Câu 1: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức từ đó rút ra quan điểm
khách quan va vận dụng để phân tích, phê phán bệnh chủ quan duy ý chí
(bệnh bảo thủ trì trệ) và phân tích bài học kinh nghiệm sau đây của Đảng ta:
Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
khach quan, năng cao năng lực nhận thức và họat động theo quy luật ( Văn kiện
ĐH6- Trang 30)
Bài làm
Đối với Đảng ta, kiên trì, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin
là vấn đề có tính nguyên tắc số một. Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin có nghĩa
là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin , vận dụng
một cách đúng đắn , thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa
Mác – Lênin một cách sáng tạo. Nghị Quyết đại hội VIII của Đảng nêu rõ “ Đảng làm
giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm vững và
vận dụng sáng tạo những luận điểm cơ bản và phương pháp luận chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng HCMinh, đồng thời phải không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực
tiển sinh động, từ phong trào CM của quần chúng”. NQ ĐH IX của Đảng tiếp tục khẳng
định “lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tường HCM làm nền tảng tư tường, kim chỉ nam
cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của
Đảng ta”. Triết học Mác – Lênin đã giải quyềt tòan bộ các vần đề nêu trên, trong đó
mối quan hệ VC va YT .
Bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ là những sai lầm khá phổ
biến ở nước ta trong thời kỳ trước đổi mới và nhiều nước XHCN trước đây, nó
gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc tìm hiểu
nguyên nhân, những biểu hiện của 2 căn bệnh này trên cơ sở lý luận triết học về mối
quan hệ vật chất và ý thức để tìm ra những giải pháp khắc phục và tránh những sai
lầm của nó trong thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết đối với Đảng , nhất là trong giai
đoạn hiện nay, giai đoạn mà đất nước đang đứng trước những thử thách lớn lao của
thời đại, hoàn cảnh lịch sử đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải không ngừng đổi mới và
không cho phép mắc phải những sai lầm như đã có trước đây .
Bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ xuất phát từ khuynh hướng sai
lầm, cực đoan trong việc nhận thức mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
nhưng nó lại có tính độc lập tương đối, sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự
phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh sáng tạo chủ động, là quá trình
con người không ngừng tìm kiếm tích lũy những hiểu biết mới ngày càng đầy đủ hơn,
sâu sắc hơn về mặt bản chất, quy luật vận động và phát triển sự vật . Vì vậy, sau khi
đã hình thành, ý thức có vai trò định hướng cho con người trong việc xác định mục
tiêu, phương hướng tìm ra biện pháp lựa chọn các phương án, hành động tối ưu nhất
và sử dụng các điều kiện vật chất cần thiết để làm biến đổi chúng đạt đến mục tiêu đã
đặt ra. Mặt khác sự tác động của ý thức đến vật chất có thể theo hai khuynh hướng :
Một là ý thức sẽ thúc đẩy cùng chiều đối với sự phát triển của sự vật nếu ý thức phản
ánh đúng hiện thực, khách quan nếu con người nhận thức đúng quy luật khách quan,
có ý chí động cơ hành động đúng và thông qua cơ chế tổ chức hoạt động phù hợp
trong thực tiễn. Hai là ý thức kìm hảm, cản trở, thậm chí phá hoại sự phát triển bình
thường của sự vật nếu ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, ý thức lạc
hậu, phản khoa học, phản động, nếu con người không có ý chí, không nhiệt tình, động
cơ sai …Tuy vậy, sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với mức độ nhất
định, nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất.
Từ quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức một
nguyên tắc được rút ra, đó là nguyên tắc khách quan. Nguyên tắc khách quan trước
nhất thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức, nó đòi hỏi trong hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan, “phải lấy thực thể khách quan làm căn
cứ cho mọi hoạt động của mình”. Tuy nhiên, việc thực hiện nguyên tắc khách quan
không có nghĩa là quan điểm khách quan xem nhẹ, tính năng động, sáng tạo của ý
thức mà nó còn đòi hỏi phát phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố
chủ quan. Bởi vì quá trình đạt tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính
năng động, sáng tạo trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng
bước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự
biến đổi từ cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của
2
con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách quan,
phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự
dẫn đầu của Đảng” (Văn kiện Đại hội Đảng lần VI trang 30). Đây là sự thừa nhận vai
trò quyết định của vật chất và các quy luật khách quan vốn có của nó trong việc đề ra
các chế định, chủ trương, chính sách vào thực tế của công cuộc xây dựng đất nước
ta.
Đánh giá về những sai lầm do chủ quan duy ý chí của Đảng trong thời kỳ này,
Văn kiện Đại hội VI đã nêu “Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trãi qua nhiều chặng đường
và do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội muốn bỏ qua những bước đi cần thiết”.
