1
Vấn đề 1 : Phân tích và chứng minh tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng
sản Việt Nam
Bài làm
Ngay từ khi Đảng cộng sản Việt Nam mới thành lập, trong cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng tháng 2 năm 1930 đã khẳng định con đường, mục tiêu, nhiệm vụ của cách
mạng nước ta. Cương lĩnh đâu tiên trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết các lực lượng
và lãnh đạo phong trào cách mạng từ khi Đảng được thành lập, nội dung của cương lĩnh
nhìn chung luôn được thể hiện nhất quán trong suốt toàn bộ đường lối cách mạng nước
ta qua từng thời kỳ. Việc tìm hiểu để nêu những luận điểm của Cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng là điều cần thiết để khẳng định giá trị khoa học và tính đúng đắn của con
đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Những năm trước 1930, nước ta dưới sự thống trị của thực dân Pháp, hàng ngàn
cuộc đấu tranh yêu nước nổi dậy nhưng rồi lần lượt đều bị đàn áp và đi đến thất bại. Giữa
lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc đã ra đi tìm con đường cứu nước. Năm 1920, Người đến với chủ nghĩa Mác LêNin và
sau đó bắt đầu truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Đến năm 1929,
nhu cầu phải thành lập Đảng Cộng sản đã chín muồi. Từ tháng 3/1929 đến tháng 01/1930
có 3 tổ chức Đảng Cộng Sản lần lượt ra đời ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, tuy chứng tỏ sự
thắng thế của tư tưởng cách mạng vô sản, song trong một nước có 3 tổ chức đảng cộng
sản hoạt động riêng rẽ cũng là một trở ngại cho phong trào cách mạng. Trước tình hình đó,
nhận chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị hợp nhất
các tổ chức cộng sản từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930 tại Cửu Long, Hương cảng, Trung Quốc.
Hội nghị đã thống nhất các nhóm cộng sản thành một đảng và lấy tên đảng là Đảng cộng
sản Việt Nam; đồng thời đã thông qua Chính cương, sách lược, Điều lệ tóm tắt của Đảng và
điều lệ tóm tắt của các đoàn thể quần chúng. Chính cương, sách lược tóm tắt đã trở thành
cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định đường lối cách mạng Việt Nam với những
nội dung cơ bản sau đây:
Một là cách mạng Việt Nam phải là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách
mạng để tiến lên xã hội cộng sản. Thực chất đó là một cuộc cách mạng có 2 giai đoạn :
giai đoạn thứ nhất đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giai đoạn thứ hai là sau khi
(trong đó có công nhân, nông dân và toàn thể dân tộc) với một bên là đế quốc Pháp và tay
sai của chúng. Bên cạnh đó, còn nổi lên mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam - mà đa số là
nông dân - với bọn địa chủ phong kiến chung quanh vấn đề ruộng đất, người dân cày hoàn
toàn phụ thuộc vào địa chủ, bị trói chặt vào mảnh ruộng của giai cấp địa chủ và bị bóc lột
với tô thuế nặng nề.
Từ hai mâu thuẫn cơ bản trên cho thấy rằng nguyện vọng tha thiết và cấp bách của
dân tộc lúc này chính là đánh đổ đế quốc để giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do và
đánh đổ phong kiến để giành dân chủ, giành ruộng đất cho người cày. Chỉ có giải quyết 02
mâu thuẫn này thì xã hội Việt Nam mới thoát khỏi áp bức, bóc lột, phát triển đi lên. Muốn
giải quyết mâu thuẫn đó, nhân dân Việt Nam phải làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ
địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".
Như vậy, cương lĩnh cũng đã xác định rõ mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam
không chỉ dừng lại ở giai đoạn hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà phải thực
hiện tiếp cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, đưa cả nước đi lên CNXH, CNCS – mà thắng
lợi của Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 là sự mở đường cho thời kỳ quá độ lên CNXH
trên toàn thế giới. Về thực chất, đó là con đường cách mạng giành độc lập dân tộc, thực
hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” và các quyền dân chủ chính trị, kinh tế, văn hóa… cho
các tầng lớp nhân dân, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi tới xã hội cộng sản mà chủ nghĩa
xã hội là giai đoạn đầu của nó. Hai cuộc cách mạng này liên quan mật thiết với nhau, ảnh
hưởng và thúc đẩy lẫn nhau, cuộc cách mạng trước thành công tạo điều kiện cho cuộc cách
mạng sau giành thắng lợi. Vì vậy, giữa hai giai đoạn cách mạng này: giải phóng dân tộc và
xây dựng chủ nghĩa xã hội không có bức tường ngǎn cách.
Luận điểm trên đánh dấu sự phát triển vượt bậc tư duy lý luận chính trị của cách
mạng Việt Nam và chứng tỏ rằng, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã nǎm vững nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm cách mạng thế giới, thấu
suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, nhận rõ mối quan hệ biện
chứng giữa cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con đường cách
mạng Cương lĩnh chính trị đã nêu mang tính triệt để và rọi sáng một hướng phát triển mới
của Cách mạng Việt Nam và cũng là một chân lý cách mạng mà Đảng cộng sản Việt Nam
và nhân dân Việt Nam phấn đấu thực hiện : giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải
họ phải trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam với điều kiện là phải giác ngộ lý luận chủ
nghĩa Mác-Lênin, tự tổ chức ra chính Đảng của mình. Tuy nhiên, muốn giữ vững và củng cố được vai
trò lãnh đạo của mình, giai cấp công nhân còn phải lôi cuốn được giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức đi theo mình, trên cơ sở ấy mới tạo ra được hậu thuẫn mạnh mẽ để mở rộng quyền lãnh đạo
của mình đến các tầng lớp nhân dân lao động khác trong toàn xã hội. Với một nước có 90% dân số là
nông dân thì thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho những
thắng lợi của cách mạng. Cùng với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức vốn xuất thân từ nhiều giai cấp,
nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, tuy họ không đại diện cho một phương thức sản xuất nào, không
phải là một lực lượng chính trị độc lập trước các giai cấp và tầng lớp xã hội khác, do đó họ không có
hệ tư tưởng riêng. Song đội ngũ trí thức dưới bất cứ chế độ nào cũng có vai trò và vị trí rất quan
trọng. Trong giai đoạn trước 1930, đội ngũ trí thức đa số đều có lòng yêu nước, khao khát độc lập, tự
do, dân chủ. Mặc dù vẫn có một số ít cam tâm làm tay sai như số đồng vẫn giữ được khí tiết dù ở
hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu nước. Khi có điều kiện, những trí thức yêu nước thường
đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới và là ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chống thực dân,
phong kiến, bởi lẽ họ là một lực lượng xã hội có trình độ học vấn cao, hiểu biết rộng, nắm được tri
thức khoa học - công nghệ. Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới
lần thứ nhất (1914-1918), vừa ra đời đã bị sự chèn ép của tư bản Pháp và phân hoá thành hai bộ
phận. Một số ít tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp tư sản
mại bản. Một bộ phận khác tuy có tinh thần yêu nước, chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ
không có khả nǎng lãnh đạo cách mạng và chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất
định. Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh rõ mọi khuynh hướng coi thường hoặc phủ nhận vai trò
của các lực lượng xã hội to lớn này, không quan tâm đầy đủ đến việc xây dựng, củng cố khối liên
minh công - nông và trí thức trong các giai đoạn và các thời kỳ cách mạng, có nghĩa là đặt giai cấp
công nhân vào một hoàn cảnh phải chiến đấu đơn độc và đó là một sai lầm chính trị nghiêm
trọng.chủ nghĩa Mác.
