cứ thực hiện đợc : mục tiêu của
dự án, kết quả kinh doanh dự tính, khả năng hoàn vốn theo dự tính. Khi phơng án
kinh doanh thực sự có hiệu quả thì doanh nghệp có cơ hội thu đợc lợi nhuận dự
18
kiến, giúp doanh nghiệp không những trả đợc nợ mà còn tăng tích luỹ cho doanh
nghiệp để tái đầu t mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh.
b.Các điều kiện khách quan :
b.1. Cơ chế chính sách của nhà nớc.
Những qui chế pháp luật đợc xem xét trên lợi ích chung của tất cả các chủ
thể tham gia vào nền kinh tế, do đó nó hạn chế đợc tình trạng các doanh nghiệp vì
Sự phát triển của thị trờng tài chính ảnh hởng rất lớn đến nguồn vốn và khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp. Một quốc gia có thị trờng tài chính hoàn
thiện với đầy đủ các kênh tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp có thể tạo cho
doanh nghiệp cơ hội đa dạng hoá nguồn vốn và khả năng huy động vốn của mình.
Doanh nghiệp có thể chọn phơng thức huy động qua kênh trực tiếp là qua thị trờng
chứng khoán dới các hình thức phát hành chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu.. .hay
có thể lựa chọn phơng thức huy động qua kênh gián tiếp là thông qua hệ thống các
trung gian tài chính: các ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính..
.
Khi có nhiều phơng thức để lựa chọn, tự nhiên sẽ làm tăng khả năng huy
động vốn của doanh nghiệp và sẽ không mấy khó khăn để doanh nghiệp tìm ra
một cơ cấu vốn tối u cho mình.
1.3. Yêu cầu với việc huy động vốn :
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động quan trọng của quản trị tài chính.
nó phải đáp ứng những yêu cầu sau:
+ Lựa chọn nguồn vốn có hiệu quả nhất : Trong điều kiện thị trờng tài chính
càng phát triển thì doanh nghiệp càng có cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn khác
nhau để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, do đó cần lựa chọn nguồn vốn thích hợp
nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc huy động vốn. Hiệu quả của việc sử
dụng các hình thức huy động vốn không chỉ thể hiện ở hiệu quả đầu t mà nguồn
vốn mang lại, mà còn thể hiện ở khả năng dễ dàng tiếp cận và huy động các nguồn
vốn ở lợi ích của chủ doanh nghiệp khi sử dụng nguồn vốn đó. Đồng thời việc huy
động vốn phải đảm bảo đúng thời điểm, thời cơ đầu t, nếu không sẽ không đáp
ứng đợc nhu cầu vốn cho doanh nghiệp.
20
+ Việc huy động vốn phải đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu về số lợng và thời
gian. Một dự án sản xuất kinh doanh sẽ không thể thực hiện đợc hoặc thực hiện
không đạt hiệu quả nếu không có đủ một lợng vốn nhất định theo nhu cầu tính
toán, do đó khi huy động vốn phải đảm bảo đủ về số lợng và kịp thời.
+ Chi phí cho việc huy động và sử dụng nguồn vốn huy động là nhỏ nhất.
Công ty có nhiệm vụ tổ chức thi công, sản xuất vật liệu, vận chuyển vật t
thiết bị... phục vụ xây dựng Nhà máy xi măng Bút Sơn. Ngoài ra Công ty còn có
nhiệm vụ nhận thầu xây dựng các công trình công nghiệp và dân dụng, kinh doanh
vận tải các loại vật t, vật liệu dùng trong xây dựng, phục vụ nhu cầu thị trờng.
Ngay sau khi thành lập, Công ty đã đợc giao nhiệm vụ thi công cải tạo xây
dựng các công trình phụ trợ nhà máy Xi măng Bút Sơn nh nhà điều hành BQL
Công trình tại thị xã Hà Nam và nhà điều hành tại mặt bằng Nhà máy đồng thời
thi công mở tuyến đờng từ Thanh Sơn qua dốc cổng trời vào Nhà máy...