Văn kiện Đại hội lần thứ VI cũng đã chỉ rõ Đảng đã “nóng vội chạy theo nguyện vọng
chủ quan”, “giản đơn hóa, muốn thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện
nước ta mới có chặng đường đầu tiên”. Do chủ quan duy ý chí, trong nhận thức và
hành động của Đảng trong giai đoạn này vi phạm các quy luật khách quan, biểu hiện
qua một số lĩnh vực cụ thể được Văn kiện ĐH Đảng lần VI đánh giá như sau : “chưa
3
thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta tồn tại trong một thời
gian tương đối dài” nên “đã có những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành
phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa”, “chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về
sự phù hợp giữa quan hệ SX với tính chất và trình độ SX” nên “có lúc đẩy mạnh
quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp
nhẹ” hoặc “đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết”.
Bênh bảo thủ trì trệ được biểu hiện qua việc “chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã
lỗi thời”, trong công tác tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm
đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo và
quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng
tính hình thức ” Ngoài ra, cũng do chủ quan duy ý chí và bảo thủ trì trệ nên trong kinh
tế, Đảng ta đã “duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp” -
một cơ chế "gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ
nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí", “có nhiều chủ trương sai trong
việc cải cách giá cả, tiền lương, tiền tệ “ cùng với “việc bố trí cơ cấu kinh tế trước hết
4
Một là phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những hình thức,
bước đi, cách làm phù hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm mà trước hết là
đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng quy luật, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của từng Đảng viên. Đây là cuộc cách mạng triệt để, sâu sắc
và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội…), từ đổi mới quan niệm, tư duy lý luận đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức
cán bộ, phong cách và lề lối làm việc. Để đảm bảo sự lãnh đạo thành công trong công
cuộc đổi mới này thì Văn kiện Đại hội Đảng lần đã xác định : “Đảng phải luôn xuất
phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự
dẫn đầu của Đảng. Năng lực nhận thức theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng” . Trên cơ sở hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa
kinh tế và tìhn hình chính trị và ổn định xã hội, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ
đổi mới về tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế,
khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ
vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để
đổi mới các mặt khác của đời sống XH. Bên cạnh đó, với quan điểm tôn trọng và hành
động theo quy luật khách quan, trong các chủ trương, chính sách kinh tế từ sau Đại
hội Đảng lần VI đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cụ thể như : Đại hội VI xác
định xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn, không
thể làm xong trong một thời gian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật. Văn kiện
Đại hội xác định: "Nay phải sửa lại cho đúng như sau: Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của lực lượng sản xuất". Đại hội cũng phát hiện một vấn đề lớn có tính lý luận, hoàn
toàn mới mẻ: "Kinh nghiệm thực tiễn chỉ rõ: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ
trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển
không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất". Trên cơ sở đó, Đại hội xác định: "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng
nước ta đi đến thắng lợi là: “ đường lối đúng đắn của đảng là nhân tố quyết định thành
công của đổi mới. Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, tổng kết thực tiễn
và nghiên cứu lý luận, hoàn thiện đường lối đổi mới; thường xuyên xây dựng chỉnh
đống Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng;
lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch vững
mạnh”
Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua các chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước ta, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được ổn
định và nâng cao, chế độ XHCN ngày càng củng cố và đất nước đã ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước chuyển biến tích cực trong tất cả
các lĩnh vực đời sống xã hội.
Tóm lại, từ những phân tích trên cho thắng lợi của công cuộc đổi mới có được là
dựa trên một nền tảng tư tưởng đúng, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh mà trong đó sự quán triệt và vận dụng đúng quy luật, nguyên tắc khách quan là
điều kiện đảm bảo sự dẫn dắt đúng đắn của Đảng
Câu 2 : Phân tích mối liên hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra
quan điểm thực tiễn; vận dụng quan điểm đó để phân tích, phê phán bệnh kinh
nghiệm, giáo điều và để phân tích phương hướng đổi mới sau đây của Đảng
ta : “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm
làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước
cụ thể hóa, bổ sung phát triển đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh với
khuynh hướng, tư tưởng sai trái”(Văn kiện Đại hội IX, trang 141)
Bài làm
Đối với Đảng ta, kiên trì, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin
là vấn đề có tính nguyên tắc số một. Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin có nghĩa
là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin , vận dụng
một cách đúng đắn , thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa
Mác – Lênin một cách sáng tạo. Nghị Quyết đại hội VIII của Đảng nêu rõ “ Đảng làm
giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm vững và
vận dụng sáng tạo những luận điểm cơ bản và phương pháp luận chủ nghĩa Mác –
Ttrong đó, hoạt động SX vật chất là hoạt động có ý nghĩa quyết định các hình thức
khác, hoạt động biến đổi chính trị xã hội là hình thức cao nhất và hoạt động thực
nghiệm khoa học là hình thức đặc biệt nhằm thu nhận những tri thức về hiện thực
khách quan.