4. Cương lĩnh đầu tiên khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là
nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa
Yên Bái (9-2-1930), đánh dấu sự chấm dứt ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản và Đảng
cộng sản Việt Nam ra đời với vai trò lãnh đạo cách mạng đã xác lập ảnh hưởng của hệ tư
tưởng vô sản trong cách mạng Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời mở đầu thời đại
mạng vô sản mang tính toàn cầu mà còn có vai trò là một trào lưu lớn của cách mạng trong
thế kỷ này. Tư tưởng này là cơ sở cho sự phát triển chính sách đoàn kết quốc tế của Đảng
ta. Chính sách đó luôn được bổ sung, hoàn thiện và là một nguồn tǎng thêm sức mạnh lớn
hơn sức mạnh vốn có của ta, là một nhân tố thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Ngoài ra, do sớm nhận thức được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội trong cách mạng vô sản ở nước thuộc địa, coi trọng độc
lập tự chủ, tự lực tự cường của từng quốc gia, việc đặt tên Đảng là Đảng cộng sản Việt
Nam (chứ không phải là Đảng Cộng sản Đông dương theo hướng chỉ đạo của Quốc tế
Cộng sản) là hoàn toàn đúng đắn xuất phát từ sự hiểu biết đúng đắn về tình hình, đặc điểm,
tâm lý dân tộc của ba nước Đông Dương (Việt Nam, Cao Miên, Lào) và theo quan điểm
LêNin: các dân tộc bị lệ thuộc sau khi độc lập được tách ra để xây dựng độc lập dân tộc và
có quyền tự quyết.
Đối với công cuộc đổi mới hiện nay cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng có ý nghĩa
rất quan trọng: một là đổi mới phải kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, hai là đổi mới phải
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, ba là đổi mới phải động viên được đông đảo quần chúng
tham gia. Bốn là đổi mới phải mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đa phương, đa dạng quan
hệ ngoại giao.
Tóm lại, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ở một nước thuộc địa, giai cấp công nhân
chỉ chiếm 1,2% dân số, đã có Cương lĩnh chính trị đầu tiên đúng đắn ngay từ đâu. Điều
đó chứng minh rằng, Đảng đã nắm vững bản chất khoa học và cách mang của chủ nghĩa
Mác - Lênin, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp, sớm
kết hợp yếu tố giai cấp với yếu tố dân tộc một cách sáng tạo, gắn chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, phát huy được truyền thống yêu nước, đánh
giá đúng vị trí của từng giai cấp cách mạng, đoàn kết được các lực lương yêu nước, nhờ
đó mà Đảng đã nắm được quyền lãnh đạo cách mang. Chúng ta cũng không thể phủ
nhận được rằng những chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ mà Cương lĩnh đã nêu thời gian
qua đã chứng tỏ sự đúng đắn, khoa học và như một thứ động lực tinh thần hợp lòng
người nhất, để trên nền móng đó phát huy sức mạnh của lòng yêu nước của dân tộc Việt
Nam, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới xây dựng CNXH ngày nay.
5
đã nghèo nàn lạc hậu, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá nặng nề làm cho xơ xác,
kiệt quệ. Nạn đói đầu năm 1945 do Pháp, Nhật gây ra làm 2 triệu người chết
chưa được khắc phục, thì tháng 8/1945 lại xảy ra lụt lớn ở Miền Bắc, sau đó thì bị
hạn kéo dài. Sản xuất nông nghiệp bị đình đốn, hàng vạn công nhân không có
việc làm, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Tài chính cạn kiệt, ngân sách
trống rỗng, Ngân hàng Đông dương còn nằm trong tay tư bản Pháp. Quân Tưởng
tung tiền Quan kim mất giá ra thị trường gây rối loạn nền tài chính, kinh tế của ta.
Đã vậy, ta còn phải cung cấp lương thực cho 20 vạn quân Tưởng. Về mặt xã hội,
dưới chính sách ngu dân của Pháp, 95% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội phát triển
mạnh mẽ. Về ngoại giao : Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa được
thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta. Chính quyền non trẻ chưa
được lực lượng tiến bộ trên thế giới giúp đỡ.
Nhưng nghiêm trọng hơn vẫn là tình hình an ninh, chính trị. Ngay sau cách
mạng thành công, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã bao vây, chống
phá hòng tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ. Gần 20 vạn quân Tưởng,
đồng minh của đế quốc Mỹ cùng bọn tay sai kéo vào miền Bắc nước ta với ý đồ
tiêu diệt Đảng ta, lật đổ chính quyền cách mạng, lập nên chính quyền tay sai của
6
chúng. Ở miền Nam, quân đội Pháp được đế quốc Anh che chở đã đánh chiếm
Nam Bộ hòng lập lại chế độ thực dân của chúng. Nhiều đảng phái phản động
(Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt ) công khai hoạt động chống chính quyền. Chính
quyền cách mạng tiếp thu một đất nước đổ nát với nạn đói và sự kiệt quệ về kinh
tế, tài chính và biết bao hậu quả khác mà chế độ phong kiến, thực dân để lại. Với
những thử thách nặng nề đó, sự mất - còn của chính quyền đặt trong thế "ngàn
cân treo sợi tóc". Chính quyền nhân dân có thể bị lật đổ, nền độc lập mới giành
được có nguy cơ bị mất. Tình hình đó đòi hỏi đảng và chính quyền cách mạng
phải có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn mới có thể bảo vệ và phát
triển thành quả cách mạng. Đảng đã chủ trương bất kể tình hình như thế nào
cũng phải "củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội
phản, cải thiện đời sống cho nhân dân".
Song song với việc khôi phục, phát triển kinh tế để ổn định đời sống nhân dân, Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh còn đặc biệt quan tâm chỉnh đốn bộ máy và đội ngũ cán bộ chính quyền, ngǎn chặn nguy cơ quan
liêu hoá, cán bộ chính quyền trở thành những "quan cách mạng". Trong Thư gửi Uỷ ban nhân dân các cấp,
tháng 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những cǎn bệnh xuất hiện trong bộ máy chính quyền mới như:
trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo. Những hành vi đó là trái với bản chất của chính quyền
7
nhân dân, làm giảm uy tín, làm suy yếu chính quyền. Người vạch rõ: Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc
cho đến các làng đều là đầy tớ của nhân dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân.
Trong hoàn cảnh cùng một lúc chính quyền phải đương đầu với nhiều kẻ thù (quân Pháp - Tưởng) và
nhà nước ta lúc bấy giờ chưa có sự giúp đỡ trực tiếp của các nước anh em, bầu bạn trên thế giới, đòi hỏi Đảng
và Chính phủ phải thực hiện một chính sách ngoại giao đúng đắn, khôn khéo thì mới có thể củng cố và giữ
vững chính quyền cách mạng non trẻ. Quán triệt tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, Đảng và chính quyền cách
mạng đã thực hiện chính sách nhân nhượng có nguyên tắc, khéo léo “hòa để tiến” đồng thời ttriệt để lợi dụng
mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, phân hoá chúng . Với sách lược mềm dẻo nhưng có nguyên tắc : khi thì hoà
với Tưởng để tập trung đánh thực dân Pháp, khi thì hoà với Pháp để đuổi Tưởng, chẳng những bảo vệ được sự
tồn tại của chính quyền mà còn đưa sự nghiệp cách mạng phát triển một cách vững chắc.Đó cũng là nét nổi
bật về và là một mẫu mực về khả nǎng tự bảo vệ của chính quyền cách mạng Việt Nam trong hoàn cảnh khó
khǎn điển hình.
