SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM_ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM HÓA 8 - Pdf 18

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM HÓA 8
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

A/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
T
hế kỷ XXI – Thế kỷ của khoa học công nghệ trí tuệ. Khi xã hội ngày càng
phát triển thì yêu cầu về nguồn nhân lực càng lớn, nhưng đòi hỏi nguồn
nhân lực đó phải có một tri thức toàn diện. Chính điều này đòi hỏi con
người phải luôn có sự phấn đấu cố gắng để chiếm lĩnh những tri thức để trở
thành một con người vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng được nhu cầu của xã
hội. Để có được nguồn tri thức đó buộc con người không còn con đường
nào khác đó là phải tìm đến các bộ môn khoa học để tìm kiếm những thông
tin tri thức, trong đó Hoá Học là bộ môn khoa học mà con người cần tìm
hiểu. Hoá Học là bộ môn khoa học đóng góp nhiều trong việc cung cấp
những thông tin cho con người. Đặc biệt nó có vai trò hết sức quan trọng
trong việc hình thành nhân cách và tư duy cho con người.
Với vai trò như vậy cho nên bộ môn Hoá Học ở trường THCS đã được
quan tâm rất nhiều kể từ khi mà BGD có kế hoạch thay đổi chương trình
SGK cụ thể là:
Số tiết của lớp 8 được tăng lên gấp đôi so với chương trình cũ,
chương trình lớp 9 được giữ nguyên nhưng kiến thức có sự thay đổi đáng
kể. Nhìn chung cả ở 2 khối lớp 8, 9 khối lượng kiến thức tăng đặc biệt đã
chú trọng đến việc biên soạn SGK theo phương pháp đổi mới đó là thời
gian giành cho luyện tập, thực hành tăng, đồng nghĩa với việc nhằm tăng
1
khả năng hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em có cơ hội nhiều
hơn để rèn luyện các kỹ năng thực hành, giải bài tập.
Như chúng ta đã biết Hoá Học giữ một vai trò hết sức quan trọng trọng
hệ thống các môn khoa học. Nếu như: Toán, Văn, Lý…trang bị cho con

được nâng lên và đạt hiệu quả cao. Các xu hướng xây dựng bài tập Hoá học
hiên nay là:
- Loại bỏ những bỏ bài tập có nội dung hoá học nghèo nàn nhưng lại
cần đến những thuật toán phức tạp để giải (Hệ nhiều ẩn, nhiều phương
trình, bất phương trình, phương trình bậc hai, cấp số cộng, cấp số nhân…).
- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định, rắc rối, phức tạp,
xa rời hoặc phi thực tiễn hoá học.
- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm.
- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Xây dựng bài tập về các hiện tượng thực tế và các bài tập về bảo vệ
môi trường.
- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát triển
vấn đề và giải quyết vấn đề.
- Đa dạng hóa các loại hình bài tập như bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ
đồ thị, sơ đồ, bài tập về lắp ráp dụng cụ thí nghiệm…
- Xây dựng những bài tập có nội dung hoá học phong phú, sâu sắc,
phần tính toán đơn giản nhẹ nhàng.
3
- Xây dựng và tăng cường dạng bài tập thực nghiệm định lượng.
Với các xu hướng có thể xây dựng các nội dung bài tập như trên
nhằm mục đích để tăng cường sự hoạt động của học sinh thúc đẩy tính duy
lôgíc.
Tóm lại với vai trò vị trí quan trọng của bộ môn khoa học hoá học như
vậy nó góp phần làm nên một cái tổng thể toàn diện của khoa học nói
chung giúp con người hình thành nên một thế giới quan và nhân sinh quan
nhằm thúc đẩy sự phát triển tri thức của con người. Tạo ra một thế hệ người
vừa hồng vừa chuyên phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội ngày càng
phát triển.
2. Cơ cở thực tiễn.
Căn cứ vào chương trình thay SGK của Bộ Giáo Dục theo hướng