Lý luận – theo Chủ tịch Hồ chí Minh – là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người,
sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội đã được tích lũy lại trong quá trình lịch
sử của con người. Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức đồng thời thể hiện trình độ
cao của nhận thức, của những tri thức về bản chất, quy luật của hiện thực và vì vậy,
bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với
nhau. Trong mối quan hệ đó, thực tiễn có vai trò quyết định, vì thực tiễn là hoạt động
vật chất, còn lý luận là sản phẩm của hoạt động tinh thần. Vai trò quyết định của thực
tiễn đối với lý luận thể hiện ở chổ : chính thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích,
là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức và lý luận; nó cung cấp chất liệu phong phú sinh
động để hình thành lý luận và thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được vật
chất hóa, hiện thực hóa, mới có sức mạnh cải tạo hiện thực. Lý luận mặc dù được
hình thành từ thực tiễn nhưng nó có vai trò tác động trở lại đối với thực tiễn. Sự tác
7
động của lý luận thể hiện qua vai trò xác định mục tiêu, khuynh hướng cho hoạt động
thực tiễn (lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn), vai trò điều chỉnh hoạt động
thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn. Lý luận cách mạng có vai trò
to lớn trong thực tiễn cách mạng. Lênin viết “không có lý luận cách mạng thì không thể
có phong trào cách mạng”. Như vậy, giữa lý luận và thực tiễn có sự liên hệ, tác động
qua lại, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển và gắn bó hữu cơ với nhau do đó sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên lý cao nhất của triết học Mác Lênin. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực
tiễn mù quáng”, “Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suôn”
Từ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, ta rút ra được quan điểm
thực tiễn. Quan điểm thực tiễn đòi hỏi khi xem xét sự vật hiện tượng phải gắn với
thực tiễn, phải theo sát sự phát triển của thực tiễn để điều chỉnh nhận thức cho sự phù
chủ nghĩa. Bệnh giáo điều chủ nghĩa là tuyệt đối hóa lý luận, coi thường kinh nghiệm
thực tiễn, xem lý luận là bất di bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên
lý chung trừu tượng, không chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vận
8
dụng lý luận. Bệnh giáo điều có 2 dạng : giáo điều lý luận và giáo điều kinh nghiệm.
Bệnh giáo điều lý luận là việc thuộc lòng lý luận, cho rằng áp dụng lý luận áp dụng vào
đâu cũng được không xem xét điều kiện cụ thể của mình. Bệnh giáo điều kinh nghiệm
là việc áp dụng nguyên si rập khuôn mô hình của nước khác, của địa phương khác
vào địa phương mình mà không sáng tạo, chọn lựa …
Thực chất của những sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều là vi
phạm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Cho nên để khắc phục bệnh kinh
nghiệm, giáo điều trong công tác lý luận cần từ bỏ lối nghiên cứu một cách kinh viện
thuần túy, cần chống lại lối tư duy bắt chước sao chép rập khuôn, thoát ly thực tế, bất
chấp những đặc điểm truyền thống và điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc
đồng thời phải tăng cường tổng kết thực tiễn bổ sung phát triển lý luận.
Một trong những sai lầm trong đường lối chính sách của Đảng trong thời kỳ
trước đổi mới cũng xuất phát từ căn bệnh giáo điều. Trong thời kỳ này, đã có lúc ta
bắt chước rập khuôn mô hình CNXH ở Liên Xô trong việc thành lập các bộ ngành của
bộ máy nhà nước (ở Liên Xô có bao nhiêu Bộ, Ngành ta cũng có bấy nhiêu Bộ
ngành), hoặc về công nghiệp hóa cũng vậy, ta chỉ chú ý tập trung phát triển công
nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp nhẹ Hoặc theo học thuyết của
Mác thì phải xóa bỏ tư hữu, do đó khi áp dụng vào nước ta, Đảng đã có biểu hiện
nóng vội trong việc tiến hành cải tạo XHCN nhằm xóa tất cả các thành phần kinh tế
mà không thấy được rằng "Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ
quá độ", sự có mặt của nhiều thành phần kinh tế với các mối quan hệ tác động qua lại
của nó sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này. Chính những sai
lầm này là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm
trọng trong thời kỳ trước đổi mới.
Nhận thức được những sai lầm trên, từ ĐH Đảng lần VI (1986) Đảng đã khởi
xuớng công cuộc đổi mới toàn diện tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó
Vì thế ĐH VII của ĐCS VN khẳng định : “Chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn,
phát triển lý luận thì công cuộc đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ
động và sáng tạo, bớt được những sai lầm và những bước đi quanh co, phức
tạp”.
Hơn lúc nào hết muốn lãnh đạo công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi Đảng ta phải
nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực tiễn từ việc phải hiểu và nắm
vững quy luật vận động của đời sống XH ta, của bản thân Đảng cho đến hiểu biết về
thế giới về thời đại. Tổng kết thực tiễn tổng kết những cái mới, đang hàng ngày hàng
giờ nảy sinh trong đời sống đất nước và cả thế giới tiếp thu những thành quả trí tuệ
của loài người. Chỉ trên cơ sở ấy Đảng mới có thể đưa ta đến đường lối chủ trương
đúng đắn tránh được những sai lầm, khuyết điểm và làm cho đường lối chủ trương
được thực hiện thắng lợi.
