ĐỀ CƯƠNG TRIẾT HỌC DUY VẬT LỊCH SỬ - Pdf 18

HỌC PHẦN II. TRIẾT HỌC DUY VẬT LỊCH SỬ.
Đề : Bằng lý luận hình thái kinh tế xã hội và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng chí hãy phân
tích luận điểm sau đây của Đảng ta: “Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến
đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn phức tạp cho nên
phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức
kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”. (Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt nam lần thứ IX,
NXB CTQG, HN-2001, tr 85).
Bài làm
Học thuyết macxit về hình thái kinh tế xã hội là nội dung cơ bản của CNDVLS của triết học
Mác – Lênin; nó chẳng những chỉ rõ kết cấu của các xã hội cụ thể, mà còn vạch rõ những quy
luật nội tại, cơ bản chi phối sự vận động phát triển của đời sống xã hội nói chung, cũng như xã
hội trong những giai đoạn lịch sử cụ thể. Như vậy học thuyết Macxit về HTKT-XH là cơ sở
phương pháp luận của các kho học xã hội là hòn đá tảng cho mọi nguyên cứu về xã hội, và do
đó là 1 trong những nền tảng lý luận của CNXH khoa học
Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù CNXH trên thế giới đang lâm vào tình trạng thoái trào, hệ
thống các nước theo chế độ XHCN chỉ còn môt vài quốc gia nhưng Đảng và nhà nước ta vẫn
kiên trì khẳng định con đường phát triển đất nước là tiến lên CNXH mặc dù phải trãi qua nhiều
bước thăng trầm, khó khăn. Văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam lần IX đã khẳng định : “Xây
dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả lĩnh vực là
một sự nghiệp rất khó khăn phức tạp cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều
chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ”. Sự chọn lựa con
đường đi lên CNXH của đảng và nhà nước ta xuất phát từ những cơ sở khoa học của Chủ nghĩa
Mác Lênin. Học thuyết Mácxít đã chỉ ra rằng loài người nhất định sẽ tiến lên CNXH, đó là sự
phát triển tất yếu trong tiến trình phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Nắm vững lý luận
về hình thái kinh tế - xã hội và xem xét, đánh giá quá trình vận dụng của Đảng ta vào trong thực
tế sẽ giúp chúng ta củng cố hơn về niềm tin vào CNXH và tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi
lên CNXH ở nước ta
I. Trình bày định nghĩa (khái niệm) hình thái kinh tế xã hội, kết cấu của hình thái xã
hội (quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, kiến trúc thượng tầng).
Theo quan điểm Mác xít, “hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật
lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với kiểu quan hệ sản xuất đặc

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp thống nhất giữa người lao động với tư liệu sản xuất (trước
hết là công cụ lao động) để tạo thành sức sản xuất xã hội.
Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và được vận dụng nhanh chóng,
rộng rãi, trực tiếp vào trong quá trình sản xuất thì cùng với công nghệ hiện đại, khoa học đã trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp, độc lập và hiệu quả của quá trình sản xuất mới hình thành
nên nền kinh tế tri thức của nhân loại. Văn kiện Đại hội Đảng lần 9 cũng đã chỉ rõ nước ta đang
từng bước xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức : ”Phát huy những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là nghệ công nghệ thông
tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức độ cao hơn và phổ
biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế trí thức”
(Trang 91 – VK ĐH Đảng lần IX).
c. Quan hệ sản xuất.
Còn quan hệ sản xuất nó là một chỉnh thể thống nhất của 3 quan hệ : quan hệ sở hữu đối với
các tư liệu sản xuất của xã hội, quan hệ quản lý (quan hệ giữa người với người) trong việc tổ
chức sản xuất, trao đổi hoạt động cho nhau và quan hệ phân phối những sản phẩm mà xã hội
làm ra.
2. Nội dung quy luật: Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất (Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX, Sự tác động trở lại của QHSX đối với
LLSX. Lưu ý: Trình bày tóm tắt nội dung quy luật, không cần trình bày chi tiết.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của quá trình sản xuất, giữa chúng có
mối quan hệ biện chứng, thường xuyên, lặp lại trong suốt quá trình sản xuất vật chất hình thành
nên quy luật kinh tế - xã hội tất yếu, phổ biến, quyết định sự vận động và phát triển của các
hình thái kinh tế - xã hội. Đó là quy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất”. Quy luật này chỉ ra rằng: lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất và quan hệ sản xuất sau khi hình thành và tồn tại nó có tác động trở lại đối với lực lượng
sản xuất.
Trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là
hình thức. Nội dung quyết định hình thức. Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất thể
hiện qua việc trình độ lực lượng sản xuất đang tồn tại đặt ra yêu cầu quan hệ sản xuất phải phù
hợp với nó mà không đòi hỏi cao hơn hoặc thấp hơn nó. Ăngghen khẳng định :”xét đến cùng thì