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm này ở cấp học THCS là một vấn đề
khoa học không phải là mới đối với học sinh. Bởi lý do là hiện nay số
lượng đầu sách nói riêng về rèn luyện tư duy logic cho học sinh thông qua
dạng bài tập trắc nghiệm lại rất ít có chăng cũng chỉ lồng ghép với các dạng
bài tập khác mà không trình bày một cách rõ ràng chuyên biệt cho nên gây
nhiều khó khăn đối với học sinh khi nghiên cứu làm dạng bài tập này. Hơn
nữa bài tập dạng trắc nghiệm khách quan liên quan rất nhiều đến việc
phương pháp học và tư duy của học sinh. Vậy để có được một giáo trình
cho việc giảng dạy dạng bài tập này là rất quan trọng cho các giáo viên và
kể cả học sinh khi nghiên cứu vấn đề này.
5
Với số tiết như hiện nay cùng với phân phối chương trình thì việc
rèn luyện kỹ năng giải bài tập trắc nghiệm là rất khó khăn vì thế mà cần
phải có một giáo trình cơ bản trình bày ngắn gọn, rễ hiểu, xúc tích nhằm
giúp giáo viên cũng như học sinh có khả năng dễ dàng thực hiện dạng bài
tập này. Chính vì thế mà việc đưa ra phương pháp trình bày cả là một vấn
đề khó khăn.
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy bộ môn Hoá học ở trường THCS
tôi thấy rằng việc học sinh học bộ môn này cũng như khi làm dạng bài tập
trắc nghiệm khách quan còn là một vấn đề khó khăn đối với các em. Phải
chăng các em tập chung cho các môn khác như Văn, Toán … vì đây là
những môn có liên quan thi vào cấp III hay Hóa học là bộ môn khó học?.
Đó cũng chỉ là những câu hỏi mang tính chất dự đoán nhưng trong bất cứ
giá nào thì cũng phải tạo cho học sinh những hứng thú trong học tập bộ
môn này. Muốn vậy thì người thày phải biết thiết kế, tổ chức một giờ dạy
như thế nào cho hợp lý và mang lại hiệu qủa cao cho người học đồng thời
phải rèn được những kỹ năng trong việc giải các dạng bài tập trong đó bài
tập trắc nghiệm khách quan là một ví dụ vì đây không chỉ đơn thuần là trắc
nghiệm khách quan mà là rèn luyện cho các em có một tư duy sáng tạo
trong quá trình giải bài tập dạng này. Chính vì đặc thù của dạng bài tập này

phải đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm mới đó là lấy người học
làm trung tâm. Chính vì vậy việc đưa phương pháp giải bài tập và rèn luyện
7
khả năng tư duy cho học sinh là một việc làm tất yếu cần phải được triển
khai một cách đại trà. Cũng như phương pháp dạy học nói chung tại hội
thảo UNESCO ở Giơnevơ (10/5-16/5/1970) đã khẳng định “Công nghệ dạy
học là một khoa học về giáo dục, nó xác lập những nguyên tắc hợp lý của
công tác học tập và các điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình dạy
học cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để
đạt được mục đích dạy học đề ra đồng thời tiết kiệm được sức lao động của
thày và trò”. Trong việc khẳng định trên tại hội thảo đã nói lên được rằng
đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới cách ra bài tập là một vấn đề hết
sức quan trọng để thúc đẩy quá trình học tập được phát triển. Muốn vậy thì
không chỉ đổi mới ở một khâu nào đó mà phải đổi mới ở tất cả các khâu từ
việc thiết kế, chuẩn bị đến việc tổ chức giảng dạy và ra đề kiểm tra.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn này cho nên tôi cảm thấy rằng
việc đưa phương pháp giải bài tập đồng thời rèn luyện tư duy cho học sinh
thông qua bài tập trắcnghiệm là rất phù hợp đồng thời tôi chọn đề tài sáng
kiến kinh ghiệm này là để trau dồi cho mình những kinh nghiệm từ đó có
những cách giải bài tập hay hơn, dễ hiểu hơn đặc biệt là phù hợp với từng
đối tượng học sinh. Từ đó giúp cho chất lượng dạy và học được nâng lên
đáp ứng với mục tiêu của ngành giáo dục đề ra đặc biệt là cuộc vận động “
Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” của
Bộ trưởng bộ giáo dục. Qua quá trình nghiên cứu tôi cũng đã đưa ra một số
những kiến nghị để cho việc nâng cao chất lượng dạy học nhằm thúc đẩy sự
phát triển của giáo dục trong giai đoạn mới đó là hội nhập với thế giới trên
tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, TDTT…
B/ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
8
Khi chọn đề tài sáng kiến " Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm

giúp cho học sinh rèn luyện một số các kỹ năng sau:
- Sử dụng có hiệu quả dạng bài tập trắc nghiệm
- Phát huy tính tích cực của học sinh
- Học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua giải bài tập trắc
nghiệm.
- Giáo dục tinh thần tự giác, trung thực, sáng tạo, trách nhiệm trong
công việc, có hứng thú trong bộ môn.
- Rèn luyện kỹ năng tư duy, sáng tạo…
6- Thiết thực hơn nữa tôi là một giáo viên giảng dạy trực tiếp bộ môn
hoá học ở trường THCS nên việc nghiên cứu đề tài cũng nhằm giúp tôi tích
luỹ cho mình những kiến thức, những kinh nghiệm về phương pháp giải bài
tập hoá học nói chung và "Phương pháp dạy bài tập trắc nghiệm môn hoá
học THCS" ở trường THCS nói riêng. Đồng thời cũng là dịp để tích luỹ
thêm được chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân ngày càng vững vàng hơn.
C/ ĐỐI TƯƠNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để trở thành một khoa học độc lập thì bất cứ một khoa học nào cũng
phải xác định đối tượng nghiên cứu của mình vì đối tượng nghiên cứu của
một khoa học là lĩnh vực nhận thức thế giới khách quan của một khoa học
đó. Chỉ khi xác định rõ đối tượng nghiên cứu của mình mới đề ra được
phương hướng nghiên cứu đúng đắn, mới xác định được nội dung nghiên
cứu rõ ràng, chính xác và không bị vượt ra khỏi lãnh vực thế giới khách
10
quan mà mình phải nhận thức cũng như không thu hẹp phạm vi nghiên cứu
của mình. Chính vì vậy vấn đề đối tượng nghiên cứu của khoa học là vấn
đề phương pháp luận nghiên cứu của khoa học đó.
1- Đối tượng nghiên cứu.
Chính vì sự xác định rõ ràng đối tượng nghiên cứu cứu một đề tài
sáng kiến như vậy cho nên đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là
học sinh khối 8, 9 ở trường THCS Tam Đa và giáo viên giảng dạy bộ môn
hoá học tại trường. Với những đối tượng như vậy tôi có thể khai thác một

công của đề tài.
Đó là những thuận lợi mà trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi nhận
thấy được.
2/ Khó khăn.
Bên cạnh những thuận lợi trên thì khi nghiên cứu đề tài để áp dụng
một cách rộng rãi thì tôi thấy còn một số những khó khăn sau:
Một khó khăn đầu tiên mà tôi gặp phải đó là kỹ năng giải bài tập hoá
học của học sinh nói chung và giải bài tập trắc nghiệm nói riêng còn rất yếu
và gần như tư duy để giải nhanh các bài tập dạng trắc nghiệm của học sinh
chưa có.
Một khó khăn nữa cũng không kém phần quan trọng là các giáo trình
bài tập còn thiếu, đặc biệt là giáo trình bài tập rèn luyện tư duy giải bài tập
trắcnghiệm có chăng cũng chỉ là mang tính chất lồng nghép với một số
dạng bài tập khác mà nó chưa được trình bày riêng chưa có được phương
12
pháp cụ thể cho nên khi học sinh nghiên cứu dạng bài tập này còn gặp rất
nhiều khó khăn.
Để hoàn thiện vấn đề này tôi mạnh dạn đưa ra một số phương pháp
giải bài tập trắc nghiệm mang tính tư duy nhằm đáp ứng được cách ra đề thi
trắc nghiệm như hiện nay.
B- Một số phương pháp giải bài tập trắc nghiệm.
Để hướng dẫn học sinh giải nhanh bài tập trắc nghiệm theo tôi cần có
những vấn đề cần chú ý sau đây:
- Xuất phát từ những kiến thức và kỹ năng cơ bản từ cách giải thông
thường mà học inhn biết, người giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra những quy
luật, các mối quan hệ đặc biệt để từ đó dẫn đến cách giải nhanh.
- Luôn luôn chú ý phát huy sự tích cực, chủ động của học sinh, tạo hứng
thú học tập chho học sinh. Giáo viên hướng dẫn để học sinh phát hiện, chủ động
tìm ra, nắm bắt được phương pháp giải. Như vậy làm cho học sinh hứng thú, có
được niềm vui khi tự mình khám phá, từ đó kiến thức có được sẽ có tính lâu bền,

