GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ ĐẢNG PGS. TS. TRÌNH MƯU - 1 doc - Pdf 19

Bộ giáo dục và đào tạo
________________________________
Giáo trình
Lịch sử
Đảng cộng sản
Việt Nam
(Dùng trong các trường đại học, cao đẳng)
(Tái bản lần thứ hai có sửa chữa và bổ sung)
1
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Bài mở đầu
Nhập môn lịch sử Đảng cộng sản việt Nam

1. Đối tượng nghiên cứu
Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội tiên
phong cách mạng, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ và hy sinh,
giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa chiến lược và mang tính thời đại, làm cho đất nước, xã
hội và con người Việt Nam ngày càng đổi mới sâu sắc. Lịch sử của Đảng là một pho
l
ịch sử bằng vàng. Hồ Chí Minh nói: "Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách
mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!"
1
.
Để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và phát huy truyền thống vẻ vang
của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và
tổng kết những bài học lịch sử trong từng thời kỳ cũng như trong toàn bộ tiến trình lãnh
đạo cách mạng của Đảng.
Nghiên cứu và tổng kết các bài học lịch sử của Đảng là một phương pháp tốt để

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Đảng là người đề ra đường lối
cách m
ạng và tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối. Do đó, khoa học lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam là một hệ thống tri thức về quá trình hoạt động đa dạng và
phong phú của Đảng trong mối quan hệ mật thiết với tiến trình lịch sử của dân tộc và
thời đại. Với tư cách là một khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đố
i tượng
nghiên cứu là tổ chức và hoạt động của Đảng và các phong trào cách mạng của quần
chúng diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng.
2. Mục đích, yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ
- Mục đích, yêu cầu:
Liên quan đến đối tượng nghiên cứu, mục đích của khoa học lịch sử Đảng là làm
sáng tỏ toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của tổ chức đảng và những hoạt động
toàn diện của Đảng; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo
đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; làm rõ những vấn đề có tính quy luậ
t của
cách mạng Việt Nam; góp phần tổng kết những kinh nghiệm lịch sử phục vụ sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời giáo dục niềm tin vào sự lãnh
đạo của Đảng và con đường cách mạng Hồ Chí Minh.
Yêu cầu của việc nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử Đảng là trình bày
khách quan, toàn diện và có hệ thống các sự kiện c
ơ bản về lịch sử Đảng qua từng giai
đoạn và thời kỳ cách mạng trong sự vận động, phát triển và những mối liên hệ nội tại
của nó. Trên cơ sở đó so sánh với yêu cầu thực tiễn để phân tích, đánh giá các hoạt động
của Đảng; khẳng định những thắng lợi, thành tựu và những sai lầm, khuyết điểm trong
quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Vi
ệt Nam; khái quát được các sự kiện và biến cố
lịch sử, vạch ra bản chất, khuynh hướng chung và những quy luật khách quan chi phối
sự vận động của lịch sử.
Yêu cầu quan trọng trong việc nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy lịch

Với tư cách là khoa học về những quy luật phát tri
ển và hoạt động lãnh đạo của
Đảng, lịch sử Đảng có hai chức năng: chức năng nhận thức khoa học và chức năng giáo
dục tư tưởng chính trị.
Chức năng nhận thức khoa học lịch sử có mục đích trước hết là để phục vụ việc
cải tạo xã hội theo đúng quy luật phát triển của xã hội Việt Nam như một quá trình lịch
sử - tự nhiên. Việc hiểu biết thấu đáo những kiến thức và kinh nghiệm lịch sử Đảng là
cơ sở khoa học để có thể dự kiến những xu hướng phát triển chủ yếu của xã hội và
những điều kiện lịch sử cụ thể có tác động đến những xu hướng đó. Bằng cách đó, khoa
học lịch sử Đảng cùng với các môn khoa họ
c lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh góp phần tích cực tạo cơ sở lý luận để Đảng vạch ra đường lối, chủ trương, chính
sách.
Mặt khác, lịch sử Đảng có chức năng giáo dục tư tưởng chính trị, tham gia vào
việc giải quyết những nhiệm vụ hiện tại. Những kiến thức khoa học về các quy luật
khách quan của sự phát triển lịch sử cách mạng Việ
t Nam có tác dụng quan trọng đối
với cán bộ, đảng viên, nhân dân trong việc trau dồi thế giới quan, phương pháp luận
khoa học, xây dựng niềm tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Đảng, từ đó có quyết tâm phấn đấu thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của
Đảng.
Để thực hiện chức năng đó, trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và học tậ
p Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam chúng ta có nhiệm vụ làm rõ những quy luật của cách
mạng Việt Nam, nghiên cứu, trình bày các điều kiện lịch sử, các sự kiện và quá trình
hình thành, phát triển và hoạt động của Đảng, nổi bật là những nhiệm vụ sau đây:
+ Làm sáng tỏ điều kiện lịch sử, quá trình ra đời tất yếu của Đảng Cộng sản Việt
Nam - bộ tham m
ưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Trong thời gian đầu không phải là toàn bộ giai cấp công nhân đã tiếp thu được chủ

cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đương nhiên giữa hai
ngành khoa học đó có mối quan hệ mật thiết với nhau.
+ Trình bày quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ,
các giai đoạn cách mạng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể.
Đó là quá trình đi sâu nắm vững phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác -
Lênin, vận dụ
ng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
phù hợp với bối cảnh quốc tế và thực tiễn của xã hội Việt Nam, để định ra cương lĩnh,
vạch ra đường lối, xác định những chủ trương và biện pháp cụ thể cho mỗi giai đoạn
cách mạng.
Đó là quá trình đấu tranh về quan điểm tư tưởng trong nội bộ Đảng để xác định
m
ột đường lối đúng đắn, đấu tranh bảo vệ đường lối cách mạng của Đảng, chống mọi
biểu hiện của tư tưởng hữu khuynh và "tả" khuynh, chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng
duy ý chí, chủ quan, giáo điều và các loại tư tưởng phi vô sản khác.
Đó cũng là quá trình chỉ đạo và tổ chức quần chúng hành động thực tiễn, giành
thắng lợi từng b
ước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, thực hiện triệt để các mục tiêu cơ
bản của cách mạng Việt Nam do Đảng vạch ra.
+ Trình bày các phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng tổ chức và lãnh
đạo.
Nhằm theo những phương hướng cơ bản do Đảng xác định, phong trào cách mạng
của quần chúng diễn ra một cách tự giác, hết sức sinh động, phong phú và sáng tạo. Sức
sáng tạo của các tổ chức đảng và qu
ần chúng rất lớn. Nó làm cho quyết tâm của Đảng
trở thành hành động cách mạng, làm cho đường lối, chủ trương cách mạng của Đảng trở
5
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
thành thực tiễn, và do đó, tạo cơ sở cho việc bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh đường lối
cách mạng của Đảng. Một đường lối cách mạng đúng sẽ được quần chúng nhân dân ủng

phản ánh khách quan của sự phát triển lịch sử - tự
nhiên trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Với phương pháp luận khoa học, các nhà sử học chân chính có thể nhận thức được
lịch sử một cách chính xác, khoa học. Họ có thể nhận thức và phản ánh đúng hiện thực
khách quan khi nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng, một quá trình lịch sử nào.
Nghiên cứu lị
ch sử Đảng đòi hỏi phải quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể mới có
thể xem xét các sự kiện lịch sử trong những điều kiện và thời điểm cụ thể và trong mối
quan hệ giữa chúng với nhau. Việc nắm vững và vận dụng quan điểm lịch sử trong khoa
học lịch sử Đảng cho phép lý giải được tính sáng tạo cách mạng trong đườ
ng lối, chủ
trương của Đảng, cũng như làm rõ được cơ sở phương pháp luận của hoạt động lý luận
của Đảng trong quá trình nghiên cứu để quyết định những đường lối, chủ trương.
6
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Khoa học lịch sử Đảng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa
học lịch sử nói chung, như các phương pháp lịch sử và lôgích, đồng đại và lịch đại,
phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hóa và trừu tượng hóa trong đó
quan trọng nhất là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgích cùng sự kết hợp hai
phương pháp ấy.
Nhiệm vụ đầu tiên củ
a khoa học lịch sử Đảng là phải làm sáng tỏ nội dung các
giai đoạn lịch sử đấu tranh của Đảng, với những sự kiện cụ thể sinh động và trong mối
liên hệ có tính nhân quả giữa chúng với nhau, cho nên phương pháp được đặt lên hàng
đầu trong khoa học lịch sử Đảng là phương pháp lịch sử.
Song nếu phương pháp lịch sử không có sự kết hợp với phương pháp lôgích thì sẽ
giảm
đi tính chất khái quát của nó, không thể vạch ra được bản chất, khuynh hướng
chung và những quy luật khách quan chi phối sự vận động lịch sử.
Hoạt động của Đảng trong quá khứ cơ bản là hoạt động lãnh đạo, lên lịch sử của

