Sự thụ thai và phát triển của trứng 1. ĐỊNH NGHĨA :
Sự thụ tinh là sự kết hợp giữa 2 giao tử đơn bội thể đực và cái, để tạo thành một
hợp tử lưỡng bội thể. Hợp tử này sẽ là tế bào mẹ cho tất cả các tế bào sau này của
trứng
2. NHỮNG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ CHO SỰ THỤ TINH :
2.1. Quá trình chuẩn bị tại noãn nang :
Trong giai đoạn chuẩn bị này, noãn bào tương lai được chiêu mộ vào một đoàn hệ
noãn. Qua quá trình phát triển, từ hệ đoàn này sẽ chọn ra một noãn vượt trội. Chỉ
có noãn vượt trội mới tham gia vào quá trình phóng noãn và thụ tinh. Quá trình
chiêu mộ đoàn hệ chịu tác dụng của FSH. Dưới tác dụng của FSH, Estradiol tăng
cao gây nên một phản hồi dương tính lên hạ đồi - Yên, làm xuất hiện đỉnh LH
Dưới tác dụng của đỉnh LH, tại noãn vượt trội xảy ra hàng loạt biến đổi quan
trọng.
2.1.1 Những biến đổi của noãn nang :
Các tế bào của Cumulus chế tiết ra một lượng lớn dịch nhày, vì vậy chúng tách rời
xa nhau, tạo điều kiện dễ dàng cho sự tách rời noãn bào khỏi Cumulus ở thời điểm
phóng noãn. Đồng thời một khối lượng dịch nhày lớn được tạo ra chung quanh
noãn để bẫy tinh trùng. Hơn nữa khối nhày này sẽ tham gia vào việc “ khả năng
hóa tinh trùng “
2.1.2 Những biến đổi của dịch nang :
Dịch nang gia tăng thể tích, xuất hiện một lượng nhỏ Progesterone trong dịch
nang, lượng Estrogène giảm và có sự thay đổi nồng độ các hormone khác có trong
dịch nang. Hai hiện tượng này gây nên một sự gia tăng nhanh chóng thể tích của
noãn nang ở thời điểm phóng noãn.
2.1.3 Những thay đổi của noãn bào :
Là những thay đổi của nhân và nguyên sinh chất đảm bảo 3 điều kiện của sự thụ
tinh bình thường :
- Khả năng được nhận dạng và bị xuyên thấu bởi tinh trùng của loài
Sau cùng, khi giao hợp, tinh trùng được trộn với tinh tương tạo thành tinh dịch
phóng vào trong âm đạo. Từ các cùng đồ âm đạo, tinh trùng còn một cách chừng
20cm để tới nơi sẽ xảy ra hiện tượng thụ tinh ( 1/3 ngoài vòi trứng ). Với nhiệt độ
cơ thể, tốc độ tự di chuyển của tinh trùng là 2 - 3cm/ phút, vậy thời gian cần thiết
để tinh trùng tới được nơi thụ tinh là 90 phút - 2 giờ . Thực ra quá trình dịch
chuyển của tinh trùng còn có thêm nhiều yếu tố khác tác động vào cho nên thời
gian để tinh trùng có thể đến được nơi thụ tinh có thể ngắn hoặc dài hơn mức nêu
trên ( theo Williams Obstetrics 1993, nhanh nhất là 5 phút và trung bình là 4 - 6
giờ )
3. SỰ DI CHUYỂN CỦA TINH TRÙNG TỪ ÂM ĐẠO ĐẾN VÒI TRỨNG :
3.1. Vượt qua cổ tử cung :
Ngay sau khi được phóng vào trong âm đạo, tinh dịch dông đặc lại trong cùng đồ
và cầm tù các tinh trùng. Thời gian sau khoảng 1 giờ, các enzym ly giải protein có
trong tinh dịch, được hoạt hóa bởi pH acid của âm đạo, sẽ ly giải khối đông này và
phóng thích các tinh trùng đang cầm giữ. Tại đây cùng với sự co bóp của các thớ
cơ âm đạo, sức hút của cổ tử cung, các tinh trùng di động nhất sẽ vượt qua rào
chắn niêm dịch cổ tử cung. Số tinh trùng còn lại sẽ bị hủy diệt trong môi trường
pH acid của âm đạo.
Từ lỗ ngoài cổ tử cung, tinh trùng vượt qua được kênh CTC để tới tử cung ( chủ
yếu là do sự tự chuyển động của bản thân chúng ). Tuy nhiên tinh trùng qua đưọc
nhanh và nhiều như thế nào còn tùy khối lượng và đặc điểm lý, hóa của niêm dịch
CTC. Ở giai đoạn tiền phóng noãn - phóng noãn thì lượng niệm dịch, độ nhớt, độ
trong suốt của nó là thích hợp nhất cho sự vượt qua kênh CTC của tinh trùng
Như vậy vai trò của nút nhầy CTC là :
- Sàng lọc các giao tử
- Bước đầu thực hiện quá trình khả năng hóa tinh trùng, bằng cách giải phóng tinh
trùng khỏi những ràng buộc với dịch tiết của tinh hoàn và tiền liệt tuyến - những
chất có vai trò ức chế khả năng thụ tinh của tinh trùng
3.2. Từ tử cung đấn đoạn bóng của vòi Pallop :
hủy, như vậy chỉ còn một số tương đối nhỏ chừng vài nghìn con, hoặc vài trăm
con rãi rác trong chiều dài của phần bóng vòi trứng. Cho nên thưòng chỉ thấy có 3
- 7tinh trùng ở gần noãn khi noãn di chuyển tới đó. Nếu có quá nhiều tinh trùng sẽ
có khó khăn cho một sự thụ tinh bình trường. Tinh trùng dù đưọc khả năng hóa
cũng không sống được lâu. Trung bình thời gian tinh trùng sống được trong đường
sinh dục nữ là 2 - 3ngày. Nhưng tinh trùng thường mất khả năng thụ tinh trước khi
mất khả năng di động.
