MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT i
MỤC LỤC i
Giao thông đường bộ là một bộ phận quan trọng của giao thông vận tải nói riêng và của hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung, nó có vai trò rất quan trọng trong việc phát
triển kinh tế - xã hội, đóng góp to lớn vào nhu cầu đi lại của nhân dân, nâng cao giao lưu
với các vùng, xóa đi khoảng cách về địa lý, chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát huy lợi
thế của từng vùng, từng địa phương. Tuy nhiên, do nguồn vốn eo hẹp, trình độ khoa học -
kỹ thuật còn yếu nên các công trình chủ yếu là do Liên Xô và các nước Đông Âu giúp đỡ
xây dựng. Bởi vậy, công tác quản lý các dự án giao thông đường bộ trong thời kỳ kinh tế
kế hoạch tập trung chưa được quan tâm đúng mức. Sau này, khi thực hiện chính sách mở
cửa, nền kinh tế đất nước đã có những bước phát triển đáng kể cùng với đó là nguồn vốn
đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng ngày một tăng. Vì vậy, công tác quản lý dự án đóng vai
trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn, chất lượng công
trình, tiến độ xây dựng công trình, an toàn lao động, bảo vệ môi trường, v.v… 1
Là một tỉnh có vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa, Hà Tĩnh có điều
kiện thuận lợi để trở thành trung tâm kinh tế của khu vực Bắc Miền Trung. Đại hội tỉnh
đảng bộ lần thứ XVII, khóa 2010-2015, đã nêu rõ ưu tiên và chú trọng đầu tư cho các dự
án cơ sở hạ tầng giao thông. Trong thời gian qua vốn ngân sách giành cho phát triển giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm 2007-2010 tăng nhanh, tuy
nhiên năm 2011-2013 thì đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh bắt đầu giảm dần do sự
cắt giảm đầu tư công theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ 1
Việc đầu tư xây dựng các dự án giao thông đường bộ góp phần tạo nên sự thành công của
tỉnh, sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã làm cho Hà Tĩnh có những bước
chuyển mình đáng khích lệ. Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều tồn tại và bất cập cần phải
khắc phục như: hiệu quả và chất lượng đầu tư một số dự án chưa cao, cơ cấu chuyển dịch
kinh tế còn chậm chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, chưa tương xứng với lợi
thế tiềm năng vốn có của tỉnh. Công tác quản lý các dự án giao thông đường bộ trên địa
bàn tỉnh còn tồn tại nhiều bất cập, trong đó nổi lên một số vấn đề như: hệ thống văn bản
chồng chéo, chưa rõ ràng; trình độ cán bộ quản lý đầu tư còn hạn chế, chuyên môn không
phù hợp; hệ thống cơ quan chuyên môn quản lý đầu tư xây dựng chưa thực sự hợp lý;
thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính
trị. Đề tài phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng giải pháp quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản 3
- Phạm Văn Thịnh (2010) Tăng cường quản lý vốn Ngân sách Nhà nước trong đầu tư xây
dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, luận văn thạc sĩ Trường Đại học kinh tế Quốc
dân Hà Nội. Đề tài phân tích những khó khăn, tồn tại trong việc sử dụng vốn Ngân sách
trong đầu tư xây dựng cơ bản, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý vốn Ngân
sách Nhà nước trong đầu tư xây dựng 3
- Nguyễn Khắc Thiện (2006) Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng
cơ bản bằng vốn Ngân sách Nhà nước tại tỉnh Hà Tây, luận văn thạc sĩ kinh tế Trường Đại
học kinh tế Quốc dân Hà Nội. Đề tài trình bày vai trò của quản lý nhà nước đối với đầu tư
xây dựng cơ bản, từ đó đưa ra một số giải pháp để tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối
với đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước tại tỉnh Hà Tây 4
Các công trình và các bài viết nêu ở trên mới đề cập đến việc quản lý đầu tư xây dựng mà
chưa có đề tài nào đề cập đến việc Quản lý các dự án giao thông đường bộ trên địa bản tỉnh
Hà Tĩnh 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1. Mục đích nghiên cứu 4
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về giao thông đường bộ, vai trò của các đơn vị trong
quá trình thực hiện đầu tư và sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản
lý thực hiện các dự án giao thông đường bộ trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế 4
- Trên cơ sở nghiên cứu những mặt hạn chế, các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả cho các dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà
nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý các dự án giao thông đường bộ sử
dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 4
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý các dự án giao thông đường bộ sử dụng nguồn vốn
Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2007-2013 4
Chương 2: Thực trạng quản lý các dự án giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách nhà
nước ở tỉnh Hà Tĩnh 6
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các dự án giao thông đường bộ sử
dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh 6
6
CHƯƠNG 1 7
SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH 7
NHÀ NƯỚC 7
1.1.Một số khái niệm cơ bản 7
1.1.1. Khái niệm dự án 7
Dự án là một quán trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được
kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù
hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực
[19,tr.6] 7
1.1.2. Khái niệm quản lý dự án 7