ọc ý thức biết noi gương những
người đã đi trước, tiếp tục cuộc chiến đấu dũng cảm ngoan cường, thông minh, sáng tạo
7
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
để bảo vệ và phát triển những thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã tốn biết
bao xương máu để giành được, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
8
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Chương I
Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
I. Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX
1. Tình hình thế giới
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai
đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).
Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường. Đó
chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia
phong kiến phương Đông, biến các quố
c gia này thành thị trường tiêu thụ sản
phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư
bản của các nước đế quốc. Đến năm 1914, các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức,
Mỹ, Nhật chiếm một khu vực thuộc địa rộng 65 triệu km
2
với số dân 523,4 triệu
người (so với diện tích các nước đó là 16,5 triệu km
2
và dân số 437,2 triệu). Riêng
diện tích các thuộc địa của Pháp là 10,6 triệu km
2

1. Xem V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.27, tr. 478.
9
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dân tộc tự quyết, kể
cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độc lập và quyền liên hợp, dẫn đến sự ra
đời của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết (1922). Cách mạng Tháng Mười
đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức đã "mở ra trước mắt họ thời
đạ
i cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc"
1
. Nó làm cho phong trào
cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng
dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc
đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng
sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhấ
t những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa của V.I. Lênin được công bố. Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu
tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga
và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới đã được thành lậ
p.
Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam.
2. Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam
Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từ năm 1858
thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau khi đánh chiếm được
nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai
thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu
thụ hàng hóa.
Từ n
ăm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ

vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục. Mọi hoạt
động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng tìm mọi cách bưng bít và
ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành
chính sách ngu dân để dễ bề thống trị.
Các cuộc khai thác thuộc địa củ
a thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình
hình xã hội Việt Nam. Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn.
Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hơn ngàn năm. Chủ nghĩa tư bản thực dân
được đưa vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xóa bỏ mà vẫn
bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, do
chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị
phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ. Có một số địa chủ bị
phá sản. Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước
chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế, nên
một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa ch
ủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu
thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và
bọn phản động tay sai.
Giai cấp nông dân chiếm khoảng 90% dân số. Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ
và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề. Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thực dân
chiếm đoạt. Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho
vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa
không lối thoát. Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn
điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp. Còn số đông vẫn
phải gắn vào đồng ruộng và gánh chị
u sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất
mà trước đây là sở hữu của chính họ.
Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và
phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động. Họ vừa có yêu
cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân t

thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do. Giữa
những bộ ph
ận đó có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung, địa
vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp. Họ có tinh thần
yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất
hăng hái cách mạng. Đặc biệt là tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc,
dễ
tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá
trị tinh thần truyền thống của dân tộc. Khi phong trào quần chúng công nông đã thức
tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu giải phóng dân tộc ngày một đông đảo và đóng một vai
trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là ở đô thị. Giai cấp tiểu
tư sản là một l
ực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của
dân tộc.
Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của
Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ. Lớp công
nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở
công nghiệp và thành phố phục vụ cho việc xâm lược và bình định củ
a chúng ở nước ta.
Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã
hình thành. Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển
nhanh chóng về số lượng, từ 10 vạn (năm 1914) tăng lên hơn 22 vạn (năm 1929), trong
đó có hơn 53.000 công nhân mỏ (60% là công nhân mỏ than), và 81.200 công nhân đồn
điền.
Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, số lượng chỉ chiếm khoảng 1% số
dân, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống khá tập trung tại các thành phố, các
trung tâm công nghiệp và các đồn điền.
Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân
12
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