Tóm laị, cội nguồn của những đột phá tạo ra những bước tiến vượt bật của xã hội
loài người có sự đóng góp của lý luận đích thực. Tuy nhiên, lý luận phải gắn với thực
tiễn, phải được kiểm tra, đúc kết, khái quát từ thực tiễn thông qua việc tổng kết thực
tiễn. Chính từ nguyên tắc tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận và sự vận dụng đúng
quan điểm thực tiển sẽ giúp chúng ta đạt được những thành công trong cuộc sống,
trong suy nghĩ, hành động cũng như trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới và
xây dựng đất nước
Câu 3: Nội dung của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vời trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Vận dụng để phân tích khuyết điểm, yếu kém
trong việc nhận thức và vận dụng quy luật này trong thời kỳ trước đổi mới và để
phân tích phương hướng đổi mới sau đây của Đảng ta “Đẩy mạnh công nghiệp
hóa - hiện đại hóa
1
, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
2
, đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất
- Trước đổi mới: (nêu trong VK đại hội VI và Cương lĩnh 1991): Trong nhận thức
cũng như trong hành động, những người hoạch định đường lối kinh tế chưa nắm
vững và vận dụng đúng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, áp
đặt chủ quan của mình theo hướng QHSX đi trước LLSX Cụ thể: 1) Xóa bỏ ngay nền
kinh tế nhiều thành phần . 2) Nóng vội trong cải tạo XHCN.3) Có lúc đẩy mạnh quá
mức việc xd công nghiệp nặng. 4) Duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp. 5) Có nhiều chủ trương sai trong cải cách giá cả, tiền tệ, tiền
lương.
- Sau đổi mới: (nêu trong VK đại hội VI đến X): Nhận thức được sai lầm trước đó,
vận dụng đúng quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Cụ thể: 1)
Thừa nhận sự tồn tại tất yếu của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường theo có định hướng XHCN trong thời kỳ quá độ . 2) Phát triển LLSX hiện
đại gắn với xây dựng QHSX trên 3 mặt : sở hữu, quản lý và phân phối. 3) Phát triển
LLSX phải thông qua CNH, HĐH gắn liền với kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN, gắn với phát triển kinh tế tri thức. 4) Thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại rộng
mở, hòa nhập, gắn chặt việc xd nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế. 5) Giải phóng mạnh mẽ và phát triển LLSX đồng thời với phát triển nhiều
thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu.
Trả lời
Mác-Ăngghen, Lê nin luôn luôn nhấn mạnh vai trò sản xuất vật chất xã hội trong
quá trình phát triển của nhân loại, đặc biệt là sự phát triển của LLSX, nhưng không
bao giờ xem nhẹ vai trò của tính tích cực của con người và kiến trúc thượng tầng. Từ
tiếp cận hiện thực của mối quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần XH ,
để XH phát triển theo quy luật tự nhiên, cần nhận thức khách quan khoa học nguồn
gốc, động lực của sự phát triển, và nhất thiết phải thủ tiêu mọi kìm hãm về xã hội, giai
cấp, dân tộc để động lực XH trong LLSX luôn phát triển. Nếu chúng ta thấm nhuần
sâu sắc, biện chứng quá trình vận động của từng HT KT-XH cũng như quá độ của một
HT KT-XH này đến một HT KT-XH cao hơn thì chắn chắn dễ tiếp thu việc phát triển
11
KT nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN. Vì chủ nghĩa Mác
quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu đối với tư liệu sản xuất (gọi tắt là
quan hệ sở hữu), quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức quản lý sản xuất
vào trao đổi cho nhau trong sản xuất (gọi tắt là quan hệ quản lý), quan hệ giữa người
với người trong việc phân phối sản phẩm xã hội (gọi tắt là quan hệ phân phối). Trong
chỉnh thể quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu giữ vai trò quyết định đối với các quan hệ
khác, nó chính là mặt pháp lý của quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ quản lý và phân
phối cũng rất quan trọng, vai trò của nó biểu hiện ở chỗ nó có thể củng cố quan hệ sở
hữu nhưng cũng có thể làm xói mòn, đổ vỡ quan hệ sở hữu. Vì vậy, nhận thức quan
hệ sản xuất trong quan hệ với lực lượng sản xuất phải thấy rõ tính chỉnh thể của nó,
không được có quan điểm thiếu đồng bộ.