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá
trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm
vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản
phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép [19,tr.8] 7
Quản lý dự án gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối, thực hiện mà
các nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian chi phí và thực hiện thời gian giám sát
các công việc dự án nhằm đạt đựoc mục tiêu nhất định 7
Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xác định mục tiêu, xác định công việc, xây dựng nguồn
lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống
nhất 7
Điều phối thực hiện. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động,
thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi
tiết hoá thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi
nào kết thúc), trên cơ sở đó bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp 7
hàng chục chuơng trình mục tiêu khác nhau 9
- Vốn ngân sách xã dành cho đầu tư xây dựng cơ bản: Loại vốn này thuộc ngân sách cấp
xã với quy mô không lớn, đầu tư vào các công trình của xã. 9
Hai là, nhóm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nuớc dành cho chuơng trình
mục tiêu đặc biệt như: Chuơng trình 135, chuơng trình giảm nghèo, chuơng trình giáo dục
đào tạo, chuơng trình y tế, chuơng trình văn hoá 9
Ba là, nhóm vốn vay, bao gồm vốn vay trong nuớc và vốn vay nuớc ngoài. Vốn vay trong
nuớc chủ yếu là trài phiếu chính phủ. Vốn vay ngoài nuớc chủ yếu là vay các tổ chức tài
chính, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và một số vốn vay khác 9
Bốn là, nhóm vốn đầu tư theo cơ chế đặc biệt như đầu tư cho các công trình an ninh quốc
phòng, công trình khẩn cấp 10
1.1.3.3. Nguồn hình thành vốn giao thông đường bộ của Ngân sách nhà nước 10
- Một phần tích lũy trong nước từ thuế, phí, lệ phí; 10
- Vốn viện trợ theo dự án của Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ; 10
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của tổ chức quốc tế và các Chính phủ hỗ trợ cho
Chính phủ Việt Nam; 10
- Vốn thu hồi nợ của Ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước; 10
- Vốn vay của Chính phủ dưới các hình thức trái phiếu do Kho bạc nhà nước phát hành
theo quyết định của Chính phủ; 10
- Vốn thu từ tiền giao quyền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ; 10
- Vốn thu từ tiền bán, cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước 10
1.1.3.4. Phạm vi sử dụng vốn Ngân sách nhà nước cho dự án giao thông đường bộ 10
Vốn của Ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các dự án đầu tư thuộc đối tượng sử
dụng vốn Ngân sách nhà nước theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và quy chế quản
lý đầu tư và xây dựng. Cụ thể vốn Ngân sách nhà nước chỉ được cấp phát cho các đối
tượng sau: 10
- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của
Nhà nước theo quy định của pháp luật 10
- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi được Thủ tướng chính
cường, làm phong phú thêm đời sống nhân dân từ đó kích thích người dân hăng say lao
động đóng góp vào sự phát triển của đất nước [14] 12
1.2.3.Giao thông đường bộ thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế 12
Hội nhập và giao lưu kinh tế về mọi mặt đang là xu hướng diễn ra mạnh mẽ giữa các nước
trong khu vực và trên toàn thế giới và Việt Nam không nằm ngoài xu hướng đó. Hiện nay
hệ thống giao thông đường bộ ở nước ta nói chung cũng như Hà Tĩnh nói riêng còn ở mức
yếu so với các nước cũng như các địa phương khác. Chính vì vậy mà Hà Tĩnh đang xúc
tiến xây dựng hệ thống giao thông đường bộ để góp phần mở rộng giao lưu kinh tế giữa
các địa phương cũng như các nước trên thế giới 12
1.3. Dự án giao thông đường bộ 12
1.3.1. Khái niệm dự án giao thông đường bộ 12
Dự án giao thông đường bộ là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây
dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những dự án giao thông nhằm mục đích phát triển, duy trì,
nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định 12
1.3.2. Đặc điểm của dự án giao thông đường bộ 13
Dự án giao thông đường bộ là các dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và
thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồi vốn. Thời kỳ đầu tư được
tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động,
nhiều công trình có thời gian kéo dài hàng chục năm. 13
1.3.2.1. Dự án giao thông đường bộ mang tính hệ thống và đồng bộ 13
Tính hệ thống và đồng bộ là một đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển giao
thông đường bộ. Tính hệ thống và đồng bộ được thể hiện ở chỗ mọi khâu trong quá trình
đầu tư phát triển giao thông đường bộ đều liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng của hoạt động đầu tư: bất kỳ sai lầm nào từ khâu lập dự án hay thẩm
định các dự án đường bộ cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của dự án gây thiệt hại lớn
không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội [6,tr.12] 13
1.3.2.2. Dự án giao thông đường bộ có mục tiêu và mục đích hỗn hợp 13
Các thành phần tham gia vào dự án giao thông đường bộ đều có mục tiêu của riêng mình
và các mục tiêu đó có thể mâu thuẫn nhau. Ví dụ như: Mục tiêu của chủ đầu tư là công
trình có chất lượng, chi phí thấp, thời gian thực hiện ngắn; mục tiêu của đơn vị thi công là
+ Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước; 15
+ Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; 15
+ Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn
vốn [19,tr.7] 15
1.3.4. Quản lý dự án giao thông đường bộ 15
1.3.4.1. Khái niệm quản lý dự án giao thông đường bộ 15
Quản lý dự án giao thông đường bộ là lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát dự án
từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, nhằm đảm bảo sự hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi
ngân sách và các yêu cầu kỹ thuật đã được xác định trước cũng như cách thức và chất
lượng thực hiện 15
1.3.4.2. Hiệu quả đầu tư theo quan điểm quản lý dự án 15
Theo quan điểm quản lý dự án đầu tư, hiệu quả của một dự án đầu tư được đánh giá là: .15
- Hoàn thành đúng thời gian quy định: Dự án triển khai thực hiện và hoàn thành đưa vào sử
dụng theo đúng kế hoạch đã định sẽ phát huy được hiệu quả vốn đầu tư, đạt được mục tiêu
dự án đã đề ra. 15
- Đạt được chất lượng và thành quả mong muốn: Một dự án được quản lý tốt từ khâu chuẩn
bị đầu tư đến khi kết thúc đầu tư thì sản phẩm của dự án sẽ đảm bảo chất lượng, thỏa mãn
yêu cầu của khách hàng và của người hưởng lợi. 15
- Tiết kiệm các nguồn lực, hay nói cách khác là chi phí trong phạm vi cho phép: Ngoài các
yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng và thời gian hoàn thành, hiệu quả của dự án phải được
đánh giá trên cơ sở chi phí để thực hiện và hoàn thành dự án. 16
1.3.4.3. Quy định trách nhiệm trong quản lý dự án 16
- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước kể cả các dự án thành phần, Nhà
nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng 16
- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước,
Nhà nước quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư. Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách
nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án 16
- Đối với các dự án sử dụng vốn khác chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản
trình; 17
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình: Tất cả các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi
nguồn vốn và thành phần kinh tế đều phải được cơ quan chuyên môn thẩm định thiết kế
trước khi xây dựng. Nội dung thẩm định trên một số mặt: sự tuân thủ các tiêu chuẩn, quy
phạm trong thiết kế kiến trúc, công nghệ, kết cấu… 18
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp 18
- Xin giấy phép xây dựng. Tất cả các công trình xây dựng mới, cải tạo sửa chữa, thay đổi
chức năng hoặc mục đích sử dụng phải xin giấy phép xây dựng; 18
- Ký kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án; 18
- Thi công xây lắp công trình; 18
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện hợp đồng; 18
- Thanh toán vốn đầu tư theo từng giai đoạn xây dựng. Sau khi thực hiện nghiệm thu giai
đoạn giữa chủ đầu tư và đơn vị thi công nếu có nguồn vốn thì chủ đầu tư thực hiện thanh
toán cho nhà thầu giá trị khối lượng đã nghiệm thu 18
1.3.5.3. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng 18
Giai đoạn này được bắt đầu khi công trình xây dựng xong toàn bộ, vận hành đạt thông số
đề ra trong dự án đến khi kết thúc dự án. Nội dung của giai đoạn này bao gồm: 18
- Nghiệm thu bàn giao công trình đưa vào sử dụng; 18
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình; 18
- Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình; 18
- Bảo hành công trình; 18
- Quyết toán vốn đầu tư; 18
- Phê duyệt quyết toán; 19
Kết luận chương 1 19
Một quốc gia muốn có được sự phát triển nhanh và bền vững thì cần phải có cơ sở vật chất
kỹ thuật đồng bộ, hiện đại. Chính vì vậy, xây dựng các dự án giao thông đường bộ là hoạt
động cần thiết đối với những quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. 19
Với một số vấn đề lý luận về dự án, dự án giao thông đường bộ, quản lý dự án giao thông
đường bộ bằng nguồn vốn ngân sách đòi hỏi chúng ta quản lý dự án giao thông đường bộ
có tính pháp lý, khoa học 19
Diện tích đất tự nhiên 6.019 km2, dân số 1.229.300 người (năm 2013), có 127 km đường
Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo
hướng Bắc Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với
chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa
khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan 20
Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống
đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã hội 21
Hình 1: Bản đồ Tỉnh Hà Tĩnh 21
2.1.1.2. Đặc điểm khí hậu 21
Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền
Bắc có mùa đông lạnh. 21
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu
nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa
rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng 21
Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao. Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch
thấp hơn mùa hè. Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22oC, ở mùa hè bình
quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC. Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất,
màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất 22
Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở Bắc miền Trung Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía
Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt
có nơi trên 3000 mm 22
2.1.2.3. Sông, hồ, biển và bờ biển 22