. Và nếu dân bản xứ
không chịu nhục được, phải vùng lên, thì các nhà khai hoá "điều quân đội, súng liên
thanh, súng cối và tàu chiến đến, người ta ra lệnh giới nghiêm. Người ta bắt bớ và bỏ
tù hàng loạt. Đấy! Công cuộc khai hoá nhân từ là như thế đấy!"
2
.
Nước Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội. Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa.
Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành thuộc địa
thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt
trong quỹ đạ
o chuyển động của xã hội đó.
Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hình thành những
mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân
tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động. Sự thống trị, áp bức và bóc lột
càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong
của dân tộc càng phát triển mạ
nh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình
thức. Trái lại, sự xung đột, đấu tranh về quyền lợi riêng của mỗi giai cấp trong nội bộ
dân tộc được giảm thiểu và không quyết liệt như cuộc đấu tranh dân tộc. Hồ Chí Minh 1, 2. Sđd, 2002, t.2, tr. 56, 115.
13
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
đã vạch rõ vấn đề này từ năm 1924 rằng: "Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống
như ở phương Tây Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó,
không thể chối cãi được"
3
.

làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho nước Việt
Nam. ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những nội dung và
phương pháp mới, tiêu biểu là trườ
ng Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. ở Trung Kỳ, có
cuộc vận động Duy tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong trào
đấu tranh chống thuế (1908).
Do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp, nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, 3
. Sđd, 2002, t.1, tr. 464.
14
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
cũng như các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX không thể
tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của
dân tộc, nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất mặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, về thế
lực kinh tế
và chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam
đã bắt đầu vươn lên vũ đài đấu tranh với thực dân Pháp bằng một số cuộc đấu tranh cụ
thể với những hình thức khác nhau.
- Năm 1919-1923, Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và địa chủ
lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấ
n hưng nội hoá bài trừ ngoại hoá; chống độc
quyền thương cảng Sài Gòn; chống độc quyền khai thác lúa gạo ở Nam Kỳ; đòi thực
dân Pháp phải mở rộng các viện dân biểu cho tư sản Việt Nam tham gia.
Năm 1923 xuất hiện Đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư
sản và địa chủ lớp trên. Họ cũng đưa ra một số khẩu hiệu đ
òi tự do dân chủ để lôi kéo
quần chúng. Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp hoặc nhân nhượng cho một số quyền

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
thống nhất.
Ngày 9-2-1929, một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát tên trùm
mộ phu Badanh (Bazin) tại Hà Nội. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố phong trào
yêu nước. Việt Nam Quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất. Trong tình thế hết sức bị
động, các lãnh tụ của Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một trận chiến đấu
cuối cùng với tư t
ưởng “không thành công cũng thành nhân”.
Ngày 9-2-1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên Bái với
cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa. ở một số địa phương như Thái Bình,
Hải Dương cũng có những hoạt động phối hợp.
Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, vì thế nó nhanh chóng bị thực dân
Pháp dìm trong biển máu. Các lãnh tụ của Việt Nam quốc dân Đảng cùng hàng ngàn
chiến sĩ yêu nước bị bắ
t và bị kết án tử hình. Trước khi bước lên đoạn đầu đài họ hô
vang khẩu hiệu "Việt Nam vạn tuế". Vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong
trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái.
Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt
Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình
thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp
tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu
cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải
phóng dân tộc.
Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ t
ư
sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là
lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới,
một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại và nhu cầu mới của
nhân dân Vi