4. SỰ THỤ TINH CHÍNH DANH :
4.1.Xuyên thấu qua những phần phụ của noãn bào :
Bắt đầu ngay khi tinh trùng tiếp xúc với vành tia. Các tinh đã được khả năng hóa
khởi đầu các phản ứng men ở acrosome và xâm nhập sâu đến tận màng trong. Sự
xâm nhập này xảy ra đưọc nhờ vào các men của acrosome cũng như hoạt động của
roi đuôi.
Sau đó một tinh trùng duy nhất sẽ được gắn chặt vào màng trong qua trung gian
một thụ thể chuyên biệt của loài.
Nhờ vào một men đặc biệt của acrosome, tinh trùng xuyên thủng màng trong, đi
vào bên trong, gặp gỡ với màng bào tương của noãn bào.
4.2. Sự hợp nhất hai giao tử :
Vai trò của roi đuôi tinh trùng chấm dứt sau khi tinh trùng đã được vào bên trong
màng bào tương của noãn
Tinh trùng tiếp tục di chuyển sâu vào bên trong của màng bào tương theo kiểu tiếp
xúc. Trong khi đó tại vùng ngoài cùng của noãn, các tế bào bao bọc chế tiết các
chất ngăn cản sự xâm nhập của những tinh trùng khác vào trong noãn. Ở loài
người không thể có hiện tượng thụ tinh đa tinh trùng
Sự xâm nhập của tinh trùng vào noãn gây ra một loạt phản ứng dịch chuyển ion
Ca++, kích thích noãn hoàn thành quá trình phân bào giảm nhiễm, tống xuất cực
cầu thứ hai, thành tiền nhân cái đơn bội thể. Tiền nhân đực cũng được thành lập.
Hai tiền nhân tiếp tục phát triển riêng rẽ nhau. AND tập trung lại và dầy lên
Khoảng 10 giờ sau khi xâm nhập của tinh trùng, tiền nhân đực di chuyển về phía
tiền nhân cái. Chúng hợp nhất với nhau khoảng 10 giờ sau đó. Bộ nhiễm sắc thể
khoảng 50 tế bào. Suốt thời gian này, sự nuôi dưỡng của phô được thực hiện bằng
cơ chế thẩm thấu qua màng trong
Trứng bắt đầu làm tổ vào ngày thứ 6 - 8 sau khi thụ tinh, khi niêm mạc tử cung ở
vào thời kỳ chế tiết thích hợp và bản thân phôi đã cạn phần nào các chất dự trữ,
nên cần phải làm tổ mới tiếp tục phát triển được.
Nơi làm tổ thường là ở vùng đáy tử cung, mặt sau nhiều hơn mặt trước và là nơi
bằng phẳng nhất. Các bước làm tổ gồm : dính, bám rễ, qua lớp liên bào mô, nằm
sâu trong lớp đệm. Nếu tính từ ngày thụ tinh, quá trình diễn biến như sau :
Ngày thứ 6 - 8 : phôi nang dính vào niêm mạc tử cung, ở cực có cúc phôi. Các
chân giả phát xuất từ các tế bào nuôi bám vào lớp liên bào, gọi là hiện tượng bám
rễ. Một số liên bào bị tiêu hủy và phôi nang chui sâu qua lớp liên bào.
Ngày thứ 9 - 10 : phôi htai đã qua lớp liên bào trụ, nhưng chưa nằm sâu trong lớp
đệm, bề mặt chưa được lớp liên bào phủ kín. Xung quanh phôi nang , các tế bào
nuôi bắt đầu phát triển mạnh. Nó lan tràn bằng những chân giả mọc trong lớp đệm,
đi về phía các mạch máu. Tế bào nuôi gồm 2 loại :
- Lớp đơn bào ở phía trong ( là lớp tế bào langhans) ( cytotrophoblast )
- Lớp hội bào nuôi ở ngoài ( Syncytiotrophoblast). Lớp hội bào nuôi phát triển
bằng trực phân, lan tràn mạnh, tấn công, tiêu hủy và thực bào lớp đệm của niêm
mạc tử cung
Ngày 11- 12 : phôi nằm hoàn toàn trong lớp đệm, nhưng chỗ nó chui qua bviểu
mô cũng chưa được che kín. Trong lớp hội bào xuất hiện những hốc và máu từ các
mao mạch bị chọc thủng tràn vào đó và sẽ thành các hồ huyết
Cúc phôi chia làm 2 lớp : lá thai ngoài và lá thai trong, giữa lá thai ngoài và lớp tế
bào nuôi sẽ hình thành buồng ối
Ngày thứ 13 -14 : phôi nằm sâu trong niêm mạc và đã được biểu mô phủ kín. Các
hồ huyết được thành lập ngày càng nhiều, cách nhau bởi các phần hội bào và đó là
những lông nhau nguyên thủy. Sự tuần hoàn tử cung nhau đã được thành lập, bảo
đảm cho sự phát triển của phôi từ nay về sau được thuận lợi. Phôi nang làm tổ
xong vào ngày thứ 28 tính từ ngày đầu của vòng kinh. Kề từ ngày đó phôi chỉ còn
việc lớn lên, và phát triển lệ thuộc vào cơ thể mẹ : hoàng thể chu kỳ trở thành