Sông ngòi nhiều nhưng ngắn. Dài nhất là sông Ngàn Sâu 131 km, ngắn nhất là sông Cày 9
km; sông Cả đoạn qua Hà Tĩnh giáp Nghệ An cũng chỉ có 37 km 22
Sông ngòi Hà Tĩnh có thể chia làm 3 hệ thống: 22
- Hệ thống sông Ngàn Sâu: có lưu vực rộng 2.061 km2; có nhiều nhánh sông bé như sông
Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi 22
- Hệ thống sông Ngàn Phố: dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từ Hương Sơn cùng
với Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lam chảy ra Cửa Hội 22
- Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có: nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa
dự án có quy mô lớn, như: Dự án Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa Hà
Tĩnh có tổng mức đầu tư 7.096 tỷ đồng; Dự án Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng I có tổng
mức đầu tư 1,2 tỷ USD [14,tr.7] 23
c. Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp được mùa toàn diện, đời sống nhân dân vùng nông thôn
được cải thiện và ổn định 24
- Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp tiếp tục phát triển ổn định; giá trị sản xuất tăng bình
quân hàng năm 5,64%, trong đó, nông nghiệp tăng 6,15%, lâm nghiệp tăng 2,75%, ngư
nghiệp tăng 4,19%; sản lượng lương thực bình quân đạt 48 vạn tấn/năm, năm 2013 đạt
60,3 vạn tấn, giá trị sản xuất đạt 39 triệu đồng/ha/năm, tăng 1,9 lần so với năm 2007. 24
- Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực; một số tiến bộ khoa học kỹ
thuật, đặc biệt là giống, biện pháp thâm canh mới đã được ứng dụng, góp phần tăng năng
suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. 24
- Sản xuất thuỷ sản tiếp tục phát triển cả khai thác, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu. 24
- Kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được tăng cường; nhiều làng nghề và hợp tác xã đã có
sự đổi mới tích cực về trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất, thị trường tiêu thụ sản
phẩm. Công tác chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2 gắn với chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp được tập trung chỉ đạo tích cực và sâu rộng; đến nay, có 8 địa
phương đã cơ bản hoàn thành (Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ và thị xã Hồng Lĩnh) và
phấn đấu năm 2013 hoàn thành trên địa bàn toàn tỉnh. 24
- Việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh và phát huy hiệu quả. Đến
nay, toàn tỉnh đã có 1982 máy nông nghiệp các loại 24
- Công tác đào tạo nghề, phát triển ngành, nghề truyền thống, nghề mới, chuyển đổi nghề
cho nông dân được triển khai tích cực; cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch theo hướng
chuyển lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực dịch vụ, chế biến, xây dựng và xuất khẩu
lao động [24] 24
d. Các công trình, dự án trọng điểm được triển khai tích cực 25
- Dự án Nhà máy luyện thép công suất 4 triệu tấn/năm tại Khu kinh tế Vũng Áng. Công
tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ khai thác mỏ đang được
triển khai tích cực 25
- Khu kinh tế Vũng Áng đến nay đã cấp chứng nhận đầu tư cho 84 dự án với số vốn gần
38%. Trong đó thuế và phí đạt 2.346 tỷ đồng đạt 130% dự toán trung ương giao, bằng 86%
kế hoạch HĐND tỉnh giao. Cơ cấu nguồn thu đã có sự chuyển biến tích cực, tỷ trọng thu từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh tăng khá (từ 35,7% năm 2007 lên 53,8% vào năm 2012).
Thu thuế xuất, nhập khẩu năm 2012 ước đạt 200 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với năm 2007 26
- Chi ngân sách cơ bản đáp ứng nhu cầu chi theo kế hoạch, đảm bảo thực hiện các chính
sách an sinh xã hội, thực hiện tốt chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí 26
- Hoạt động ngân hàng cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển và sản xuất, kinh
doanh; triển khai tích cực và đạt kết quả khá các gói hỗ trợ của Chính phủ, góp phần cùng
các doanh nghiệp khôi phục sản xuất, ngăn chặn suy giảm kinh tế. Tổng nguồn vốn các
ngân hàng thương mại huy động và quản lý năm 2012 đạt 10.000 tỷ đồng, tăng bình quân
hằng năm 30,3%; Tổng dư nợ cho vay đạt 14.000 tỷ đồng, vượt 2,15 lần kế hoạch; tỷ lệ nợ
xấu dưới 2% 27
- Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của các ngành dịch vụ đạt 10,3%, đóng góp trên
30% tăng trưởng GDP. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình
quân hằng năm tăng trên 30%. Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 55 triệu USD.
Lượng khách du lịch tăng hằng năm trên 21% 27
- Hoạt động kinh tế đối ngoại đã góp phần huy động các nguồn vốn cho đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và xoá đói, giảm nghèo. Trong 5 năm đã huy động được
2.500 tỷ đồng từ nguồn ODA và 340 tỷ đồng từ nguồn NGO [24;tr:14] 27
f. Huy động các nguồn vốn đầu tư 27
- Nguồn vốn đầu tư trên địa bàn có bước tăng trưởng cao, từng bước đáp ứng nhu cầu xây
dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, tạo sự chuyển biến rõ nét trong phát triển
đô thị, đầu tư các công trình trọng điểm, xây dựng các khu kinh tế và khu công nghiệp
trong tỉnh 27
- Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn trong 5 năm đạt 19.700 tỷ đồng, riêng năm 2013
đạt trên 4.000 tỷ đồng (tăng gấp 2 lần so với năm 2007). Cơ cấu nguồn vốn đầu tư từ ngân
sách hằng năm giảm dần, từ 70,25% (năm 2007) xuống còn 44% (năm 2013); nguồn vốn
đầu tư từ doanh nghiệp và dân cư tăng, chiếm 34% tổng vốn đầu tư xã hội trong năm 2013.