Hội nghị Vécxay chú ý đến, nhưng được báo chí tiến bộ Pháp công bố rộng rãi và gây
ảnh hưởng chính trị vang dội. Đó là đòn tiến công trực diện đầu tiên của Nguyễn ái
Quốc vào bọn trùm đế quốc. Kết luận quan trọng mà Nguyễn ái Quốc rút ra là: Những
lời tuyên bố dân tộc tự
quyết của bọn đế quốc chỉ là trò bịp bợm; các dân tộc bị áp bức
muốn được độc lập tự do thực sự, trước hết phải dựa vào lực lượng của bản thân mình,
phải tự mình giải phóng cho mình.
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát
triển mạnh mẽ. Quốc tế Cộng sản do Lênin đứng đầu thành lập (1919) và tuyên bố kiên
quyết ủ
ng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Tháng 7-1920,
Nguyễn ái Quốc được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa của Lênin. Bản Luận cương đó đã đáp ứng đúng nguyện vọng tha thiết
mà Nguyễn ái Quốc đang ấp ủ: độc lập cho Tổ quố
c, tự do cho đồng bào. Sau này
Người viết: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin
tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói
to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ!
Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".
Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba"
1
.
Cuộc hành trình dài ngày, qua nhiều đại dương và lục địa là một cuộc khảo sát vô
cùng phong phú, đã đem lại cho Nguyễn ái Quốc một tình cảm cách mạng sâu sắc, một
vốn tri thức lớn, làm cơ sở cho Người đi đến một khám phá, một sự lựa chọn chính xác
con đường giải phóng dân tộc trong thời đại mới.
Tháng 12-1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (Tours) đã nảy ra cuộ
c
tranh luận gay gắt về việc gia nhập Quốc tế thứ ba hay ở lại Quốc tế thứ hai. Nguyễn ái
Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba và tham gia thành lập Đảng Cộng sản

thuộc địa" và kiến nghị thành lập Ban Nghiên c
ứu thuộc địa trực thuộc ủy ban Trung
ương Đảng Cộng sản Pháp. Kiến nghị đó được Đại hội chấp nhận. Năm 1922, Ban
Nghiên cứu thuộc địa được thành lập, Nguyễn ái Quốc được cử làm trưởng tiểu ban
nghiên cứu về vấn đề Đông Dương.
Nguyễn ái Quốc viết nhiều bài đăng trên các báo Người cùng khổ (Le Paria),
Nhân đạo (L' Humanité) của Đảng Cộng s
ản Pháp, Đời sống công nhân (La Vie
ouvrière) của Tổng Liên đoàn Lao động Pháp. Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực
dân Pháp (Le Procès de la colonisation Franỗaise) và được xuất bản lần đầu tiên ở Pari
năm 1925. Bằng những dẫn chứng cụ thể, sinh động, tác phẩm đã tố cáo trước dư luận
Pháp và thế giới những tội ác tày trời của bọn thực dân Pháp đối với các nước thuộc
địa.
"Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc
và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết
con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì
cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản; con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi
bị cắt
đứt lại sẽ mọc ra"
1
.
Chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung của giai cấp công nhân ở "chính quốc" và nhân
dân lao động ở các thuộc địa. Cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản ở các
nước "chính quốc" có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Phải thực hiện sự hợp tác chặt chẽ
với nhau để chống kẻ thù chung, vì chỉ có sự hợp tác này mới bảo đảm cho giai cấp
công nhân quốc tế giành được thắ
ng lợi cuối cùng.
Nhân dân các dân tộc thuộc địa có khả năng cách mạng to lớn. Phải "làm cho các
dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết
lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là