Nhà nước và nhân dân ta muốn hoà bình nên đã nhân nhượng với thực dân Pháp. Nhưng dã tâm xâm
lược của thực dân Pháp ngày càng trắng trợn. Khi không thể nhân nhượng được nữa, chính quyền cách mạng
đã chủ động phát động nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến. Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
và can thiệp Mỹ (từ 12-1946 đến 7-1954) là tiếp tục sự nghiệp của Cách mạng tháng Tám, là tiếp tục công cuộc
bảo vệ chính quyền bằng một cuộc chiến tranh cách mạng. Cuộc kháng chiến được tiến hành trong điều kiện
đã có chính quyền cách mạng. Chính quyền là công cụ mạnh mẽ và hiệu lực để tổ chức, động viên nhân dân
tham gia kháng chiến.
Tóm lại, trong khoảng thời gian 16 tháng (9-1945 đến 12-1946), trước bao tình thế khó khăn, hiểm
nghèo, trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng tưởng chừng không thể vượt qua, nhưng nhờ có sự lãnh
đạo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền mới vẫn phát huy hiệu lực và bản chất của mình, từng bước
đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thử thách. Từ những thành công của Đảng trong việc xây dựng, bảo
vệ chính quyền giai đoạn 1945-1946, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình xây dựng nhà nước ta
Bốn là phải có sách lược mềm dẻo, khôn khéo, lợi dụng mâu thuẩn trong hàng ngũ địch, cô lập cao
độ kẻ thù chính, trung lập những người có thể trung lập, tranh thủ những người có thể tranh thủ, nhằm làm
suy yếu vị trí và thế lực của chúng, làm tăng thêm sức mạnh và tạo điều kiện đưa cách mạng tiến lên
Năm là sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, sức mạnh và sự tồn tại của chính
quyền nhân dân . Giữ vững và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ có ý nghĩa
quyết định sự sống còn của chính quyền cách mạng, mà còn là sự tồn tại của bản thân Đảng và chế độ xã hội
chủ nghĩa. Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải
thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, nǎng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền
thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng.
Tóm lại, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân là một bài học lớn của quá
trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta từ khi Đảng lãnh đạo chính quyền. Diễn
biến phức tạp của tình hình quốc tế, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ quá độ ở nước ta
đòi hỏi Đảng và nhân dân ta nâng cao cảnh giác, nỗ lực phấn đấu xây dựng chính
quyền nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là công cụ có hiệu lực
nhất tổ chức thắng lợi sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước theo con đường xã
hội chủ nghĩa.
Vấn đề 3 : Nghiên cứu vị trí lãnh đạo của Đảng trong bước chuyển cách mạng Miền Nam
Bài làm
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là nhân tố quyết định sự
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đụng
đầu lịch sử, một thử thách lớn đối với Đảng và dân tộc Việt Nam. Với đường lối chính trị,
quân sự đúng đắn và phương pháp cách mạng sáng tạo do Đảng đề ra thể hiện trong
từng chiến dịch, từng trận đánh đã đưa cách mạng dân tộc giành thắng lợi vẻ vang,
thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi trong cách mạng
miền Nam giai đoạn 1954-1975 chính là sự khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo quan trọng
của Đảng trong công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.
1. Đánh bại chiến lược “chiến tranh đơn phương” :
Sau Hiệp định Giơnevơ (7-1954), đế quốc Mỹ lấn dần thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam nước
ta, chúng thiết lập chế độ thực dân mới và dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Chế độ Mỹ
- Diệm đàn áp dã man phong trào đấu tranh của nhân dân ta ở miền . Tình hình của đất nước sau
quyết chỉ rõ hướng phát triển của cách mạng miền Nam là chuyển từ khởi nghĩa từng
phần sang chiến tranh cách mạng, kết hợp khởi nghĩa quần chúng với chiến tranh cách
mạng để đưa cách mạng tiến lên, đẩy mạnh hơn nữa đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên
song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt quân sự và chính trị. Tổ
chức đánh địch bằng 3 mũi giáp công : chính trị - quân sự - binh vận, trên 3 vùng chiến
lược : thành thị, nông thôn và miền núi, bằng 3 thứ quân : du kích, chủ lực và dân địa
phương. Dưới sự chỉ đạo của Nghị quyết Bộ Chính trị, cách mạng miền Nam đã phát
triển và trưởng thành nhanh chóng. Một lực lượng lớn được đưa từ miền Bắc vào cùng
lực lượng tại chỗ tạo cho cách mạng miền Nam vững vàng cả về thế và lực. Với thế và
lực đó, với phương hướng tiến lên bằng cả lực lượng chính trị và quân sự, bằng sự kết
hợp cả hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự, nhân dân ta ở miền Nam đã liên tục
tiến công địch, làm phá sản kế hoạch Xtalây Taylơ nhằm bình định miền Nam trong vòng
18 tháng (1961-1962) và kế hoạch Giônxơn - Mắcnamara cùng mục đích trên thực hiện
trong hai nǎm (1964-1965). Những chiến thắng vang dội và có ý nghĩa bước ngoặt như
chiến thắng ấp Bắc (2-1-1963), chiến thắng Bình Giã (12-1964), Ba Gia, Đồng Xoài
(5/1965) chứng tỏ sự trưởng thành toàn diện của lực lượng cách mạng, khẳng định thế
tất thắng của nhân dân ta, mở ra phong trào thi đua diệt nguy, diệt Mỹ khắp miền Nam.
90 triệu lượt người đấu tranh chính trị, trong đó nổi bậc là đấu tranh của các phật tử ở
Huế (8/5/1963), 70 vạn người Sài Gòn xuống đường bắt đầu bằng vụ tự thiêu của Hòa
Thượng Thích Quảng Đức (16/6/1963). Đến giữa nǎm 1965, quân nguỵ bị đánh tan vỡ
từng mảng, chính quyền Sái gòn khủng hoảng triển miên (tháng 1/11/1963, đảo chính
chính quyền Diệm và tháng 2/1965 Nguyễn Văn Thiệu lên nắm chính quyền), quốc sách
"ấp chiến lược" bị phá sản (85% ấp chiến lược bị phá), "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ -
ngụy bị thất bại. .
10
3. Đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ"
Giữa nǎm 1965, với bản chất hiếu chiến và ngoan cố theo đuổi chiến lược toàn cầu
phản cách mạng, đế quốc Mỹ đã leo thang chiến tranh, đưa quân viễn chinh Mỹ và quân
các nước chư hầu (50 vạn) vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, gia tăng lực lượng quân
Ngụy lên 70 vạn, thực hiện "chiến tranh cục bộ" với nội dung tiêu diệt và bình định nhằm
tiếp tục đổ tiền của vào cố xây dựng cho được ngụy quyền và ngụy quân làm xương sống
cho kế hoạch và ở miền Nam một lúc ba loại chiến tranh: giành dân, bóp nghẹt và huỷ diệt
tàn khốc hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đó, đồng thời thực hiện chiến lược quét và giữ, ổn
định khu vực đô thị, vì vậy từ 1969-1971 ta bị đánh bật ra khỏi đồng bằng. Chúng tăng
cường đánh phá Trường Sơn, huy động không quân Anh Pháp Đức bỏ bom phá hoại miền
Bắc lần 2 (tháng 4/1972); thực hiện Đông Dương hóa chiến tranh đưa 10 vạn quân ngụy
đánh Campuchia. Về ngoại giao, Mỹ thực hiện chiến lược lôi kéo Trung Quốc, hòa hoãn
Liên Xô nhằm cắt đứt viện trợ cho Việt Nam. Vì vậy, sau năm 1972 Liên Xô và Trung Quốc
cắt dần viện trợ cho nước ta.