biến là sản xuất nhỏ, “con trâu đi trước cái cày”. Vì vậy lực lượng sản xuất của ta trình độ thấp,
sản xuất thủ công là chủ yếu, đầu óc tư hữu, phong cách làm việc lề mề, kém kỷ luật là đặc
điểm chung của đại bộ phận nhân dân lao động, đặc biệt là nông dân. Mặc khác, chiến tranh
kéo dài không chỉ tàn phá khốc liệt cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đất nước, ảnh hưởng đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội mà còn làm cho đội ngũ cán bộ - đảng viên không có điều kiện
học tập trình độ khoa học công nghệ, nền tri thức mới dẫn đến năng lực quản lý không đáp ứng
đầy đủ những yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước. Về tư liệu sản xuất, chúng ta đầu tư
không đúng hướng, dàn đều, tràn lan và không tính hiệu quả. Lẽ ra phải tập trung đầu tư cho
khôi phục nông nghiệp để đảm bảo nhu cầu thiết thực về lương thực thực phẩm cho người dân
nhằm ổn định kinh tế thì chúng ta lại đầu tư tập trung vào công nghiệp nặng, “có lúc đẩy mạnh
quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ” hoặc
“đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết”. Những thành tựu khoa
học kỹ thuật, những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan không được vận
dụng để đưa vào trong các chế định, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của ta.
Văn kiện Đại hội VI đã đánh giá “Trong nhận thức cũng như hành động, chúng ta chưa
thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian
tương đối dài nên đã nóng vội muốn nhanh chóng xóa bỏ kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể
để sớm có kinh tế XHCN chiếm ưu thế tuyệt đối. Việc xác lập quan hệ SX còn không đồng bộ
3
và có yếu tố đẩy quá xa, vượt lên trên trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở chỗ : không
đồng bộ trong các ngành, trong cơ cấu kinh tế, trong bản thân 3 mặt của quan hệ SX”. “Về nội
dung cải tạo, thường nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà không coi
trọng giải quyết các vấn đề tổ chức quản lý và chế độ phân phối”. Cách làm thường theo kiểu
chiến dịch, gò ép, chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng và hiệu quả
Trong quan hệ phân phối lợi ích, nhất là lợi ích người lao động, duy trì quá lâu cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp đã làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu động lực phát triển sản xuất và tǎng
nǎng suất lao động; nhấn mạnh quá mức tính tập thể, tính cộng đồng trong quan hệ sản xuất
mới mà không coi trọng đúng mức nhân tố cá nhân, làm triệt tiêu tính tích cực của cá nhân
trong chủ nghĩa xã hội, có những chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương.
Trong việc tổ chức quản lý, chúng ta duy trì một chính sách kinh tế đóng cửa, một cơ chế

của lực lượng SX được thực hiện song song với việc coi trọng phát triển giáo dục, đào tạo, khoa
học và công nghệ xem đây là nền tảng và là động lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Về quan hệ sản xuất, văn kiện Đại hội Đảng lần VII đã nêu “để phù hợp với sự phát triển
của lực lượng sản xuất, chúng ta phải thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến
cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”.
4
Đại hội VIII của Đảng đã đề ra chủ trương : “Nếu CNH - HĐH tạo nên LLSX cần thiết cho
chế độ XH mới thì việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống
QHSX phù hợp”. Các văn kiện Đại hội Đảng cũng đã khẳng định các thành phần kinh tế là
những bộ phận cấu thành phần kinh tế thống nhất, được phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh
lành mạnh với nhau. Thực tiễn chứng minh chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần là sự
phản ánh đúng đặc điểm xuất phát của nước ta từ một nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ
chưa qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, nhằm giải phóng mọi tiềm nǎng kinh tế,
khơi dậy năng lực sáng tạo, chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất kinh doanh, thúc
đẩy SX phát triển huy động mọi nguồn lực đặc biệt là nguồn vốn cất giữ trong nhân dân, lao
động nông nhàn cho sản xuất.
Thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần tức là Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều
hình thức sở hữu và các loại hình tổ chức kinh tế gắn liền với các hình thức sở hữu đó. Văn
kiện Đại hội IX cũng đã xác định việc xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu
không thể xác lập nhanh chóng ồ ạt như trước đây mà phải là một quá trình kinh tế - xã hội lâu
dài, qua nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao … Trong những bước đầu tiên, phải hình
thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước.
Về quan hệ phân phối, Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh “thực hiện phân phối chủ yếu theo
kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các
nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Tăng trưởng kinh tế gắn
liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” khuyến khích
người lao động tǎng thu nhập và làm giàu chính đáng, chấp nhận sự chênh lệch trong thu nhập
do nǎng suất và hiệu quả lao động, tạo động lực cho sự phát triển và nâng cao mức sống chung