Khi chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng : phương thức sản xuất là nhân tố
quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội thi điều đó có nghĩa là phải nhận thức sự
tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ SX. Mối quan hệ cơ bản và
biện chứng giữa 2 yếu tố này hình thành nên quy luật kinh tế - xã hội tất yếu, phổ
biến, quyết định sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Đó là quy
12
luật “về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất
Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX thể hiện
trước hết ở vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX. Điều này thể hiện qua việc lực
lượng sản xuất ở trình độ và tính chất nào thì nó yêu cầu tất yếu một kiểu quan hệ sản
xuất thích ứng phù hợp với nó mà không đòi hỏi cao hơn hoặc thấp hơn nó. Mối quan
hệ sản xuất chỉ tồn tại chỉ hình thành và tồn tại trên cơ sở một lực lượng sản xuất nhất
định và chịu sự quyết định của lực lượng sản xuất ấy. Điều đó cũng có nghĩa là quan
hệ quan hệ sản xuất mang tính khách quan, do vậy, con người không có quyền tự do
lựa chọn quan hệ sản xuất theo ý muốn chủ quan của mình.Ví dụ : nếu lực lượng sản
xuất ở trình độ thủ công thì nó chỉ đòi hỏi quan hệ sản xuất cá thể, tư hữu, tự cung tự
cấp, tự quản lý theo sản xuất nhỏ. Nhưng nếu lực lượng sản xuất ở trình độ cơ khí
hóa, tính chất xã hội hóa cao (do dây chuyền công nghệ khép kín, có sự chuyên môn
hóa cao) thì nó đòi hỏi tất nhiên phải có hình thức quan hệ sản xuất mang tính xã hội
Mặc dù khẳng định lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định đối với quan hệ SX,
Triết học Mác Lênin cũng chỉ ra rằng quan hệ SX không hoàn toàn phụ thuộc một
cách thụ động vào lực lượng SX, nó có vai trò độc lập tương đối trong sự tác động trở
13
lại lực lượng SX. Sự tác động của quan hệ SX đối với lực lượng SX diễn ra theo 2
hướng : phù hợp hoặc không phù hợp, điều này do quan hệ SX mang tính ổn định
tương đối và biến đổi chậm hơn so với lực lượng SX, mặt khác còn do trình độ năng
lực của chủ thể SX, do quan hệ lịch sử giai cấp chi phối
Sự tác động của quan hệ SX gọi là phù hợp với lực lượng SX nghĩa là quan hệ
sản xuất sau khi hình thành và tồn tại, nó đáp ứng đúng đòi hỏi tất yếu của lực lượng
sản xuất và sau đó nó có vai trò tạo ra sự liên kết, kết hợp có hiệu quả hơn giữa các
yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, làm cho tất cả các yếu tố ấy phát huy tất cả tiềm
năng, sức mạnh vốn có của nó, nhờ vậy tiềm năng của người lao động và tư liệu SX
được khai thác tốt hơn, tạo ra năng suất lao động cao hơn. Với ý nghĩa đó, quan hệ
sản xuất là hình thức phát triển, là địa bàn rộng lớn, là động lực phát triển thúc đẩy sự
phát triển của lực lượng sản xuất.
Ngược lại, nếu quan hệ SX tác động không phù hợp với đòi hỏi tất yếu của lực
lượng sản xuất thì nó sẽ kìm hãm, phá hoại sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn
đến những hậu quả kinh tế xã hội nghiêm trọng. Biểu hiện của sự không phù hợp thể
hiện ở 2 khía cạnh : một là khi quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu so với trình độ mới
của lực lượng sản xuất, hai là trường hợp chú thể dùng ý chí chủ quan của mình áp
đặt một “mô hình” quan hệ sản xuất”, “cao hơn” trình độ lực lượng sản xuất. Cả 2
trường hợp này đều kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng không có
nghĩa là lực lượng sản xuất đứng im tại chổ với lực lượng SX thì nó sẽ kìm hãm, thậm
chí phá hoại đối với lực lượng sản xuất. Tình hình đó làm cho SX có thể bị đình đốn,
có khi dẫn đến khủng hoảng KT-XH nghiêm trọng
Tóm lại, thực chất của quy luật là lưc lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ SX phải
luôn phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX. Song do nhiều yếu tố bản thân quan
hệ SX chi phối cho nên QHSX phù hợp hoặc không phù hợp với LLSX. Do vậy, hiểu
phù hợp ở đây là bao trùm mâu thuẫn, sự giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX
LLSX thể hiện ở chỗ : không đồng bộ trong các ngành, trong cơ cấu kinh tế, trong bản
thân 3 mặt của quan hệ SX. Trong việc tổ chức hình thức sản xuất, chúng ta đã có xu
hướng tổ chức quá nhanh mô hình sản xuất, tập đoàn, hợp tác xã … với quy mô lớn
mà không tính đến khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý và năng lực của cán
bộ. “Về nội dung cải tạo, thường nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu
sản xuất mà không coi trọng giải quyết các vấn đề tổ chức quản lý và chế độ phân
phối”. Mặt khác chúng ta cũng không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ. Do đó không chấp nhận kinh tế thị trường, đa dạng hoá
hình thức sở hữu, quản lý phân phối. Không thấy được đòi hỏi của lực lượng SX đang
ở trong tình trạng đan xen những trình độ, tính chất khác nhau để mà xác lập quan hệ
SX. Bỏ qua tư bản chủ nghĩa nhưng lại không thấy tính chất quá độ là đan xen tồn tại
lâu dài của cả lực lượng SX, quan hệ SX và kiến trúc thượng tầng. Một sai lầm thiếu
sót khác là ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp vào quan hệ
SX vốn đã xác lập không phù hợp với lực lượng SX, do đó cơ chế này đã làm ngưng
động tính sáng tạo của người lao động, kìm hãm LLSX và đã coi thường tính tất yếu
kinh tế của SX nhỏ đang chuyển sang SX lớn, nghĩa là thông qua SX hàng hoá thị
trường mới đi lên được
Cương lĩnh xây dựng đất nước đã nêu rõ : “Trong cách mạng XHCN Đảng ta đã
có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối xác định đúng mục tiêu và
phương hướng XHCN. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy
luật khách quan, nóng vội cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền KT nhiều thành phần, có lúc
đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu, cơ chế quản lý
KT tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền
tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ chức các bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm
trọng”.