V
1
, D
1
, m
dd
C
dd 2 C
2
(C - C
1
)
V
2
, D
2
, m
dd

- Lập tỉ lệ ta có:
1
2
2
1
CC
CC
m
m
dd
dd

=
- Khối lượng của NaOH có trong 40(g) dd NaOH 15% là:
)g(
%
%.
6
100
1540
=
- Khối lượng chất tan sau khi trộn là: 12 + 6 = 18(g)
- Khối lượng dung dịch sau khi trộn là: 60 + 40 = 100(g)
- Nồng độ % của đ dịch sau khi trộn là: Áp dụng công thức
%.
m
m
%C
dd
ct
100=
14
Thay số ta có:
%%.%C 18100
100
18
==
.
Vậy chọn đáp án B.
* Cách 2: Áp dụng theo phương pháp đường chéo ta có.
20% 20% - C
C

- Khối lượng NaCl có trong a(g) dd NaCl 20% là:
)g(a,
%
%.a
20
100
20
=
- Khối lượng NaCl có trong 400(g) dd NaCl 15%% là:
)g(
%
%.
60
100
15400
=
- Khối lượng chất tan sau khi trộn 2 dung dịch là: (0,2a + 60)(g)
- Khối lượng dung dịch sau khi trộn 2 dung dịch là: (a + 400) (g)
- Nồng độ % của dung dịch sau khi trộn là: Áp dụng công thức
%.
a
a,
%%.
m
m
%C
dd
ct
100
400

400
=⇒
dd
m
Ta có m
dd
= 100(g). Chọn đáp án A
* So sánh 2 cách giải ta thấy
- Nếu giải theo phương pháp thông thường thì cũng cho ta kết quả. Hơn
nữa có khi học sinh còn dễ hiểu. Nhưng lại rất mất thời gian mà dạng bài tập trắc
nghiệm thì lại khắt khe về mặt thời gian. Nếu vậy thì sẽ không đáp ứng được về
thời gian.
- Nếu giải theo phương pháp đường chéo thì lại cho ta kết quả rất nhanh
không mất thời gian phù hợp với dạng bài tập trắc nghiệm. Nhưng nếu học sinh
áp dụng không tinh thì có thể tìm được một kết quả không chính xác (tức là có
khi tìm được kết quả âm).
Nhưng để đáp ứngđược về mặt thời gian thì phương pháp đường
chéo vẫn là công cụ hữu hiệu nhất để học sinh tận dụng được về mặt thời gian.
2. Dạng bài toán liên quan đến phương pháp bảo toàn nguyên tử.
- Có rất nhiều phương pháp để giải bài toán hoá học khác nhau, nhưng
phương pháp bảo toàn nguyên tử và phương pháp bảo toàn số electron cho phép
chúng ta gộp nhiều nhiều phương trình phản ứng lại làm một, quy gọn việc tính
toán và nhẩm nhanh đáp số. Rất phù hợp với việc giải các bài toán hoá học trắc
nghiệm. Cách thức gộp phương trình làm một và cách lập phương trình theo
phương pháp bảo toàn nguyên tử sẽ được giới thiệu qua một số ví dụ sau đây:
Ví dụ 1: Khử hoàn toàn 17,6 (g) hỗn hợp gồm Fe, FeO, Fe
2
O
3
cần 4,48 lít

lượng cũng bằng nhau và bằng 3,2(g).
- Khối lượng sắt thu được là: 17,6 - 3,2 = 14,4(g)
Vậy chọn đáp án C
Ví dụ 2: Để khử hoàn toàn 3,04g hỗn hợp X gồm FeO, Fe
3
O
4
, Fe
2
O
3
cần 0,05(mol)H
2
. Mặt khác hoà tan hoàn toàn 3,04g hỗn hợp X trong dung dịch
H
2
SO
4
đặc thu được thể tích SO
2
(Sản phẩm khử duy nhất) ở đktc là:
A. 448ml B. 224ml C. 336ml D. 112ml.
Giải: Thực chất phản ứng khử các oxit sắt trên là:
H
2
+ O
→
0
t
H