TBCN, phủ nhận các hình thức, bước đi mang tính quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn - nội
dung mà trước đây CNTB ra đời nó đã từng thể hiện. Và chúng ta đã phải chịu sự trả giá cho
những sai lầm chủ quan đó.
Bước sang thời kỳ đổi mới, nhận thức lại quan niệm bỏ qua chế độ TBCN một cách đúng
đắn, đầy đủ hơn. Quan điểm đó đã được Đại hội VII, Đại hội VIII và Đại hội IX bổ sung hoàn
thiện hơn. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “Quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư
bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng tư bản chủ nghĩa“, phải chủ động kế thừa biện chứng những nhân tố hợp lý của cơ
sở hạ tầng lẫn kiến trúc thượng tầng của CNTB. Đó là những thành tựu chung đặc biệt về khoa
học công nghệ mà nhân loại đạt được.
IV. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
1. Khái niệm.
Mỗi xã hội trong lịch sử có một kiểu những quan hệ vật chất cơ bản nhất ứng với những
LLSX đó là những QHSX. Phù hợp với kiểu QHSX đó là một hệ thống những quan hệ về chính
trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật Những quan hệ chính trị, tinh thần này được thể hiện
thông qua những thiết chế xã hội tương ứng như : Nhà nước, Đảng phái, tòa án, giáo hội và các
tổ chức xã hội khác Sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa những quan hệ kinh tế của xã hội và
các quan hệ kinh tế đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử phản ánh trong các phạm trù CSHT và
KTTT, trong nguyên lý về quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế của một xã hội
nhất định. Một xã hội đang ở trong thời kỳ quá độ thì cơ sở hạ tầng của nó mang tính quá độ,
tức là có sự đan xen giữa quan hệ sản xuất tàn dư tồn tại cùng với mầm móng quan hệ sản xuất
mới.
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị pháp quyền, triết học, đạo đức,
tôn giáo, nghệ thuật … cùng với những thiết chế xã hội tương ứng của chúng như Nhà nước,
chính đảng, giáo hội, các đoàn thể chính trị - xã hội hình thành nên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Mỗi bộ phận của kiến trúc thượng tầng có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau và tác động đến
cơ sở kinh tế (đặc biệt là vai trò của Nhà nước chính đảng và hệ tư tưởng chính trị). Kiến trúc
thượng tầng cũng mang tính giai cấp rõ rệt.
2- Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng (Lưu ý: Trình

là do có chế dộ tư hữu và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Nhà nước là một tổ
chức của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các
chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự XH, thực hiện những mục đích để bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị trong xã hội. Trong sự vận động và phát triển của các hình thái KT-XH
thì Nhà nước có tác động rất lớn trong cuộc cách mạng xã hội, thay thế một hình thái kinh tế xã
hội này bằng một hình thái kinh tế xã hội khác.
V. Sự phát triển của các hình thái KT-XH là quá trình lịch sử tự nhiên.
Lịch sử xã hội loài người đã trãi qua 4 hình thái KTXH, đó là : chế độ công sản nguyên
thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đang trãi qua thời
kỳ quá độ của CNXH, giai đoạn đầu tiên của CNCS. Động lực của sự vận động và phát triển
của các hình thái kinh tế xã hội đó - theo Học thuyết Mác xít - chính là hoạt động thực tiễn của
con người dưới tác động của các quy luật khách quan. Quá trình phát triển đó là một quá trình
lịch sử tự nhiên. Mác viết “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên”. Phạm trù “tự nhiên” ở đây được đề cập đến để chỉ rõ tính tất yếu của sự
vận động phát triển lịch sử. Đó là sự vận động, phát triển không ngừng của lịch sử xã hội từ
thấp đến cao, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hoặc bất cứ một lực lượng
xã hội nào mà nó do các quy luật kinh tế - xã hội khách quan vốn có của bản thân xã hội quyết
định, mà trong đó trước hết và cơ bản là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất của sự phát triển xã hội
Mác cho rằng không phải quốc gia, dân tộc nào cũng nhất thiết phải trải qua tất cả các hình
thái kinh tế - xã hội đã có trong lịch sử. Do những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định,
một quốc gia, dân tộc nào đó có thể bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nhất định nào đó để
tiến lên một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn. Đó cũng là quá trình lịch sử tự nhiên nhưng
mang tính đặc thù, rút ngắn lịch sử. Tuy nhiên, phát triển rút ngắn đòi hỏi phải có những điều
kiện khách quan và chủ quan mới có thể thực hiện được. Lê-nin cũng đã nói con đường quá độ
lên chủ nghĩa xã hội có thể có những hình thức khác nhau; điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Theo người, hình thức quá độ trực tiếp là con đường phát triển
tuần tự từ CNTB lên CNXH; còn hình thức quá độ gián tiếp là con đường phát triển rút ngắn,
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH. Mọi sự phát triển rút ngắn đều phải nhằm mục
đích cuối cùng là tạo ra sự phát triển vượt bậc, thậm chí là nhảy vọt của lực lượng sản xuất và