Công tác xã hội hoá đầu tư được triển khai tích cực. Thu hút nguồn vốn ODA đạt kết quả
khá, dự kiến năm 2013 tăng 2,1 lần so với năm 2007 27
hiệu quả các hoạt động chính trị, kinh tế, lễ hội truyền thống của quê hương, đất nước. 29
- Các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đầu tư. Thực hiện tốt công tác giữ
gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá; khuyến khích phục hồi các lễ hội truyền
thống; có 72 di tích văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia, 150 di tích xếp hạng cấp tỉnh .29
- Du lịch tiếp tục phát triển mạnh, nhất là du lịch biển, du lịch gắn với các di tích lịch sử,
văn hoá. Quy hoạch phát triển du lịch được triển khai chủ động, gắn với quy hoạch chung
về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hạ tầng du lịch tiếp tục được đầu tư nâng cấp; số
lượng du khách và doanh thu từ du lịch tăng nhanh 29
b. Giáo dục- đào tạo 29
- Chất lượng giáo dục toàn diện được quan tâm và tiếp tục giữ vững thành tích là một trong
những đơn vị dẫn đầu cả nước. 29
- Huy động và lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đáp
ứng nhu cầu học tập của mọi đối tượng; đến nay, 100% phường, xã có trường học các cấp
từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được xây dựng cao tầng, tỷ lệ phòng học kiên cố
hoá đạt khá cao (tiểu học 57%, THCS 50%, THPT 100%), có 473 trường đạt chuẩn quốc
gia (83 trường mầm non, 294 trường tiểu học, 88 trường trung học cơ sở, 8 trường trung
học phổ thông). Hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn được hình
thành và phát triển nhanh chóng, đến nay, có trên 60 % Trung tâm hoạt động có hiệu quả.
30
c. Về y tế 30
- Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và dân số - kế hoạch hoá gia đình được triển
khai đúng tiêu chí và đảm bảo tiến độ 30
- Mạng lưới y tế dự phòng hoạt động chủ động, có hiệu quả, góp phần ngăn ngừa và hạn
chế sự phát triển của các loại dịch, bệnh nguy hiểm trên địa bàn. Công tác kiểm tra, giám
sát bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm được quan tâm. 30
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế cả 3 tuyến tiếp tục được tăng cường; tiến độ triển khai
đầu tư xây dựng, nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện tuyến huyện bằng
nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và nguồn hỗ trợ ODA đảm bảo kế hoạch đề ra (các bệnh
viện đa khoa huyện, thị xã, thành phố đang được đầu tư xây dựng và nâng cấp theo tiêu
chuẩn bệnh viện loại 1). Triển khai nhiều kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị bệnh. 30
Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thẩm định các dự án do mình quyết định đầu tư. Sở Kế
hoạch và Đầu tư là đầu mối tổ chức thẩm định dự án 32
Ủy ban nhân dân huyện, xã tổ chức thẩm định các dự án do mình quyết định đầu tư. Đầu
mối thẩm định dự án là các đơn vị có chức năng quản lý kế hoạch ngân sách trực thuộc
người quyết định đầu tư 32
Số lượng dự án, tổng mức đầu tư cho một dự án, sự phức tạp của dự án gia tăng qua các
năm. Công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án được cải tiến. Thẩm định dự án theo cơ
chế 1 cửa cơ bản đảm bảo chất lượng và thời gian theo quy định. 32
Bảng 2.1. Kết quả thẩm định dự án từ năm 2007 - 2013 33
Năm 33
Số DA 33
thẩm định 33
Giá trị Chủ đầu tư trình (tr.đ) 33
Giá trị 33
thẩm định (tr.đ) 33
Giảm trừ kinh phí (tr.đ) 33
Số dự án điều chỉnh TMĐT 33
Giá trị 33
điều chỉnh 33
(tr.đ) 33
Tổng cộng (tr.đ) 33
2007 33
57 33
2.462.864 33
2.354.648 33
108.216 33
3 33
6.546 33
2.361.194 33
2008 33
968.308 33
2012 33
65 33
945.764 33
864.135 33
81.629 33
864.135 33
2013 33
58 33
825.757 33
782.901 33
42.856 33
782.901 33
Cộng 33
525 33
1.025.768 33
965.746 33
60.022 33
2 33
2.562 33
968.308 33
(Nguồn Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tĩnh) 33
2.2.1.3. Phê duyệt dự án 33
UBND tỉnh quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, C; UBND cấp huyện quyết định đầu
tư các dự án nhóm B, C; UBND cấp xã quyết định đầu tư các dự án nhóm C trong phạm vi
và khả năng cân đối ngân sách của địa phương sau khi được phê duyệt chủ trương đầu tư.