Tháng 1/1970, Trung ng ng ta h p H i ngh l n th 18, H i ngh đã phân tích sâu s c tínhươ Đả ọ ộ ị ầ ứ ộ ị ắ
ch t thâm đ c c a chi n l c "Vi t Nam hoá" và nh ng mâu thu n không th kh c ph c đ c c a nó.ấ ộ ủ ế ượ ệ ữ ẫ ể ắ ụ ượ ủ
Trên c s đó, H i ngh đ ra nhi m v cho cách m ng mi n Nam là : tr v bám đ t, bám dân phá kơ ở ộ ị ề ệ ụ ạ ề ở ề ấ ế
ho ch bình đ nh, ra s c xây d ng l c l ng quân s và chính tr , phát tri n chi n tranh nhân dân và t ngạ ị ứ ự ự ượ ự ị ể ế ă
11
c ng l c l ng 3 th quân, đ y m nh ti n công quân s , chính tr l y nông thôn làm h ng chính,ườ ự ượ ứ ẩ ạ ế ự ị ấ ướ
l p h i đ ng chi vi n ti n tuy n c a Trung ng và t ng c ng liên minh 3 n c ông D ng đậ ộ ồ ệ ề ế ủ ươ ă ườ ướ Đ ươ ể
phá ông D ng hóa chi n tranh, t ng c ng ngo i giao làm th t b i âm m u "Vi t Nam hoá chi nĐ ươ ế ă ườ ạ ấ ạ ư ệ ế
tranh" c a đ qu c M . ủ ế ố ỹ
Quân và dân ta đã thực hiện xuất sắc những nhiệm vụ trên và đã giành những thắng lợi
quyết định. Tận dụng sai lầm của Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tháng 4-1970,
Hội nghị cấp cao Đông Dương đã họp, hình thành mặt trận thống nhất nhân dân Đông
Dương đoàn kết chống Mỹ. Mặt trận ngoại giao đã chủ động và phối hợp chặt chẽ với đấu
tranh quân sự và chính trị, liên tục tiến công đế quốc Mỹ tại Hội nghị Pari và trước dư luận
toàn thế giới. Mũi tiến công quân sự đã giành thắng lợi rực rỡ, thực sự làm đòn xeo cho mũi
tiến công chính trị và ngoại giao. Nǎm 1969-1971, ta phối hợp với quân dân Lào và
Campuchia giành thắng lợi lớn ở XǎmThông - Loong Chẹng, Cánh Đồng Chum trên chiến
trường Lào và giải phóng phần lớn đất đai cùng 4,5 triệu dân ở Campuchia, chiến thắng
đường số 9 - Nam Lào đã mở ra khả nǎng thực tế làm thất bại chiến lược "Việt Nam hoá
chiến tranh" của Níchxơn. Ngày 30-3-1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam
với quy mô lớn, cường độ mạnh, với đủ các binh chủng tác chiến hợp đồng và kéo dài suốt
nay, có thời cơ chiến lược to lớn, thuận lợi như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc".
3-5
12
Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định lấy chiến trường Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột
làm chiến trường và điểm mở đầu cho kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị theo
dõi chặt chẽ và chỉ đạo kịp thời các bước tiến quân giành thắng lợi ở các chiến trường miền Nam.
Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (từ ngày 10 đến 20-3-1975) đã điểm trúng huyệt vào Buôn Ma
Thuột, làm rung chuyển hệ thống bố trí chiến lược của quân ngụy Sài Gòn, ngụy quyền hốt hoảng
cho rút quân chiến lược khỏi Tây Nguyên, làm rối loạn quân ngụy. Ta giải phóng hoàn toàn Tây
Nguyên.
Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng (từ ngày 21 đến 29-3-1975) đã phá tan âm mưu co cụm về
giữ đồng bằng ven biển miền Trung của địch, đẩy địch lún sâu hơn nữa vào thế suy sụp, tan vỡ
không sao cứu vãn nổi, làm xuất hiện thời cơ tổng tiến công và nổi dậy vào sào huyệt cuối cùng của
địch: Chiến dịch giải phóng Sài Gòn và Nam Bộ - Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 đến 30-4-1975).
17 giờ ngày 26-4-1975, nǎm quân đoàn của ta mở cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định, 11 giờ
ngày 30-4-1975, quân ta chiếm dinh tổng thống ngy, buộc ngụy quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều
kiện. Sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam của nhân dân ta toàn thắng.
Tóm lại, qua kết quả thắng lợi của cách mạng Miền Nam cho thấy bên cạnh lòng
dũng cảm, sự bền bỉ của ý chí thì nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến chiến thắng là
do Đảng ta đã đề ra và vận dụng một cách linh hoạt nghệ thuật biết thắng từng bước. Với
kẻ thù mạnh hơn ta rất nhiều về tiềm năng kinh tế, quân sự, Đảng ta đã áp dụng chủ
trương, sách lược đúng đắn ở từng thời kỳ để kiềm chế đế quốc Mỹ, giành thắng lợi từng
bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nổi bật trong đường lối, chủ trương, sách lược đó
là :biết sáng tạo ra nhiều cách đánh, cách thắng Đế quốc Mỹ, biết tổ chức và chỉ đạo phối
hợp chặt chẽ cách mạng hai miền Nam - Bắc trên nhiều mặt từ chiến lược, sách lược,
biết đoàn kết và tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế cao nhất. Với những phân tích trên, chúng
ta có thể tin tưởng và khẳng định rằng vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng
Miền Nam là nhân tố quyết định cho thắng lợi của cách mạng Miền Nam nói chung và
cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay nói riêng.
chất liên hiệp hành động; nhưng tất cả đều nhằm tập hợp, động viên được hết thảy mọi người tích
cực tham gia vào sự nghiệp chung giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Song song đó, Đảng luôn coi đoàn kết dân tộc luôn là nguồn sức mạnh của cách mạng và là
một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, Đảng ta đã chủ
trương xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công - nông – trí thức. Đảng đã
Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã chỉ rõ giai cấp vô sản phải tranh thủ
được nhiều bạn đồng minh, phải tập hợp các lực lượng cách mạng trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Hình
thức Mặt trận dân tộc thống nhất đầu tiên lấy tên là Hội phản đế đồng minh. Trong chỉ thị lập Mặt trận, Đảng
đã nhấn mạnh: Nếu không tổ chức được lực lượng thật rộng, thật kín thì cách mạng cũng khó thành công.
Sau cao trào cách mạng 1930-1931, đế quốc Pháp khủng bố ác liệt, phong trào cách mạng tạm thời lắng
xuống, Đảng chuyển hướng tổ chức quần chúng đấu tranh và quần chúng vẫn hướng về Đảng. Khi điều kiện và
thời cơ thuận lợi xuất hiện, Đảng đã kịp thời đề ra chủ trương, chính sách đúng nên đã nhanh chóng tập hợp
lực lượng, liên hiệp hành động với các giai cấp, các tầng lớp yêu nước, các đảng phái dân chủ, hình thành Mặt
trận dân chủ Đông dương trong thời kỳ 1936-1939. Vì vậy, Đảng đã phát động được một cao trào đấu tranh
cách mạng đòi cải thiện dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình, chống phản động thuộc địa, chống chủ nghĩa
phát xít, chống chiến tranh.
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Đảng đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Đồng chí Hồ Chí Minh về nước, cùng Ban Chấp
hành Trung ương Đảng hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 khoá I (tháng 5-1941), dưới sự lãnh đạo trực
tiếp của đồng chí Hồ Chí Minh đã chủ trương tạm gác khẩu hiệu tịch thu ruộng
đất của địa chủ, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt
trận Việt Minh) để mở rộng khối đoàn kết dân tộc không chỉ bao gồm giai cấp
công – nông mà còn cả những người Việt Nam yêu nước, tập trung mũi nhọn đấu
tranh vào nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Dưới ngọn cờ đại đoàn
kết của Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã dấy lên một cao trào kháng Nhật cứu
nước sôi nổi và đều khắp, nắm vững thời cơ Đảng đã chỉ đạo Mặt trận khởi nghĩa
từng phần, khởi nghĩa vũ trang dẫn đến tổng khởi nghĩa đưa Cách mạng Tháng
Tám 1945 đến thắng lợi.
Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, thì quân Pháp núp sau quân đội
nhân dân hai nước Lào và Campuchia, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa
và các nước, các dân tộc tiến bộ trên thế giới, đấu tranh cho hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Từ những kết quả xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất qua các giai đoạn trên, ta có thể rút ra một
số kinh nghiệm như sau :
M t là ộ ph i xác nh úng k thù, s p x p úng b n ng minh. ả đị đ ẻ ắ ế đ ạ đồ Mu n có chính sách m t tr n đúng đ n, tr c h t ph i xác đ nh đúng k thùố ặ ậ ắ ướ ế ả ị ẻ
c th , ph i ch rõ k thù c n ph i đánh đ trong t ng giai đo n chi n l c, trong t ng th i k c a m t giai đo n. Có nh v y m i t pụ ể ả ỉ ẻ ầ ả ổ ừ ạ ế ượ ừ ờ ỳ ủ ộ ạ ư ậ ớ ậ
trung đ c toàn b l c l ng cách m ng đánh đ k thù c ng nh m i l i d ng đ c nh ng mâu thu n trong n i b k thù và v n d ng sáchượ ộ ự ượ ạ ổ ẻ ũ ư ớ ợ ụ ượ ữ ẫ ộ ộ ẻ ậ ụ
l c m m d o đ cô l p cao đ k thù nguy hi m nh t. ng ta đã có nhi u thành công n i b t trong vi c xác đ nh k thù c th và chính sáchượ ề ẻ ể ậ ộ ẻ ể ấ Đả ề ổ ậ ệ ị ẻ ụ ể
m t tr n trong các th i k cách m ng. c bi t là trong th i k 1945-1946, công tác m t tr n lúc này h t s c ph c t p, nh ng phong phú vàặ ậ ờ ỳ ạ Đặ ệ ờ ỳ ặ ậ ế ứ ứ ạ ư
sáng t o. Tình hình lúc b y gi thay đ i t ng ngày, t ng tháng. Cùng m t lúc cách m ng n c ta ph i đ i phó v i nhi u k thù, nh ng ng đãạ ấ ờ ổ ừ ừ ộ ạ ướ ả ố ớ ề ẻ ư Đả
đánh giá đúng các lo i k thù, xác đ nh đúng k thù chính, đ có sách l c và ph ng pháp đ u tranh phù h p : khi thì hòa v i T ng đ ch ng Pháp, khiạ ẻ ị ẻ ể ượ ươ ấ ợ ớ ưở ể ố
thì t m th i hoà v i Pháp đ đu i T ng nh m phân hoá, cô l p k thù, tránh th b t l i ph i ch ng v i nhi u k thù cùng m t lúc, đ t ng thêmạ ờ ớ ể ổ ưở ằ ậ ẻ ế ấ ợ ả ố ớ ề ẻ ộ ể ǎ
s c m nh giành th ng l i. Trong kháng chi n ch ng M , ng ta đã sáng su t ch rõ k thù nguy hi m nh t không ch c a dân t c ta mà c aứ ạ ắ ợ ế ố ỹ Đả ố ỉ ẻ ể ấ ỉ ủ ộ ủ
c loài ng i ti n b là đ qu c M , nên đã hình thành đ c ba t ng m t tr n: trong n c, ông D ng và trên th gi i, t o ra s c m nhả ườ ế ộ ế ố ỹ ượ ầ ặ ậ ở ướ ở Đ ươ ế ớ ạ ứ ạ
đ giành th ng l i trong s nghi p ch ng M , c u n c. ể ắ ợ ự ệ ố ỹ ứ ướ
Trong công tác mặt trận, vì trong dân tộc có nhiều giai cấp, nên Đảng phải
đánh giá đúng thái độ chính trị của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau để
sắp xếp đúng đắn vị trí các lực lượng trong Mặt trận dân tộc thống nhất: vai trò
lãnh đạo, lực lượng nòng cốt, bạn đồng minh lâu dài và gần gũi, bạn đồng minh
tạm thời, v.v Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã đánh giá đầy đủ vị trí của giai
cấp nông dân Việt Nam, giai cấp đông đảo nhất, chiếm 95% số dân, là bạn đồng
minh cách mạng và trung thành nhất của giai cấp công nhân Việt Nam. Hai giai
cấp công nhân và nông dân và tầng lớp trí thức có liên minh chặt chẽ mới phát
huy đầy đủ sức mạnh, thực hiện triệt để nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giai cấp,
trong đó giai cấp công nhân phải đóng vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân.
Bên cạnh đó, Đảng ra sức tập hợp đông đảo lực lượng về phía cách mạng trên
cơ sở đánh giá cao truyền thống yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân. Đảng đã
lôi cuốn giai cấp tư sản dân tộc, một bộ phận hoặc từng cá nhân xuất thân từ giai
cấp phong kiến địa chủ có tinh thần yêu nước tham gia cách mạng giải phóng dân
- Đối với mối quan hệ giữa tranh thủ tầng lớp trên (tiểu tư sản, địa chủ ) đi đôi với phát động quần
chúng cơ bản. Đảng chủ trương “có thể và cần phải” tranh thủ tầng lớp trên, nhất là những cá nhân có uy tín
trong quần chúng, đó là điều cần thiết và có lợi cho việc phát động quần chúng cơ bản. Nhưng phong trào
vững chắc phải là phong trào cách mạng của quần chúng cơ bản. Chỉ khi nào phong trào đó mạnh mới bảo
đảm tranh thủ được tầng lớp trên. Vận động các dân tộc ít người là một trong những công tác quan trọng bậc
nhất của mặt trận, của chính quyền cách mạng. Để đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo, Đảng đưa ra chính
sách tự do tín ngưỡng và giáo dục quần chúng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của giáo dân, làm cho họ
phân biệt rõ địch - ta, ra sức đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần. Đối với tầng lớp trên
trong tôn giáo, Đảng chủ trương đoàn kết với họ trên tinh thần yêu nước chân chính và giúp đỡ họ hiểu biết
đường lối, chính sách của cách mạng, vận động họ cùng với đồng bào theo các tôn giáo làm những việc có ích
cho Tổ quốc, chống lại mọi âm mưu chia rẽ dân tộc và phá hoại của kẻ thù. Trong việc xây dựng mặt trận, Đảng
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đoàn kết và đấu tranh. Đoàn kết một chiều, thiếu đấu tranh trong thực
tế dẫn đến phá vỡ khối đoàn kết, thủ tiêu mặt trận. Đấu tranh vượt quá cương lĩnh là phạm sai lầm tả khuynh,
trái lại, thiếu đấu tranh để thực hiện cương lĩnh là hữu khuynh, dẫn đến mất đoàn kết.
Ba là nâng cao sự lãnh đạo của Đảng trong mặt trận. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc nhằm giữ vững
đường lối chính trị, mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng của Đảng, chống mọi khuynh hướng hạ thấp vai trò của
Đảng, đòi chia quyền lãnh đạo trong mặt trận, xa rời phương hướng, mục tiêu chiến lược của cách mạng. Để
bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong mặt trận, phải luôn luôn tránh hai khuynh hướng lệch lạc là: cô độc, hẹp
hòi, coi nhẹ tranh thủ các lực lượng có thể tranh thủ; hoặc đoàn kết một chiều, đoàn kết mà không đấu tranh
đúng mức với những tư tưởng và việc làm sai trái của các thành viên trong mặt trận. Về phần mình, Đảng
không ngừng phấn đấu nâng cao nǎng lực lãnh đạo bằng sự hoàn thiện đường lối chiến lược, đổi mới chủ
trương, sách lược cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ và cải tiến phong cách, phương thức làm việc trong mặt
trận, chống tác phong quan liêu, mệnh lệnh, thiếu kiên trì giáo dục, thuyết phục.