nước đang phát triển, vừa là thời cơ vừa là thách thức. Đối với nước ta, thời cơ lớn hơn thách
thức. Chúng ta chẳng những có khả năng tiếp cận những tiến bộ KHKT, tranh thủ nắm bắt và
vận dụng những thành tựu khoa học và công nghệ sản xuất, trình độ sản xuất, kỹ năng lao
động, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của con người để nhanh chóng xây dựng lực lượng
sản xuất hiện đại mà còn có khả năng tạo ra thời cơ nếu ta có đường lối đúng, có bản lĩnh để
thực hiện đường lối đó.
Trong thời gian qua nền kinh tế ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng như:
tăng trưởng GDP ở nhịp độ cao, (2001 là 6,9%; năm 2002 là 7,04%; 2003 là 7,24%), cơ cấu
kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ
trọng nông nghiệp. Cơ cấu của từng ngành cũng có sự chuyển dịch dần theo hướng phát huy lợi
thế cạnh tranh hơn đối với thị trường trong và ngoài nước. Tỉ lệ huy động vốn cho đầu tư phát
triển có xu hướng tăng (năm 2003 chiếm tới 35,6% GDP), các nguồn lực trong xã hội được huy
động tốt hơn, đặc biệt trong khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tiến bộ, năng
lực sản xuất của nhiều ngành tăng lên.
Về chủ quan, Qua 20 năm thực hiện những nội dung đối mới đó, nền kinh tế nước ta đã có
những bước chuyển tích cực trong việc xây dựng nền tảng cơ sở vật chất cho CNXH. Tăng
trưởng kinh tế nhanh, đặc biệt là trong 10 gần đây (tăng gấp hai lần từ 1991-2000 với tỷ lệ tăng
trưởng bình quân 7,5%/năm), cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, mở rộng quan hệ quốc
8
tế. Tăng trưởng GDP của Việt Nam. Tỷ lệ đói nghèo giảm với khoảng 25 triệu người thoát khỏi
đói nghèo. Song song với sự thành tựu về kinh tế là sự đổi mới về kiến trúc thượng tầng bắt đầu
từ việc đổi mới về chính trị. Đảng cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ một bản lĩnh chính trị vững
vàng và đường lối lãnh đạo đúng đắn. Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc điều hành và
quản lý đất nước. Chúng ta đã có bài học của ba mươi năm lãnh đạo xây dựng kinh tế trong hòa
bình với tư cách của một Đảng cầm quyền duy nhất của một nước có hơn 80 triệu dân vốn cần
cù, thông minh và giàu nghị lực sáng tạo. Đó là những yếu tố chủ yếu đảm bảo sự thành công
cho sự nghiệp xây dựng CNXH
Qua nghiên cứu, tổng kết thực tiển với tư duy quan điểm mới Đảng ta đã nhìn nhận vấn đề
bỏ qua “giai đoạn” hay “thời kỳ” đơn thuần là rút ngắn thời gian trên cơ sở có được những điều
kiện, thời cơ và tiền đề vật chất quan trọng nhất đó là sự phát triển của LLSX và sự trưởng

quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.”.
Tóm lại ”XD CNXH bỏ qua chế độ TBN tạo ra sự biến đổi về chất của XH, trên tất cả các
lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn phức tạp, cho nên phải trãi qua một thời kỳ quá độ lâu dài
với nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế XH có tính chất quá độ” là quan điểm
đúng đắn của Đảng ta trong tình hình mới. Phù hợp với tiến trình lịch sử – tự nhiên của sự phát
triển xã hội chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự mà còn bao hàm cả sự bỏ
qua trong những điều kiện lịch sử nhất định, một hoặc vài hình thánh kinh tế – xã hội nhất định.
9
Bỏ qua giai đoạn TBCN ở Việt Nam là một điển hình sinh động, đó là quá trình lịch sử – tự
nhiên đặc thù
10


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status