33
UBND cấp huyện quyết định đầu tư các dự án có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách
tỉnh đến 2 tỷ đồng sau khi có văn bản chấp thuận của UBND tỉnh về nguồn vốn hỗ trợ trên
cơ sở đề xuất của Sở Kế hoạch và Đầu tư để đảm bảo cân đối kế hoạch vốn 33
Hầu hết các công trình được thiết kế đều có hệ số an toàn quá cao làm tăng chi phí xây
dựng công trình. Nhiều công trình thiết kế chưa phù hợp với công năng của công trình và
văn hóa từng vùng. Việc thiết kế các hạng mục thuộc dự án lớn chưa đồng bộ, một số hạng
mục liền kề nhau nhưng lại có thông số khác nhau, sai sót này thường thuộc về công trình
hạ tầng kỹ thuật. Có những công trình phải thực hiện thiết kế bổ sung nhiều lần do khi thiết
kế không đánh giá được các tình huống xẩy ra làm kéo dài thời gian thi công 35
Công tác lập dự toán do chưa có sự ràng buộc chặt chẽ trong việc chịu trách nhiệm về chất
lượng nên còn nhiều sai sót dẫn đến chi phí xây dựng công trình tăng cao so với thực tế.
Nhưng những sai sót đó nếu được phát hiện thì chỉ trừ vào phần chi phí xây dựng còn chưa
có chế tài cụ thể quy định về hình thức xử phạt đơn vị tư vấn lập dự toán. Do đó, các đơn
vị tư vấn lập dự toán hoặc do năng lực hạn chế hoặc do cố tình lập tăng dự toán chi phí tạo
điều kiện cho đơn vị thi công hưởng lợi. Nhiều công trình, dự toán được lập với biện pháp
thi công phức tạp, không phù hợp với thiết kế, áp dụng sai định mức, chế độ chính sách
quy định, sai sót trong đo bóc tiên lượng, sai lỗi số học 35
b. Thẩm tra thiết kế, dự toán công trình 36
Trước đây, khi công tác thẩm tra thiết kế, dự toán công trình được giao cho các cơ quan
chuyên môn thì hầu hết các công trình đều được điều chỉnh những sai sót trong thiết kế, lập
dự toán qua quá trình thẩm tra. Từ khi nhiệm vụ thẩm tra thiết kế, lập dự toán được giao
cho chủ đầu tự tự thực hiện hoặc thuê tư vấn, thiết kế, dự toán xây dựng công trình hầu
như không có sự thay đổi qua quá trình thẩm tra. Nhiều đơn vị tư vấn thẩm tra còn phối
hợp với đơn vị tư vấn lập dự toán cố tình lập tăng dự toán để nếu qua được sự kiểm tra của
các cơ quan chuyên môn thì tạo điều kiện cho đơn vị thi công hưởng lợi. Xẩy ra tình trạng
này, ngoài do năng lực của các đơn vị tư vấn thẩm tra hạn chế thì còn do các đơn vị này
không phải chịu trách nhiệm cao khi phát hiện ra sai phạm 36
c. Phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình 36
Theo quy định, chủ đầu tư có thẩm quyền phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình.
Tuy nhiên, ngoài các chủ đầu tư lớn như Sở Nông nghiệp, Sở Giao thông và các huyện,
thành phố còn lại các chủ đầu tư nhỏ hầu như không có trình độ chuyên môn về xây dựng,
việc phê duyệt thiết kế, dự toán của các chủ đầu tư này dựa hoàn toàn vào báo cáo đơn vị
thẩm tra. Do đó, nhiều công trình đã được phê duyệt nhưng vẫn còn tồn tại nhiều sai sót. 36
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư cũng sẽ nắm bắt được quyền chủ động, quản lý có hiệu
quả và giảm thiểu được các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện dự án đầu tư do toàn
bộ quá trình tổ chức đấu thầu và thực hiện kết quả đấu thầu được tuân thủ chặt chẽ theo
quy định của pháp luật 38
b. Những kết quả đạt được trong công tác lựa chọn nhà thầu 38
Thực hiện quy định của các luật: Luật Xây dựng năm 2003, Luật đấu thầu năm 2005, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư XDCB năm 2009; Nghị
định 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu
và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng, công tác đấu thầu đã từng bước đi vào
nề nếp, cơ bản đã thực hiện đúng theo quy định. Hàng năm đã tổ chức nhiều lớp tập huấn
về công tác đấu thầu cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trong công tác đấu thầu.