4-6
16
Tóm lại, bài học thành công của Đảng ta về xây dựng khối đoàn kết thống nhất dân tộc thông qua hình
thức tổ chức các mặt trận là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta từ trước
đến nay, tạo nên một sức mạnh không gì có thể phá vỡ nổi. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vai trò của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cần phải tiếp tục được coi trọng và ngày càng mở rộng để tập hợp mọi thành phần, lực
lượng của đất nước, tạo thành sức mạnh tổng hợp làm nên sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
1950 – 1970. Trong đó nhấn mạnh tính thuần khiết lý tưởng của CNXH ngay trong thời kỳ quá độ. Từ nhận
thức đó chúng ta đã nôn nóng cải tạo XHCN các thành phần kinh tế, nôn nóng xóa bỏ kinh tế thị trường,
nóng vội phát triển CN nặng trong những năm 1976 – 1986 đưa đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Đảng ta đã sớm nhận thức và có những chỉ đạo kịp thời. Đó là Nghị quyết TW 6
khóa IV (8/1979) đánh dấu sự biến đổi sâu sắc về chất trong tư duy của Đảng ta, đánh dấu bước mở đầu
cho quá trình tìm con đường mới đi lên CNXH ở Việt Nam. Lần đầu tiên Đảng đã thừa nhận những khó
khăn nghiêm trọng về KT-XH của đất nước : Đời sống nhân dân khó khăn, kinh tế không tăng trưởng, lạm
phát phi mã, nhân dân mất niềm tin ở Đảng, chính quyền từ đó đưa ra những quyết sách mới là đẩy
mạnh phát triển hàng tiêu dùng, xuất khẩu, công nghiệp địa phương, đặc biệt là thừa nhận việc tồn tại
nhiều thành phần kinh tế là khách quan, quan tâm đến yếu tố thị trường, sản xuất hàng hóa. Đồng thời giải
quyết đúng đắn các mối quan hệ lợi ích, đặc biệt quan tâm lợi ích chính đáng của người lao động Trên
cơ sở đó, Chính phủ đã có Quyết định 279/CP cho phép các xí nghiệp, đơn vị kinh doanh, khai thác các
mặt hàng không do nhà nước quản lý tạo điều kiện mở đường cho sản xuất kinh doanh, giải quyết việc
làm, tăng thu nhập, tạo nhiều sản phẩm cho xã hội.
Đến năm 1981 chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm đến nhóm người lao động, đây thực sự
là một bước đột phá, tạo động lực mạnh mẽ cho sản xuất phát triển. Tiếp đến Chính phủ có quyết định 25-
26/CP (tháng 01/1981) cho phép các công ty, các xí nghiệp lập hai kế hoạch: kế hoạch của nhà nước hoạt
động theo cơ chế bao cấp, kế hoạch của xí nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường. Đây được xem là
bước chuyển chuyển mình tìm hướng đi thích hợp để chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.
Những nhân tố mới nêu trên tạo điều kiện để Đảng tiếp tục nhận thức con đường lên CNXH ở Việt
Nam
Đại hội V (1982) của Đảng một mặt khẳng định tiếp tục phương hướng, mục tiêu do đại hội IV đề ra.
Mặt khác căn cứ vào tình hình thực tiễn của đất nước, đại hội có những bổ sung và cụ thể hóa một số nội
dung quan trọng trong đường lối cơ bản : Một là khẳng định thời kỳ quá độ là thời kỳ tương đối dài là quá
trình đấu tranh xóa bỏ những trì trệ, hậu quả chiến tranh, sản xuất hàng hóa tìm con đường hay mô hình đi
5-2
5-2
17
lên CNXH phù hợp với điều kiện cụ thể thể của Việt Nam, do đó những vấp váp, những sai lầm là không
1985 bằng việc nhìn thẳng và nói đúng sự thật. Đảng ta đã rút ra bốn bài học lớn về lãnh đạo cách mạng
xã hội chủ nghĩa :
Một là, trong tòan bộ họat động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Ba là, phải biết kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến
hành cuộc cách mạng XHCN.
ĐH VI đã xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặn đường đầu
tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy
mạnh CNH XHCN trong chặn đường tiếp theo.
Khẳng định là ĐH đổi mới tòan diện, nhận thức mới của Đảng đã thể hiện xuyên suốt trong tòan bộ
Nghị quyết. Đó là :
Nguyên tắc tiến hành đổi mới là đổi mới toàn diện, sâu sắc bắt đầu từ đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy
về kinh tế, đổi mới công tác tổ chức và cán bộ. Tập trung phát triển kinh tế, cải cách chính trị thực hiện
từng bước nhằm bảo đảm giữ vững trật tự an ninh, an toàn xã hội phục vụ phát triển kinh tế.
Về kinh tế là: Sử dụng các thành phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng tồn đọng trong xã hội.
Xây dựng kinh tế thị trường với cơ chế một giá. Tập trung đầu tư để thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn:
sản xuất lương thực, thực phẩm; sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Cải tạo quan hệ
sản xuất phải được thực hiện thường xuyên và đảm bảo đúng quy luật.
Về chính trị là cải cách dân chủ phải được thực hiện từng bước và phù hợp với trình độ dân trí dưới sự
lãnh đạo của đảng đảm bảo giữ vững trật tự an toàn xã hội. Tiến hành cải cách hệ thống chính trị cả nước
trên 3 lĩnh vực trọng tâm: đổi mới phương thức, phong cách lãnh đạo của đảng; cải cách hành chính công
để giảm phiền hà đối với dân chúng; đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức dân cử để đảm bảo
quyền lợi của người dân.
Trên lĩnh vực ngoại giao chủ trương thực hiện chính sách mở cửa làm bạn với tất cả các quốc gia trên
thế giới, không phân biệt chế độ chính trị.
Tóm lại, tư tưởng chỉ đạo cốt lỏi của ĐH VI là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi
tiềm năng của đất nước và sử dụng hiệu quả sự giúp đở của quốc tế, phát triển lực lượng sản xuất đi đôi
chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động; kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
với chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực và hưởng theo lao
động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc sống trong quốc gia
Việt Nam bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau tiến bộ. Thực hiện chính sách làm bạn với nhân dân tất cả các
nước trên thế giới. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Để đạt được mục tiêu trên đảng chủ trương phát triển kinh tế, cải cách xã hội đẩy lùi 4 nguy cơ: Tụt
hậu xa hơn nữa về kinh tế so với các nước trong khu vực. Chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Tệ tham nhũng,
quan liêu, lãng phí. Nguy cơ diễn biến hòa bình.
Cương lĩnh cũng đã nêu 7 biện pháp chiến lược để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Xây dựng
nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân và quản lý mọi mặt của xã hội một cách hữu hiệu dựa
trên cơ sở luật pháp; Phát triển lực lượng sản xuất, thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
thông qua cách mạng khoa học công nghệ; Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lượng sản xuất; Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa làm cho thế
giới quan Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành
động; Thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc và chính sách đối ngoại hòa bình hữu nghị hợp tác với tất
cả các nước; Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng : xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc
tổ quốc xã hội chủ nghĩa; Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức nhằm nâng cao sức
chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng ngang tầm với nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
ĐH VIII : 6-1996
Sau 10 năm đổi mới, Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết, đánh giá thành công cũng như thất bại và rút ra
những bài học kinh nghiệm. Điểm nổi bật là Đại hội VIII đã khẳng định một số nhận thức về xây dựng cơ
chế quản lý mới : Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc
XD CNXH; Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta, thị trường theo định hướng XHCN là
thể thống nhất với nhiều lực lượng tham gia sản xuất và lưu thông. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo, thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế họach, kế họach chủ yếu mang tính định
hướng còn thị trường trực tiếp hướng dẫn, lựa chọn lĩnh vực họat động, tổ chức sản xuất và kinh doanh.