Từ những sai lầm đó đã dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lạm
phát đạt đến mức khủng khiếp 774% (những năm 80) sản xuất bị đình trệ. Qua thực
tiễn cuộc sống, Đảng ta đã rút ra được những bài học thấm thía là không thể nóng
vội, làm trái với quy luật khách quan.
Để khắc phục những sai lầm trên và vận dụng hiệu quả quy luật này, Đại hội 6
tế tri thức. Văn kiện Đại hội Đảng lần 9 cũng đã chỉ rõ nước ta đang từng bước xây
dựng và phát triển nền kinh tế tri thức : ”Phát huy những lợi thế của đất nước, tận
dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là nghệ công nghệ
thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức độ
cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước
phát triển kinh tế trí thức” Trang 91 – VK ĐH Đảng lần IX). Việc phát huy nguồn lực trí
tuê và sức mạnh của lực lượng SX được thực hiện song song với việc coi trọng phát
triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ xem đây là nền tảng và là động lực
cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Song song đó, do toàn cầu hóa kinh tế đang là xu thế tất yếu trong điều kiện của
cuộc Cách mạng hiện đại ngày nay nên Đảng đã xác định phải kết hợp chặt chẽ việc
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mà mục tiêu trước mắt là hội nhập APTA và là
thành viên chính thức của WTO với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo
những phương hướng “độc lập, tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có
tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có mức tích lũy ngày càng cao với .từ nội bộ nền kinh
tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh, kết cấu hạ tầng ngày càng hiện
đại và có một ngành công nghiệp nặng then chốt, có năng lực nội sinh về KH-
CN ”
Về quan hệ SX. Đại hội VII đã nêu : để phù hợp với sự phát triển của LLSX,
chúng ta phải thiết lập từng bước quan hệ SX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng
về hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đại hội
VIII của Đảng đã đề ra chủ trương : “Nếu CNH, HĐH tạo nên LLSX cần thiết cho chế
độ XH mới thì việc phát triển nền KT nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống
QHSX phù hợp”. Các văn kiện Đại hội Đảng cũng đã khẳng định các thành phần kinh
16
tế là những bộ phận cấu thành phần kinh tế thống nhất, được phát triển lâu dài, hợp
tác và cạnh tranh lành mạnh với nhau. Trong xu hướng vận động chung, thành phần
kinh tế Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát
triển. Chủ trương này đã khơi dậy tiềm năng SX , khơi dậy năng lực sáng tạo, chủ
là yếu tố quyết định.
- Ý thức XH ( YTXH): là mặt tinh thần của đời sống XH, bao gồm những quan
điểm , tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng nảy sinh trong TTXH và phản ánh
TTXH trong những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định.
- Quan hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH:
+ Tồn tại XH quyết định ý thức XH: 1) TTXH nào thì YTXH ấy; 2) Khi TTXH thay
đổi ( nhất là PTSX) thì những tư tưởng, tình cảm, tâm trạng ( YTXH) sớm muộn cũng
thay đổi theo.
+ Ý thức XH có tính độc lập tương đối: 1) YTXH thường lạc hậu so với tồn tại XH
do nó không phản ánh kịp TTXH nhưng YTXH có thể vượt trước TTXH khi nó phản
17
ánh đúng quy luật khách quan của TTXH ( dự báo được trạng thái , xu hướng vận
động phát triển); 2) YTXH tác động trở lại TTXH theo hai hướng: hướng tích cực ( ý
tưởng khoa học và tiến bộ) - thúc đẩy TTXH phát triển ; hướng tiêu cực ( ý tưởng
không khoa học, không tiến bộ) - kìm hãm sự phát triển của TTXH.
Sự tác động trở lại này tùy thuộc vào : tính đúng đắn- khách quan , mức độ thâm
nhập của YTXH vào TTXH, mức độ vận dụng đúng đắn, sáng tạo YTXH của chủ thể
quản lý XH.
b- Ý nghĩa phương pháp luận:
- Khi nghiên cứu giải quyết các hiện tượng YTXH , trước hết phải xuất phát từ
CSVC, cơ sở kinh tế đã sản sinh ra nó, đồng thời phải xem xét tính độc lập tương đối
của YTXH, thấy được vai trò tác động của những ý tưởng khoa học tiên tiến (Muốn
phát triển YTXH của chế độ XHCN, về lâu dài phải phát triển cơ sở vật chất , cơ sở
kinh tế của nó).