Năng lực tổ chức thực hiện đấu thầu của các chủ đầu tư, BQL dự án cũng như năng lực
tham gia đấu thầu của các nhà thầu ngày càng được nâng lên. Công tác đấu thầu đã được
phân cấp, cấp có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu, chủ đầu tư tổ
chức thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu, kết quả đấu thầu và xử lý kết quả đấu thầu
nên đã tạo chủ động cho chủ đầu tư 38
Năm 2013, các dự án giao thông đường bộ từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước do tỉnh quản
lý đã tổ chức đấu thầu được 909 gói thầu, tổng giá trị trúng thầu 4.696 tỷ đồng, tiết kiệm
được 202 tỷ đồng (4,3%). Trong đó đấu thầu rộng rãi 105 gói thầu với tổng giá trị trúng
thầu 725,46 tỷ đồng; đấu thầu hạn chế 120 gói thầu với tổng giá trị trúng thầu 2.015,34 tỷ
đồng; chỉ định thầu, tự thực hiện, chào hàng cạnh tranh và mua sắm trực tiếp 684 gói thầu,
giá trị 1.956,14 tỷ đồng 38
Bảng 2.2: Kết quả công tác lựa chọn nhà thầu từ năm 2007-2013 39
Năm 39
Đấu thầu rộng rãi 39
Đấu thầu hạn chế 39
Chỉ định thầu, CHCT, MSTT 39
Tổng cộng 39
Số gói 39
Giá trị (tr.đ) 39
30 39
171.209 39
34 39
43.465 39
266 39
1.029.481 39
5,6% 39
2010 39
150 39
608.388 39
71 39
338.373 39
23 39
81.508 39
244 39
1.028.269 39
5,0% 39
2011 39
176 39
1.378.691 39
119 39
892.297 39
83 39
207.319 39
378 39
2.478.308 39
5,1% 39
2012 39
111 39
824.240 39
- Nhiều gói thầu tiến hành tổ chức đấu thầu còn mang tính hình thức, không có sự cạnh
tranh bình đẳng do áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế. Tỷ lệ giảm giá thấp, giá trúng thầu
của hầu hết các gói thầu xấp xỉ bằng giá gói thầu, phần kinh phí giảm giá còn thấp hơn
phần chi phí tổ chức đấu thầu. 39
- Đối với một số chủ đầu tư, hồ sơ mời thầu, kế hoạch đấu thầu thường làm chậm và không
đầy đủ, chất lượng thấp phải làm đi làm lại gây chậm trễ, nhất là các chủ đầu tư không
chuyên xây dựng cơ bản 40
- Công việc chấm xét thầu của tổ chuyên gia gói thầu chưa đảm bảo, các thành viên tổ
chuyên gia không có chuyên môn và am hiểu về gói thầu, không có chứng chỉ bồi dưỡng
nghiệp vụ đấu thầu; chấm xét thầu còn tùy tiện mang tính chất chiếu lệ, hình thức. 40
- Các quy định hướng dẫn của Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi và Nghị định hướng dẫn đã có
sự phân cấp mạnh cho các chủ đầu tư trong quá trình thẩm định Hồ sơ mời thầu, kết quả
đấu thầu, xử lý tình huống trong đấu thầu,… Tuy nhiên, năng lực của một số chủ đầu tư
còn hạn chế, nên sẽ ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình lựa chọn nhà thầu 40
- Trong giai đoạn này các văn bản hướng dẫn về công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
có sự thay đổi bổ sung nhiều, ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu vận dụng của các cơ
quan đơn vị như: Từ Luật Đấu thầu sau đó điều chỉnh bổ sung Luật sửa đổi và bổ sung; từ
Nghị định số 111/200/NĐ-CP ngày 29/9/2006, Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày
05/5/2008, Nghị định số 85/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ. 40
- Việc triển khai thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng, một số tình huống xảy ra ngoài quy
định của Luật, một số nội dung chưa phù hợp thực tế tại địa phương cụ thể như sau: 40
+ Trường hợp đấu thầu lựa chọn đơn vị tư vấn cho công tác chuẩn bị đầu tư (lập dự án đầu
tư) còn lúng túng, Luật chưa được quy định cụ thể: Chi phí hồ sơ yêu cầu, hồ sơ mời thầu
cho công tác này, giá gói thầu tư vấn lập dự án. 40
+ Về nhà thầu liên danh: Các văn bản hướng dẫn có nêu về nhà thầu liên danh nhưng
không hướng dẫn cụ thể về năng lực kinh nghiệm của từng thành viên liên danh, nên việc
đánh giá về nhà thầu liên danh còn nhiều khó khăn 41
+ Các nhà thầu mới thành lập và nhà thầu phụ khó có thể trở thành nhà thầu chính tham gia
đấu thầu do không đảm bảo theo các yêu cầu của Luật và Nghị định hướng dẫn; trong các
nhà thầu này rất có nhiều nhà thầu đáp ứng về năng lực và tổ chức thi công tốt 41
trình nhỏ, chủ đầu tư không am hiểu về lĩnh vực xây dựng cơ bản nên việc giám sát thi
công công trình giao cho đơn vị tư vấn giám sát. Tuy nhiên, do tốc độ phát triển xây dựng
trên địa bàn rất nhanh trong khi chưa có các công ty tư vấn giám sát chuyên nghiệp, tình
trạng chung là các công ty tư vấn thiết kế mới bổ sung nhiệm vụ này, đã thế lực lượng cán
bộ tư vấn giám sát thiếu và yếu, trình độ năng lực, kinh nghiệm thi công còn rất hạn chế, ít
được bồi dưỡng, cập nhật nâng cao trình độ về kỹ năng giám sát, về công nghệ mới, chế độ
đãi ngộ hạn chế, do chi phí giám sát còn thấp nên hạn chế đến công tác quản lý tổ chức tư