2
SO
4
 Fe
2
(SO
4
)
3
+ SO
2
+ 4H
2
O
17
x x/2
2Fe
3
O
4
10H
2
SO
4
 3Fe
2
(SO
4
)
3

O
4
, Al
2
O
3
nung nóng, phản ứng
hoàn toàn thu được m gam chất rắn và một hỗn hợp khí nặng hơn khối lượng của
hỗn hợp V là 0,32g. Tính V và m.
A. 0,224 lít và 14,48g B. 0,672 lít và 18,46g
C. 0,112 lít và 12,28g D. 0,448 lít và 16,48g
Giải: Thực chất phản ứng khử các oxit trên là:
CO + O
→
0
t
CO
2
H
2
+ O→
0
t
H
2
O
- Khối lượng khí tạo thành nặng hơn hỗn hợp khí ban đầu chính là khối lượng

2
==
+
 Chọn đáp án D
Ví dụ 4: Thổi rất chậm 2,24 lít (đktc) hỗn hợp khí gồm CO và H
2
qua một
ống sứ đựng hỗn hợp gồm cá oxit: CuO, Fe
3
O
4
, Al
2
O
3
, Fe
2
O
3
có khối lượng là
24g dư đang được nung nóng. Sau khi kết thúc phản ứng khối lượng chất rắn còn
lại trong ống là:
18
A. 22,4g B. 11,2g C. 20,8g D. 16,8g
Giải:
mol,
,
,
n
)HCO(hh

O
= 1,6g
- Vậy chất rắn còn lại trong ống sứ là: 24 - 1,6 = 22,4g  Chọn đáp án A
3. Dạng bài toán liên quan đến phương pháp bảo toàn khối lượng.
Ví dụ 1: Khử hoàn toàn 6,64 gam hỗn hợp gồm: Fe, FeO, Fe
3
O
4
, Fe
2
O
3
cần dùng vừa đủ 2,24 lít khí CO (đktc). Khối lượng Fe thu được là:
A. 5,4 gam B. 5,04 gam C. 5,03 gam D. 5,02 gam
Giải:
Phương trình: FeO + CO
→
0
t
Fe + CO
2
(1)
Fe
2
O
3
+ 3CO
→
0
t

+
2
CO
m
6,64 + 2,8 = m
Fe
+ 4,4
 khối lượng sắt thu được là: m
Fe
= 5,04g
 Chọn đáp án B
Ví dụ 2: Cho một luồng khí CO dư đi qua ống sứ chứa 5,64 gam hỗn hợp
gồm: Fe, FeO, Fe
2
O
3
, Fe
3
O
4
(đun nóng). Sau khi phản ứng xẩy ra hoàn toàn, khí
đi ra dẫn vào dụng dịch Ca(OH)
2
dư thu được 8 gam kết tủa. Khối lượng của sắt
thu được là:
A. 4,36 gam B. 4,63 gam C. 3,46 gam D. 3,64 gam
Giải:
19
Phương trình: FeO + CO
→

2
 CaCO
3
+ 2H
2
O (4)
- Số mol của CaCO
3
là: 0,8 (mol)
- Theo phương trình (4) số mol CO
2
= số mol của CaCO
3
= 0,08 (mol)
- Theo phương trình 1, 2, 3 ta thấy tổng số mol của CO bằng tổng số mol của
CO
2
ta có số mol của CO
2
là 0,8 (mol). Khối lượng của CO
2
: 0,08.44 = 3,52g
- Khối lượng của khí CO là: 0,08.28 = 2,24g
- Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
m
hh chất ban đầu
+ m
CO
= m
Fe