Do yêu cầu của nhiệm vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, để tăng sức mạnh
cạnh tranh và chủ động trong sản xuất kinh doanh, mô hình cơ cấu tổ chức của
Công ty có những sự thay đổi trong từng giai đoạn - cụ thể nh sau :
Giai đoạn tr ớc 1995 :
- Tháng 3 năm 1994 sát nhập Chi nhánh Công ty xây lắp thi công cơ
giới Ninh Bình thuộc công ty Xây lắp thi công cơ giới vào công ty xây dựng Bút
Sơn .
- Tháng 10 năm 1994 tiếp nhận thêm Chi nhánh Công ty Xây dựng công
trình ngầm tại Hà Nội.
22
- Tháng 11 năm 1995 tiếp nhận thêm Chi nhánh Công ty Xây dựng công trình
ngầm tại Hoà Bình .
Nhiệm vụ chủ yếu : thi công xây dựng công trình Nhà máy Xi măng Bút
Sơn .
* Giai đoạn 1996 - 2000
Để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, ngày 2/1/1996 Bộ xây dựng đã ra quyết
định số 01/BXD - TCLĐ đổi tên thành Công ty Xây dựng Sông Đà 8.
Là một doanh nghiệp đợc thành lập với thời gian cha dài nhng Công ty xây
dựng sông Đà 8 đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng và phát triển công ty.
Ngay từ khi mới thành lập công ty đã có hai chi nhánh và 4 xí nghiệp thành viên, 1
đội vật liệu xây dựng và 1 đội sản xuất xi măng. Địa bàn hoạt động của công ty
rộng khắp các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây, Hoà Bình, Hà Bắc, Hà Nội, Nghệ
Thanh Sơn, đập tràn Yaly, đờng hầm thuỷ điện Yaly...
Qua 6 năm xây dựng và phát triển, công ty từng bớc đợc củng cố và hoàn
thiện. Đặc biệt công ty có một đội ngũ kỹ s giàu kinh nghiệm, công nhân giỏi
nghề và trang thiết bị tiên tiến hiện đại của nhiều nớc trên thế giới. Từ đó công ty
luôn hoàn thành nhiệm vụ mà Tổng công ty giao cho và sẵn sàng đáp ứng các
công trình ở mọi lĩnh vực.
Một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh sau đây phản ánh phần nào sự phát triển
của công ty : Đơn vị : VNĐ
Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000
Tổng giá trị sản xuất kinh
doanh
81.151.000.000 77.159.000.000 128.210.000.000
Tốc độ tăng trởng 72% 95% 166%
Bảng 2.1.1 : Kết quả SXKD của công ty
Những thành tích đã đạt đợc 3 năm 1998 - 2000
Nhờ chiến lợc, mở rộng ngành nghề, đa dạng hoá sản phẩm hợp lý tiếp cận
sớm với thị truờng, mở rộng địa bàn hoạt động nên tổng giá trị sản xuất kinh
doanh của Công ty luôn đảm bảo mức độ tăng trởng từ 81 tỷ/năm 1998, năm 2000
là 128 tỷ.
* Về công tác xây lắp:
Từ chỗ đơn vị chỉ tham gia thi công xây dựng các hạng mục công trình tại
Nhà máy Xi măng Bút Sơn, đến nay công ty đã xây dựng đợc một độ ngũ cán bộ
24
công nhân ngày càng lớn mạnh, tham gia đấu thầu và nhận thầu thi công nhiều
công trình xây dựng. Xây dựng dân dụng - công nghiệp, công trình công cộng, văn
hoá thể thao, công trình giao thông, công trình thuỷ lợi - thuỷ điện, công trình đ-
ờng dây và trạm biến áp... có quy mô từ nhỏ đến lớn với yêu cầu kỹ thuật, mỹ
thuật và chất lợng cao ở hầu hết các tỉnh miền Bắc và miên Trung nh:
+ XD nhà máy xi măng Bút Sơn.
+ XD nhà máy kính nổi Hà Bắc
Công tác sản xuất vật liệu xây dựng đá, cấu kiện bê tông cốt thép đúc sẵn phát
triển giải quyết đợc việc làm cho hơn 200 cán bộ công nhân viên của đơn vị.
25