vấn giám sát, còn tồn tại ở nhiều công trình tư vấn giám sát thiếu trách nhiệm, thông đồng
với nhà thầu thi công để trục lợi 42
b. Quản lý tiến độ thi công 43
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, hầu như tất cả các công trình giao thông đường bộ đều thi
công chậm hơn so với tiến độ đã đề ra. Có những công trình chậm một vài tuần nhưng
cũng có những công trình chậm hàng năm làm cho các công trình chậm đưa vào sử dụng,
làm giảm hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Nguyên nhân gây ra tình trạng này chủ yếu là do chủ
đầu tư không đưa ra những điều kiện trong hợp đồng buộc đơn vị thi công phải thực hiện
đúng tiến độ đã đề ra. Do không phải chịu trách nhiệm về việc thời gian thi công công trình
bị kéo dài nên các chủ đầu tư sẵn sàng điều chỉnh thời gian thi công mà không có lý do
chính đáng. Các đơn vị thi công một lúc thi công nhiều công trình nên nguồn lực bị phân
tán, kéo dài thời gian thi công. Có những công trình do được ứng vốn lớn nên sau khi khởi
công đã không vội vàng thực hiện. Trong những trường hợp như vậy chủ đầu tư chưa có
biện pháp quyết liệt đẩy nhanh tiến độ thi công. Mặc dù đoàn thanh tra liên ngành thường
xuyên thực hiện kiểm tra tiến độ thực hiện các dự án nhưng do số lượng dư án quá lớn nên
chỉ kiểm tra được những dự án lớn, dự án trọng điểm 43
c. Quản lý khối lượng thi công 43
Quản lý khối lượng thi công phụ thuộc rất nhiều vào ý thức trách nhiệm và năng lực của
chủ đầu tư và giám sát thi công. Trong các dự án lớn có chủ đầu tư là các đơn vị chuyên
ngành về xây dựng cơ bản thì qua quá trình giám sát và nghiệm thu, phần khối lượng có
trong thiết kế, dự toán nhưng thực tế không thực hiện được loại ra khi đề nghị thanh, quyết
toán. Còn trong các dự án mà chủ đầu tư không am hiểu về xây dựng cơ bản, hầu hết khối
lượng được nghiệm thu không thay đổi so với thiết kế, dự toán ban đầu mặc dù có nhiều
các chi phí và yếu tố đảm bảo sự điều tiết của Nhà nước 45
b. Quyết toán dự án hoàn thành 45
Một số chủ đầu tư, BQLDA chưa thực hiện quyết toán vốn đầu tư năm theo chế độ kế toán
chủ đầu tư 45
Tình trạng chậm quyết toán dự án hoàn thành còn khá phổ biến: Chủ đầu tư chưa nhận
thức được trách nhiệm quyết toán dự án hoàn thành là của chủ đầu tư nên nhiều chủ đầu tư
còn phó mặc cho nhà thầu trong việc lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành dẫn đến mẫu
biểu hồ sơ quyết toán thiếu, số liệu không chính xác kéo dài thời gian hoàn chỉnh hồ sơ,
một số công trình hoàn thành đưa vào sử dụng nhiều năm mới lập hồ sơ quyết toán; công
tác tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra hồ sơ quyết toán một số dự án còn có những sai sót như tiếp
nhận hồ sơ còn thiếu so với qui định, bản vẽ thiết kế thiếu chi tiết, bản vẽ hoàn công không
đầy đủ, dự toán chưa chính xác so với quyết định phê duyệt làm chậm tiến độ thẩm tra
quyết toán của cơ quan thẩm tra. Tuy nhiên từ năm 2011 đến nay do Nghị quyết số 11/NQ-
CP ngày 24/02/2011 của Chính Phủ hạn chế đầu tư công, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã tập trung
trả nợ cho các dự án hoàn thành đã được phê duyệt quyết toán nên chủ đầu tư và đơn vị đã
nhận thức được trách nhiệm trong việc quyết toán dự án hoàn thành. Dự án nào đã được
phê duyệt quyết toán ưu tiên trả nợ và bố trí nguồn 45
Công tác hướng dẫn, kiểm tra việc thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành đối với
các dự án đã được phân cấp cho cấp huyện chưa thực hiện được thường xuyên nên nhiều
dự án hoàn thành thuộc ngân sách cấp huyện, cấp xã, ngân sách tỉnh nhưng phân cấp cho
cấp huyện thẩm tra, phê duyệt chưa được phê duyệt quyết toán nhất là các dự án thuộc
chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình 135. 46
Việc đảm bảo thời gian thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành theo Quyết định
26/2011/QĐ-UBND của UBND tỉnh là rất khó khăn. Mặt khác do thời gian thẩm tra quyết
toán bị rút ngắn nên ảnh hưởng đến chất lượng công tác thẩm tra và không đạt được mục
tiêu của công tác thẩm tra quyết toán theo tinh thần của Thông tư 19/2011/TT-BTC là phát
hiện, uốn nắn, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách của Nhà nước, nâng cao hiệu quả
công tác quản lý dự án [23,tr:12] 46
Bảng 2.3: Kết quả công tác thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành từ 2007-2013 47
Năm 47
3.57 47
1,234 47
2009 47
80 47
338,589 47
327,539 47
11,050 47
3.26 47
2,599 47
2010 47
125 47
476,738 47
465,899 47
10,839 47
2.27 47
867 47
2011 47
98 47
506,355 47
491,906 47
14,449 47
2.85 47
2,317 47
2012 47