Do vậy, cơ chế thị trường phải có sự điều tiết ủa Nhà nước, vì thế cần nâng cao quản lý vĩ mô của Nhà
nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở đó, Đại hội VIII đã xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam đến năm 2020:” tiếp tục nắm
Việt Nam. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã nổ ra rất mãnh liệt, song đều thất bại vì không
có đường lối đúng. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời năm 1930 đánh dấu bước chuyển biến quyết
định của cách mạng Việt Nam, mở đường thắng lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Bắt
đầu từ đó một đường lối, chiến lược cách mạng rõ ràng, đúng đắn được xác định và đưa hoạt động
cách mạng của nhân dân VN đi đến thành công, đặc biệt là trong cao trào cách mạng chống đế quốc
Pháp và phong kiến 1930-1945.
Ngay sau khi ra đời, trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, tiếp đó là Luận cương chính trị,
Đảng đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam là phải trải qua hai giai đoạn: trước hết là cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của
chế độ tư bản chủ nghĩa, mục đích cuối cùng của Đảng là thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở nước ta.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn luôn nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, vì vậy đã giải quyết đúng đắn hàng loạt vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam và đã giành
được những thắng lợi vĩ đại.
Cương lĩnh chính trị (tháng 2/1930) và Luận cương chính trị (tháng 10/1930) đều khẳng định :
dưới thời Pháp thuộc, xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ
nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến.
Cụ thể hơn, Đảng nhận định nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm hơn 90% số dân, chủ
nghĩa đế quốc dựa vào chế độ phong kiến để bóc lột nhân dân, chủ yếu là bóc lột nông dân. Nguyện
vọng tha thiết và trực tiếp của nông dân là dân tộc độc lập, người cày có ruộng. Từ đó chỉ ra con
đường cách mạng VN là “tư sản dân quyền CM và thổ địa CM để đi tới XH cộng sản”; bằng bạo lực
cách mạng đánh đuổi đế quốc Pháp và xóa bỏ chế độ phong kiến VN, tiến đến cách mạng XHCN bỏ
qua phát triển TBCN.
Tuy nhiên, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong
kiến để có thể phát huy cao độ yếu tố dân tộc là vấn đề phức tạp, Đảng ta đã phải mất một thời gian
tương đối dài mới đạt được sự nhất trí cao. Luận cương chính trị có hạn chế là chưa vạch ra được
6-1
20
mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa nửa phong kiến; đặt nhiệm vụ chống phong kiến lên hàng
đầu, chống đế quốc là hàng thứ yếu, cho việc phân loại địa chủ là một sai lầm. Ngược lại với chính
cương vắn tắt cho rằng: Mâu thuẩn giữa dân tộc và đế quốc là mâu thuẩn cơ bản của xã hội nhưng
nghiệm quý giá về: xác định kẻ thù và mục tiêu đấu tranh trước mắt; tập hợp lực lượng rộng rãi trên
cơ sở động viên sự tham gia của mọi tầng lớp XH; để lãnh đạo được mặt trận, Đảng phải vững mạnh
về chính trị và tổ chức, phải xây dựng khối liên minh công – nông làm nòng cốt; phải biết sử dụng
linh hoạt nhiều hình thức đấu tranh.
Giai đoạn 1939 – 1945 trước những biến động to lớn của tình hình thế giới và trong nước, Đảng
quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tiếp tục hoàn chỉnh mối quan hệ 2 nhiệm vụ chống đế
quốc và phong kiến. Thể hiện qua Nghị quyết TW 6 (11/1939); NQ TW 7 (11/1940); NQ TW 8
(5/1941). Các nghị quyết đều khẳng định những nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến của CM
nước ta là không thay đổi, nhưng mục tiêu trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai, làm cho nước
6-2
21
nhà hoàn toàn độc lập; tạm gác khẩu hiệu CM ruộng đất, thay vào đó là khẩu hiệu tịch thu ruộng đất
của đế quốc và tai sai chia cho dân cày.
Lợi dụng Pháp thua Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật vào chiếm nước ta, buộc Pháp
thỏa hiệp với Nhật cùng cai trị VN. Nhân dân ta chịu một cổ hai tròng. Xu hướng đấu tranh vũ trang
phát triển mạnh trong nhân dân, mở đầu là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, tiếp theo là khởi nghĩa Nam Kỳ
(11/1940), khởi nghĩa Đô Lương (1/1941) đã thức tỉnh nhân dân cả nước vùng lên tranh đấu.
Hội nghị lần thứ tám BCH TW (5/1941), Đảng chủ trương thành lập Mặt trận VN độc lập đồng
minh (gọi tắt là Việt Minh), đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật, thành lập Chính phủ nhân dân của nước
VN dân chủ cộng hòa. Trên cơ sở lực lượng chính trị được xây dựng, Đảng chỉ đạo tổ chức lực lượng
vũ trang CM gồm Hội cứu quốc quân, Đội VN tuyên truyền giải phóng quân; thành lập các khu căn cứ
địa CM; xác định khởi nghĩa từng phần tiến đến tổng khởi nghĩa, xác định kẽ thù của CM là Phát Xít
Nhật và thực dân Pháp. Đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động trên mặt trận văn hóa tư tưởng,
xây dựng Đảng…chờ đợi thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương; cũng đêm đó BTV TW Đảng họp tại Đình
Bảng (Bắc Ninh) quyết định và Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”; chỉ rõ phát
xít Nhật giờ đây là kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương và nêu các khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít
Nhật”, “Thành lập chính quyền CM của nhân dân” để chống lại chính phủ bù nhìn tay sai của Nhật,
phát động cao trào kháng Nhật, làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
Giữa tháng 8-1945, tình thế trực tiếp CM đã xuất hiện, khi chính phủ Nhật đầu hàng Liên Xô và
Song, đồng thời Đảng chỉ đạo thực khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, tiến hành cải cách ruộng đất
ở vùng tự do và phát động quần chúng triệt để giảm tô ở các vùng địch chiếm đóng. Các hội nghị TW
1 (tháng 3/1951), TW 2 (10/51), TW 3 (4/52), TW 4 (tháng 1/1953) và đặc biệt là hội nghị TW 5
(tháng 11/191953) đều trực tiếp chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ trên.
Quá trình thực hiện CM ruộng đất diễn ra đồng thời với cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân
1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, quân dân ta đã đánh bại hoàn toàn mọi cố giắng quân sự
của Pháp ở VN. Hiệp định Giơnevơ được ký kết (tháng 7/1954), hòa bình lập lại ở Miền Bắc.
Phản ánh đúng tư tưởng chiến lược về tính không tách rời của hai nhiệm vụ chống đế quốc và
phong kiến, phản ánh nhận thức của Đảng muốn giữ quyền lãnh đạo dân tộc phải thực hiện những
yêu cầu dân chủ đối với nông dân, Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951) đã định rõ "nhiệm
vụ giải phóng dân tộc bao gồm nhiệm vụ phản phong kiến", và thay khái niệm "cách mạng tư sản dân
quyền" bằng khái niệm "cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân". Nhận thức của Đảng đã rõ ràng. Tuy
nhiên, trong việc tổ chức thực hiện, Đảng đã phạm sai lầm hữu khuynh, có lúc quá chú trọng tranh
thủ tầng lớp trên, coi nhẹ phát triển lực lượng công nhân, và sai lầm tả khuynh trong cải cách ruộng
đất.