- Phải thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của YTXH đối với quá trình hình thành
nền văn hóa mới và con người mới.Phải kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với
phát triển văn hóa- giáo dục, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, TT. Hồ Chí Minh giữ vai
trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân.
( Xem thêm Đề cương bài giảng trang 347- 350, Văn kiện đại hội X trang 213 -
214 để trả lời câu hỏi thêm về vận dụng vào thực tiễn Việt Nam - Phần trình
điều kiện tự nhiên xung quanh, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số … Trong
các yếu tố cấu thành nên tồn tại xã hội, phương thức SX là nhân tố cơ bản vì nó có
ảnh hưởng quyết định đến sự biến đổi của ý thức xã hội và nó làm thay đổi ý nghĩa
của hoàn cảnh địa lý và điều kiện dân số trong sự phát triển của xã hội.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm toàn bộ những quan
điểm tư tưởng lý luận cùng những tình cảm, tâm trạng, mong muốn, truyền thống …
phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất định.
Căn cứ vào trình độ nhận thức, có thể phân ý thức xã hội thành ý thức xã hội
thông thường và ý thức lý luận (ý thức lý luận làm gia tăng yếu tố khoa học, trí tuệ của
ý thức thông thường). Nói cách khác, ý thức xã hội biểu hiện qua tâm lý xã hội và hệ
tư tưởng.
Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác
nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị xã hội của mỗi giai cấp quy định nên ý thức xã
hội cũng có tính giai cấp, nghĩa là mỗi giai cấp đều có những quan điểm, tư tưởng và
tâm lý riêng, không có ý thức chung cho mọi giai cấp mà chỉ có ý thức chung cho một
giai cấp nhất định. Hệ tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại là hệ tư tưởng của giai cấp
thống trị về kinh tế. Giai cấp thống trị luôn tìm cách hạn chế ý thức của giai cấp bị trị
và truyền bá ý thức của giai cấp hình thành của xã hội.
Khi nghiên cứu về ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đặt ý thức xã hội
trong quan hệ với cơ sở vật chất, với cơ sở kinh tế để nghiên cứu và từ đó khẳng định
ý thức xã hội và tồn tại xã hội có quan hệ biện chứng với nhau.
Trong mối quan hệ đó tồn tại xã hội giữ vai trò quyết định đến nội dung, khuynh
hướng phát triển của ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội,
phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Ý thức xã hội do tồn tại xã hội sinh ra, nội dung của nó là
kết quả của sự phản ánh tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội tác động đến nhận thức của
chủ thể thì hình thành những quan điểm, tư tưởng, nhận định và thái độ của chủ thể.
Sự phản ánh của ý thức xã hội bao giờ cũng xuyên qua một mắt khâu là lợi ích, trong
xã hội có giai cấp đó là lợi ích của giai cấp. Do đó xem xét nội dung của ý thức xã hội
phải gắn chặt chẽ với quan hệ lợi ích. Mặt khác, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại
xã hội nhưng không phải bất cứ tư tưởng nào, một hình thức ý thức xã hội nào cũng
bệnh nhưng một xã hội mất đi ta không thể đem chôn cùng những căn bệnh của nó
được mà những căn bệnh này rữa ra xâm nhập vào những con người đang sống”
Những hiện tượng ý thức lạc hậu tiêu cực không mất đi dễ dàng cho nên sự
nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng xây
dựng ý thức xã hội mới (cách mạng tư tưởng) đấu tranh chống lại những âm mưu và
hành động phá hoại của những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xóa bỏ
những tàn dư ý thức cũ đồng thời ra sức phát huy những truyền thống tư tưởng tốt
đẹp.
Khi khẳng định tính lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, triết học
Mác đồng thời cũng thừa nhận rằng trong những điều kiện vật chất nhất định, tư
tưởng của con người đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước
sự phát triển của tồn tại xã hội, phản ánh đúng quy luật vận động và phát triển của tồn
tại xã hội. Từ đó nó đưa ra các dự báo tương lai một cách khoa học, giúp con người
xác định được mục tiêu và lựa chọn những giải pháp, định hướng cho việc tổ chức chỉ
đạo hoạt động thực tiễn của con người để đạt được mục tiêu đó. Tuy nhiên khi nói tư
tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại xã hội, dự kiến được quá trình khách quan
của sự phát triển xã hội thì không có nghĩa là trong trường hợp này ý thức xã hội
không còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa. Tư tưởng khoa học tiên tiến không thoát ly
tồn tại xã hội mà phản ánh chính xác, sâu sắc mối quan hệ tất yếu, bản chất của tồn
tại xã hội.