phương pháp dạy học.
2- Phương pháp điều tra giáo dục.
Điều tra giáo dục là phương pháp rất phổ biến trong quá trình nghiên
cứu khoa học.
- Mục đích: Thu thập số liệu sử lý thông tin để phục vụ cho qua trình
làm đề tài.
- Đối tượng của phương pháp: Tập thể học sinh thuộc hai khối 8, 9
trường THCS Tam Đa chủ yếu tập chung vào học sinh khối lớp 9.
3- Phương pháp quan sát.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài và áp dụng đề tài mang tính chất
thí điểm tôi có quan sát xem thái độ cũng như phản ứng của học sinh xem
các em tiếp cận đề tài ở mức độ nào và khi đưa vào áp dụng rộng rãi thì có
phát huy kết quả không
Qua phương pháp này tôi thu thập được những thông tin từ phía học
sinh để có thể điều chỉnh đề tài cho phù hợp với từng đối tượng học sinh từ
đó giúp đề tài của tôi có thể được áp dụng rộng rãi trên tất cả cá đối tượng
học sinh.
4- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
21
Thực hiện phương pháp này tôi tiến hành áp dụng vào giảng dạy cho
những học sinh khá giỏi trước. Đặc biệt là đội tuyển học sinh giỏi trong
năm học vừa qua tôi thấy rằng khi áp dụng đề tài này cho các đối tựơng học
sinh như vậy thì phát huy rất tốt những khả năng của các em từ đó tôi thấy
chất lượng nắm bài của các em rất tốt đồng thời những kỹ năng thực hành
của các em rất thuần thục từ đó thúc đẩy được sự ham học hỏi của các em
hơn.
Ngoài những phương pháp chủ yếu trên tôi còn sử dụng một số
phương pháp khác để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài như: Phương
pháp nghiên cứu lí thuyết, Phương pháp đàm thoại, Phương pháp trao đổi
hỏi ý kiến. Tuy nhiên ở mỗi một phương pháp nó lại có những thuận lợi và

thể áp dụng vào trong công tác giảng dạy của mình.
- Có cơ hội để tham khảo ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp và
các em học sinh từ đó có phương pháp giảng dạy phù hợp hơn.
- Giáo viên không phải chủ động truyền đạt kiến thức mà chỉ giữ vài
trò chỉ đạo học sinh giải quyết các tình huống, tức là học sinh tự tìm tòi,
khám phá để chiếm lĩnh kiếm thức, đồng thời qua các bài tập trắc nghiệm
thực sự rèn luyện cho các em có một tư duy tích cực trong giải bài tập hoá
học.
- Nếu đề tài này được áp dụng và giáo viên hướng dẫn học sinh một
cách chi tiết thì nó sẽ góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất lượng dạy
học đặc biệt là dạy học theo phương pháp mới “ Lấy người học làm trung
tâm”.
23
2. Đối với học sinh.
- Phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. Học
sinh có thể có thể tự mình hiểu và lĩnh hội kiến thức một cách chủ động.
- Rèn luyện được tính tự giác, tính độc lập nghiên cứu khoa học từ
đó hình thành cho học sinh thói quen làm việc theo khoa học.
- Giúp học sinh tiếp cận được với những phương pháp dạy học mới,
phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
- Rèn luyện cho học sinh thành thạo trong việc thực hành thí nghiệm
chủ động trong việc làm thí nghiệm để tìm kiếm kiến thức.
- Học sinh có được một phương pháp giải bài tập nhận biết một cách
chi tiết dễ hiểu xúc tích và có hệ thống bài tập để rèn luyện.
VI/ NHỮNG VẤN ĐỀ BỎ NGỎ VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN
Trong một thời gian có hạn cho nên đề tài của tôi còn có nhiều phần
còn hạn chế đồng thời để thực hiện được đề tài này đòi hỏi một số yếu tố cụ
thể là.
A- Những vấn đề bỏ ngỏ
Đối với bài tập trắc nghiệm thì phải đủ ở cả hai mảng đó là hoá học

ham học hỏi và thích thú với bộ môn.
VII/ KIẾN NGHỊ
Đối với đề tài này thực chất không phải là mới đối với các đồng chí giảng
dạy bộ môn hoá học nhưng để áp dụng và có hiệu quả tôi xin có một số kiến nghị
như sau:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status