ĐIỀU CHỈNH RỐI LOẠN
CÂN BẰNG TOAN KIỀM
Cân bằng toan kiềm chỉ tình trạng cân bằng giữa các nồng độ ion H+ và OH- trong
những môi trường sinh vật nhất định.
1. ĐẠI CƯƠNG
1.1. pH
Để biểu hiện mối tương quan giữa các nồng độ ion H+ và OH-, người ta dùng chỉ
số pH.
Theo Sorensen, pH là chỉ số được biểu hiện bằng logarit thập phân của nồng độ
ion H+ phân ly trong môi trường mang dấu ngược lại. Bình thường trong cơ thể
người nồng độ ion H+ phân ly trong 1 lít dịch là 10-7,35 tới 10-7,45 mEq/lít, như
thế có nghĩa là pH = -(log 10-7,35 tới log 10-7,45) = 7,35-7,45. pH càng thấp thì
nồng độ ion H+ càng cao và ngược lại. Nếu pH xuống <7,3, máu ở tình trạng toan,
nếu pH cao >7,45 máu ở trong tình trạng kiềm. Khi pH >7,8 và <6,8 cơ thể không
sống được.
Ở nhiệt độ 380C, pH bình thường là 7,4 tích số ion H+´OH- = 10-13,56.
Nồng độ ion OH-
(tĩnh mạch)(động mạch)
Nếu tỷ lệ trên tăng, có thể do nồng độ ion H+ tăng hoặc có thể do nồng độ ion
OH- giảm, trong trường hợp này máu trong tình trạng toan. Tỷ lệ trên có thể giảm
do nồng độ ion OH- tăng/hoặc nồng độ H+ giảm, lúc này máu ở trong tình trạng
kiềm.
Trong cơ thể có nhiều cơ chế bù trừ để đảm bảo pH không đổi. Một trong cơ chế
bù trừ đó là cơ chế bù trừ của hệ thống đệm.
1.2. Hệ thống đệm
Hệ thống điều hòa trực tiếp sự thăng bằng pH là hệ thống đệm. Hệ thống đệm
trong cơ thể gồm một acid yếu và muối của acid này có gốc kiềm mạnh.
Cơ chế đệm: thí dụ hệ thống đệm bicarbonat:
R-H + CO3HNa ® RNa + H2CO3 (khi acid máu tăng)
R+OH + CO3H2 ® H2O + RHCO3 (khi kiềm máu tăng)
không để không khí lọt vào.
- Kiềm đệm (Buffer Base = BB) là tổng số các ion của hệ thống đệm trong máu,
trong đó chủ yếu là bicarbonat và các ion của đạm được tính bằng mEq/lít.
- Kiềm dư (Base Excess = BE) là lượng kiềm thừa ( +BE ) /hoặc thiếu -BE), được
tính bằng hiệu số của lượng kiềm đệm hiện có của bệnh nhân với lượng kiềm đệm
bình thường (được tính ở điều kiện nhiệt độ 380C, pCO2= 40mmHg, pH= 7,4).
- Bicarbonat chuẩn (Standard Bicarbonat = SB) là lượng bicarbonat tính bằng
mEq/lít khi máu hoàn toàn bão hòa oxy và pCO2 ở mức 40mmHg, nhiệt độ 380C.
- Bicarbonat thực (Actual Bicarbonat = AB) là lượng bicarbonat có ở bệnh nhân.
- Lượng CO2 chung trong huyết tương bao gồm CO2 trong bicarbonat và lượng
CO2 có trong huyết tương, tính bằng mEq/lít.
Các chỉ số trên được tính bằng máy Astrup và bằng bảng mẫu của Siggaard-
Andersen.
2.2. Phân loại rối loạn toan kiềm
Có 2 khả năng bệnh lý xảy ra khi tình trạng thăng bằng trên bị phá vỡ: tình trạng
toan xảy ra khi máu nhiễm acid nhiều hơn bình thường hoặc tình trạng kiềm xảy ra
khi lượng kiềm trong máu tăng hơn bình thường.
Người ta còn phân theo: toan hoặc kiềm do hô hấp hoặc do chuyển hóa.
- Toan hô hấp:
+ Nguyên nhân: do suy hô hấp làm việc đào thải CO2 không được.
+ Xét nghiệm: pCO2 tăng trong máu, tỷ lệ HCO3- /H2CO3 sẽ giảm làm pH giảm.
+ Hình thái:
Mất bù: pH giảm, pCO2 tăng, BE bình thường.
Bù ít: pH giảm, pCO2 tăng, BE tăng.
Bù hoàn toàn: pH bình thường, pCO2 tăng, BE tăng.
Nước tiểu: pH giảm, HCO3 giảm.
- Toan chuyển hóa:
+ Nguyên nhân: do thiếu oxy làm cho quá trình chuyển hóa chất bị dở dang, các
chất chuyển hóa dở dang (acid lactic, acid pyruvic ) bị ứ đọng làm cho lượng acid
máu tăng lên. Có thể do ăn nhiều chất chua.
kiềm toan. Nếu thở máy không đúng phải chỉnh lại các chỉ số thở cho phù hợp.
3.1. Điều chỉnh tình trạng toan
Thuốc dùng để điều trị tình trạng toan yêu cầu phải không độc, thải qua cơ thể dễ
dàng hoặc tham gia vào quá trình chuyển hóa của cơ thể. Thông dụng hiện nay có
3 loại:
- Natri bicarbonat (NaHCO3)
+ Cơ chế:
GS.TS. Lê Xuân Thục