Liên Xô và tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản. Năm 1924, Người tham gia
Đạ
i hội V của Quốc tế Cộng sản và các đại hội của Quốc tế Công hội đỏ, Quốc tế Phụ
nữ, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Cứu tế đỏ. Trong hai bản tham luận quan trọng đọc tại
Hội nghị Quốc tế nông dân và Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn ái Quốc
đã đề cập hai vấn đề l
ớn sau:
1. Tăng cường mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với
phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa.
2. Vấn đề nông dân ở các nước thuộc địa.
Người thẳng thắn phê bình một số đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa đã
coi nhẹ vấn đề thuộc địa, chưa biết kết hợp phong trào cách mạng ở chính qu
ốc và cách
mạng ở các nước thuộc địa để thành lập một mặt trận đấu tranh chung. Đối với vấn đề
nông dân, Người chỉ rõ rằng: Nông dân bị áp bức bóc lột nặng nề, nạn đói luôn luôn xảy
ra, sự phẫn uất ngày càng lên cao. "Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi.
Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lầ
n nào cũng bị dìm trong
máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì
họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ
chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách
mạng và giải phóng"
1
. 2. Sđd, 2002, t.2, tr. 124.
1. Sđd, 2002, t.1, tr. 289.
19
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc; lực lượng cách
mạng bao gồm "sỹ, nông, công, thương", trong đó công nông là "chủ cách mệnh", là
"gốc cách mệnh", còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị
đế quốc áp bức, song
không cực khổ bằng công nông nên ba hạng ấy chỉ là "bầu bạn cách mệnh của công
nông".
Đường kách mệnh đã chỉ ra rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì vậy
phải động viên, tổ chức và lãnh đạo đông đảo quần chúng vùng lên "đánh đuổi tụi áp
bức mình đi". Người phê phán hành động ám sát cá nhân và những khuynh hướng cơ
hội chủ nghĩa khác chỉ "xúi dân bạ
o động mà không biết cách tổ chức, làm cho dân
quen thói ỷ lại mà quên tính tự cường". Quần chúng một khi được giác ngộ, có tổ chức
và lãnh đạo sẽ là lực lượng cách mạng vô địch.
Đường kách mệnh cũng còn chỉ rõ rằng cách mạng Việt Nam là một bộ phận của
cách mạng thế giới, cần được sự giúp đỡ quốc tế, nhưng "muốn người ta giúp cho, thì
trước hết mình phải tự giúp lấ
y mình đã". Cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng 2
. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị quốc gia, Nxb. Thanh niên,
Hà Nội, 1994, tr. 61.
20
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hưởng thúc
đẩy nhau trong quan hệ bình đẳng. "An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản
Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ".
Đường kách mệnh khẳng định: muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, "Trước hết
phải có đảng cách mệnh Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như ngườ
i

người theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng của học thuyết
Mác-Lênin còn phải đấu tranh với các đề xướng và vận động thành lập các chính đả
ng
quốc gia, thành lập "khối dân tộc". Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũng kiên
quyết đấu tranh chống lại quan điểm lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Phạm Quỳnh,
thuyết "trực trị" của Nguyễn Văn Vĩnh. Cuộc đấu tranh chống lại đường lối của Việt
Nam Quốc dân Đảng, một đường lối dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi tiểu tư sản không kém
phần gay gắ
t. 1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.2, tr. 257.
21
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Lập trường giải phóng dân tộc đúng đắn của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên đã thắng lập trường giải phóng dân tộc tư sản. Nó đã giáo dục, giác ngộ nhiều
người yêu nước chân chính theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, đào tạo và rèn
luyện họ thành những chiến sĩ cách mạng trung thành làm nòng cốt cho việc thành lập
đảng cộng sản.
Sự truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng cách mạng H
ồ Chí Minh vào
phong trào công nhân và phong trào yêu nước gắn liền với việc xây dựng các tổ chức cơ
sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị quan
trọng. Số hội viên của Hội tăng nhanh. Năm 1928, có 300 hội viên, năm 1929, có 1.700
hội viên. Tổ chức công hội cũng đã được xây dựng trong nhiều nhà máy, hầm mỏ. Một
số đảng viên tiên tiến trong Tân Việt cũng ngả theo Hội Việt Nam Cách m
ạng Thanh
niên. Nhiều người đã trở thành hội viên của Hội.
Việc truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức, vận động nhân dân đấu tranh
đã dấy lên một phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là