Từ những thành công cũng như sai lầm nghiêm trọng dù là tạm thời, Đảng đã rút ra bài học quan
trọng về mối quan hệ giữa chiến lược và sự chỉ đạo chiến lược. Đó là: "nắm vững và giương cao ngọn
cờ dân tộc và dân chủ với hai khẩu hiệu chiến lược "dân tộc độc lập" và "người cày có ruộng", Đảng
ta đã lôi cuốn được đông đảo nông dân đi theo giai cấp công nhân, động viên được các tầng lớp
nhân dân khác cùng với công, nông bước lên trận tuyến cách mạng chống đế quốc và phong kiến.
Trong quá trình cách mạng, những nhiệm vụ chiến lược đó đã được cụ thể hoá bằng những mục tiêu
thích hợp với từng thời kỳ, dựa trên sự phân tích những mối quan hệ giai cấp cụ thể và khả nǎng
phân hoá hàng ngũ kẻ thù đế quốc và phong kiến, nhằm tập trung ngọn lửa cách mạng vào kẻ thù
nguy hại nhất trong từng lúc một. Song, dù ở bất cứ thời kỳ nào, những mục tiêu và nhiệm vụ chính
trị cụ thể do Đảng đề ra, về cơ bản đều bao hàm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, về cơ bản đều
gắn liền hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến". Như vậy về mối quan hệ giữa hai nhiệm
vụ chiến lược, Đảng đã nhận thức đầy đủ hơn, diễn đạt rõ ràng hơn, có tính lý luận sâu sắc và bảo
đảm cho Đảng tránh mắc sai lầm tả hữu khuynh trong việc lãnh đạo hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ ở miền Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ.
D i s lãnh đ o sáng su t, đúng đ n c a ng, cu c kháng chi n ch ng th c dân Pháp xâm l c vàướ ự ạ ố ắ ủ Đả ộ ế ố ự ượ
phân phối theo nguyên tắc : “Làm theo năng lực, hưởng theo lao động” trên cơ sở của nền sản xuất
lớn XHCN, ba là con người mới xã hội chủ nghĩa, bốn là nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa.
Về cơ bản, mô hình này đã có dưới thời Liên Xô, Trung Quốc trong đó nhấn
mạnh tính chất thuần khiết đến lý tưởng của mô hình CNXH với yếu tố : Nắm vững
chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; khẳng
định sở hữu toàn dân tập thể phủ nhận của hình thức sở hữu tư nhân, cá thể, phân
phối theo lao động. Mô hình này được xem là mục tiêu của công cuộc xây dựng
CNXH ở miền Bắc thời kỳ 1954-1975 và cả nước thời kỳ 1975-1986.
Trong hơn 10 năm (từ 1986 đến nay), trong nhận thức của Đảng ta có sự thay đổi quan niệm
về mô hình, mục tiêu CNXH bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ 6 và rõ nét hơn trong Đại hội 7. Đảng
đưa ra một mô hình mới về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với sáu đặc trưng đó là :
• Xây dựng nền sản xuất hàng hóa phát triển cao trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
• Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
• Con người được giải phóng, làm theo năng lực, hưởng theo lao động.
24
• Các dân tộc trong cả nước bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển.
• Quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước trên thế giới trên cơ sở các bên cùng có lợi.
Về cơ bản, mô hình CNXH của Đại hội 7 vẫn giữ những quan điểm của Đại hội 4 thông qua
việc khẳng định các yếu tố : Nhân dân lao động làm chủ và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, đồng
thời nêu quan điểm chấp nhận đa sở hữu, nhiều thành phần kinh tế và sản xuất hàng hóa trong chủ
nghĩa xã hội.
Về tính chất và nội dung của thời kỳ quá độ lên CNXH. Đại hội 4 của Đảng xác định thời kỳ
quá độ là thời kỳ chuyển biến từ sản xuất nhỏ, lạc hậu, cá thể lên sản xuất lớn XHCN, sản xuất tập
thể, chuyển từ các hình thức sở hữu phi XHCN sang chế độ công hữu tư liệu sản xuất. Khẳng định sự
tồn tại của hai thành phần : kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, chuyển từ thị trường tự do sang
thị trường có tổ chức theo cơ chế kế hoạch hóa.
Chính từ nhận thức trên, chúng ta đã nóng vội cải tạo xã hội chủ nghĩa : tập trung ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng; thủ tiêu sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường dẫn đến nhiều khó
khăn cho kinh tế xã hội những năm sau Đại hội Đảng lần thứ tư.
quá độ là : tập trung phát triển nông nghiệp đưa nông nghiệp lên một bước sản xuất lớn … quan
niệm này được Đại hội 6 cụ thể hóa bằng việc đề ra ba chương trình kinh tế lớn tạo nên sự chuyển
biến mạnh trong nền kinh tế. Bảy năm sau Đại hội 6, hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đại hội 7 đã có chủ
trương mới phân định nhận thức của Đảng. Từng bước thực hiện công nghiệp hóa ở chặng đường
còn lại đến năm 2000.
Nhận thức về cơ chế vận hành nền kinh tế, từ Đại hội 4 đến Đại hội 6 trong nhận thức có sự
chuyển biến từ quan niệm : cơ chế kinh tế kế hoạch hóa (thực chất là cơ chế quan liêu, hành chính,
bao cấp) sang cơ chế quản lý mới cơ chế vận hành song song (cơ chế kế hoạch và cơ chế thị trường)
cơ chế hai giá, các nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 6 (Đại hội 6) đã khẳng định quan điểm phát
triển kinh tế nhiều thành phần trong cơ chế thị trường kết hợp kế hoạch định hướng; từ cơ chế 2 giá
đi đến cơ chế 1 giá. Đại hội 7 của Đảng khẳng định tư tưởng đổi mới cơ chế quản lý của Đại hội 6 và
nhấn mạnh quan điểm phát triển nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành trong cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế này để sáng tạo điều
kiện để nền kinh tế nước ta phát triển, thu được nhiều thành tựu mới.
Nhận thức về thể chế chính trị và quan hệ quốc tế : trước Đại hội 6, quan niệm chuyên chính
vô sản và tăng cường hệ thống chính trị quan hệ Đảng lãnh đạo, liên minh công nông là nền tảng, xây
dựng chế độ làm chủ của nhân dân lao động, coi Liên Xô và các nước XHCN là đồng minh chiến lược.
Đại hội 6 và Đại hội 7 có bổ sung một số quan niệm mới : Hệ thống chính trị được xác lập với
mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ. Quan hệ đối ngoại mở
cửa, làm bạn với tất cả các nước trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, hợp tác cùng có lợi
… giúp chúng ta phá thế cô lập, tạo thời cơ mới.
Đại hội lần thứ 8 của Đảng cộng sản Việt Nam đã tổng kết 10 năm đổi mới, 5 năm thực hiện
Nghị quyết Đại hội 7 và quyết định chuyển nước ta sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước : xác định mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất,
kỷ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có QHSX tiến bộ phù hợp với phát triển của LLSX, có đời
sống vật chất và văn hóa cao, quốc phòng an ninh được giữ vững, thực hiện mục tiêu : dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa cần
nắm vững một số quan điểm : Độc lập tự chủ đi đôi mở rộng hợp tác quốc tế …, công nghiệp hóa
hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của các thành phần kinh tế trong đó kinh tế Nhà nước đóng
vai trò then chốt, lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố phát triển nhanh và bền vững …