Ý thức xã hội của một thời đại bao giờ cũng phản ánh đời sống vật chất của thời
đại đó, đồng thời là sự kế thừa của những giá trị tinh thần mà các thế hệ trước đó tích
lũy được. Quan hệ kế thừa nói lên sự phát triển liên tục về tư duy giữa các thế hệ, tuy
nhiên nó không phải là việc sử dụng kế thừa máy móc mà trên cơ sở “lọc bỏ”. Kế thừa
và lọc bỏ là biện chứng của sự phát triển của ý thức xã hội, nội dung kế thừa hoặc lọc
bỏ xuất phát từ quan hệ về lợi ích và nhu cầu của giai cấp chi phối. Những giai cấp
khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước. Vì vậy,
khi tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức thì không những phải vạch
ra tính chất phản khoa học, phản tiến bộ của những trào lưu tư tưởng phản động
20
trò động lực của những tư tưởng khoa học, tiến bộ.
Từ cơ sở lý luận trên, trong công cuộc cải cách đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở nước ta, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “Tăng trưởng kinh tế đi lên gắn
liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi
trường xã hội”
Đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội này của Đảng xuất phát từ nhận
thức rõ vai trò quyết định của kinh tế đối với ý thức xã hội. Trên con đường quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định phát triển kinh tế bằng con đường công
nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm. Để thực hiện được nhiệm vụ này và
bảo đảm sự phát triển toàn diện của xã hội thì đi đôi với tăng trưởng kinh tế phải phát
triển văn hóa và giáo dục nhằm phát huy mọi nguồn lực tinh thần của người Việt Nam.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW tại Đại hội VII chỉ rõ : phải kết hợp hài
hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, giữa đời sống vật chất và
đời sống tinh thần của nhân dân, coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện
21
tốt chính sách xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Như vậy, với vai trò là
nguồn gốc sản sinh ra ý thức xã hội, nền kinh tế phát triển mạnh tạo điều kiện và là
tiền đề cho việc lành mạnh hóa các QHSX, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của từng gia
đình và của cả dân tộc.
Đại hội IX của Đảng cũng đã khẳng định con đường đi lên CNXH ở nước ta là
“Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân”. Nó vừa là
mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội.
Trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, những tàn dư của tư
tưởng cũ vẫn còn, mặt tích cực và tiêu cực trong tình hình tư tưởng trong Đảng và
trong nhân dân hiện nay vẫn còn đan xen nhau, trong đó mặt tích cực là cơ bản, đã và
đang quyết định chiều hướng phát triển của xã hội, là nguyên tố quan trọng tạo nên
thắng lợi của cuộc đổi mới đất nước. Tính tích cực năng động sáng tạo của các tầng
phải biết chọn lọc, tiếp thu, kế thừa những thành quả văn minh, những di sản quý giá
do loài người tạo ra bao thế hệ những thành tựu văn hóa, khoa học hiện đại đồng thời
22
cũng kiên quyết chống chủ nghĩa hư vô và khuynh hướng siêu giai cấp trong việc kế
thừa di sản để lại
Việc tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến việc gia tăng hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh
tế gắn liền với hiệu quả xã hội. Việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế tạo cơ hội cho mọi
tầng lớp nhân dân tự do làm ăn theo pháp luật sẽ là một tiến bộ về mặt xã hội, là thực
hiện dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế, từ đó giải quyết tốt hơn việc làm thu nhập và
đời sống tạo tiền đề vật chất cho việc xử lý các vấn đề xã hội. Tuy nhiên tăng trưởng
kinh tế tự nó không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội trong đó có sự phân
hóa giàu nghèo là không tránh khỏi. Do đó, trong đường lối phát triển kinh tế xã hội,
một mặt Đảng và Nhà nước ta chủ trương bảo vệ và khuyến khích công dân làm giàu
hợp pháp, được hưởng thụ văn hóa, giáo dục đào tạo, chăm lo y tế, được hưởng thụ
xứng đáng với công sức, tiền của bỏ vào sản xuất, chống tư tưởng bình quân, ỷ lại,
đãi ngộ xứng đáng tài năng; một mặt Đảng và Nhà nước phải chăm lo việc thực hiện
phân phối công bằng theo lao động, mở rộng phúc lợi xã hội, đổi mới tốt chính sách
bảo hiểm xã hội, bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, bảo đảm nhu cầu
thuốc chữa bệnh. Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo,
tạo phong trào đoàn kết giúp đỡ trong nhân dân theo truyền thống “lá lành đùm lá
rách” tương thân tương ái đùm bọc lẫn nhau. Đẩy mạnh hơn nữa chống tham nhũng,
bất công xã hội nghiêm trọng hiện nay. Cải cách chế độ tiền lương để người lao động
hăng hái làm việc đủ sống và nâng cao mức sống, mức đóng góp cho xã hội.
Ngược lại chính việc giải quyết tốt những vấn đề xã hội là điều kiện quyết định để
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta không thể sớm có ngay một xã hội tốt đẹp
trong khi kinh tế nước ta còn kém phát triển, năng suất lao động thấp, kinh tế kỹ thuật
còn lạc hậu nhưng ta phải kết hợp ngay từ đầu tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội.
Tóm lại, vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,
Đảng đã xác định đúng đắn đường lối phát triển kinh tế gắn chặt với công bằng xã hội
và phát triển mạnh mẽ văn hóa giàu bản sắc dân tộc ở nước ta, đó là điều kiện đảm