cùng chúng phải nhượng bộ, chịu tăng 10% lương cho công nhân. Mặc dù vậy, sau khi
22
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
trở lại làm việc công nhân Ba Son còn tìm cách lãn công, kéo dài thời hạn sửa chữa, làm
cho chiến hạm Misơlê phải nằm chờ 4 tháng trời mới nhổ neo đi lên hướng Bắc được.
Ngoài ra, trong phong trào dân chủ những năm 1925-1926, công nhân đã tham gia các
cuộc mít tinh, biểu tình, đòi thực dân Pháp thả Phan Bội Châu, để tang Phan Châu
Trinh, v.v
Nhìn chung, phong trào công nhân những năm 1919-1925 đã có bước phát triển mới
so với trước chiến tranh. Hình thức bãi công đã trở nên phổ biến, diễn ra trên quy mô
lớ
n hơn và thời gian dài hơn.
Từ năm 1926 đến năm 1929, phong trào công nhân ngày càng phát triển với sự ra
đời và hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong những năm
1926-1927, mỗi năm có hàng chục cuộc bãi công. Trong hai năm 1928-1929 nổ ra hơn
40 cuộc đấu tranh, tiêu biểu là các cuộc bãi công ở Nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà
máy sợi Nam Định, Nhà máy diêm và Nhà máy cưa Bến Thủy, Xưởng sửa chữa ô tô
Avia Hà Nội, Nhà máy sợi Hải Phòng, Mỏ than Hòn Gai, Nhà máy xe lửa Trường Thi
(Vinh), Xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son (Sài Gòn), Đồn điền cao su Phú Riềng, v.v
Các cuộc đấu tranh đó đã kết hợp những khẩu hiệu kinh tế với những khẩu hiệu chính
trị, vượt ra ngoài phạm vi một nhà máy, đồn điền, bước đầu có sự liên kết nhiều ngành,
nhiều địa phương. Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của công nhân đã nâng lên
rõ rệt tuy chưa
được đều khắp. Phong trào phát triển mạnh mẽ, có sức quy tụ và dẫn đầu
phong trào yêu nước nói chung.
3. Các tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời
Đến năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam đã phát
triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất của một đảng cách mạng. Yêu
cầu khách quan đó tác động vào các tổ chức tiền cộng sản, dẫn đến cuộc đấu tranh nội
bộ và sự phân hoá tích cực trong các tổ chức này, hình thành nên các tổ chức cộng sản ở

gửi Đông Dương Cộng sản Đảng một bức thư thông báo rằng họ quyết định lập một
đảng cộng sản bí mật, còn ""Thanh niên" giữ nguyên để cải tổ d
ần "
1
. Một số hội
viên giác ngộ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên hoạt động ở Trung Quốc
được tổ chức thành một chi bộ với danh nghĩa chi bộ của An Nam Cộng sản Đảng. Một
số chi bộ cộng sản lần lượt thành lập ở Nam Kỳ. Theo Hồng Thế Công
2
, An Nam Cộng
sản Đảng ra đời vào tháng 8 năm 1929 và khoảng tháng 11-1929, An Nam Cộng sản
Đảng họp Đại hội tại Sài Gòn để thông qua đường lối chính trị, Điều lệ Đảng và lập Ban
Chấp hành Trung ương Đảng.
Tuy hai tổ chức cộng sản trên hoạt động riêng rẽ, thậm chí còn công kích lẫn
nhau, song từ sự ra đời Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đến sự xuất hiện các tổ
chức cộng sả
n là một xu thế phát triển khách quan của phong trào cách mạng Việt Nam
lúc bấy giờ.
Cùng với sự phân hoá trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt cách
mạng Đảng cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ.
Tân Việt cách mạng Đảng ra đời là kết quả của sự phân hoá nội bộ các nhóm tiểu
tư sản yêu nước trong cuộc đấu tranh giữa hai đường lối cách mạng vô sản và tư sản
trong phong trào dân tộc Việt Nam. Ti
ền thân của Tân Việt cách mạng Đảng là Hội
Phục Việt (1925), đổi thành Hội Hưng Nam (1926). Để giao thiệp với Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên, tháng 7-1926 Hội Hưng Nam đổi thành Việt Nam cách mạng
Đảng, rồi Việt Nam cách mạng đồng chí Hội (7-1927). Trong khoảng thời gian 1926-
1928, nhiều lần Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Việt Nam cách mạng Đảng
bàn việc hợp nhất nhưng không đi đến kết quả. Vì thế, ngày 14-7-1928 Việt Nam cách
m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status