1
Lời cảm ơn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự giúp đỡ nhiều mặt của thầy
cô, các anh chị, bạn bè…Em xin chân thành cảm ơn:
Th.s Nguyễn Đức hiển đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện
và hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này. Với kiến thức và kinh nghiệm thực
tiễn sâu rộng mà thầy đã truyền cho em đã khiến cho bài chuyên đề thực tập này thực
sự là một tài sản quý báu cho nghiên cứu sau này.
Các anh chị trong công ty đã hướng dẫn em thực tập và đã rút ra được nhiều kinh
nghiệm quý báu.
Các bạn bè lớp thị trường chứng khoán k49 đã cùng mình học tập, chia sẻ kinh
nghiệm, trau dồi kiến thức trong suốt quá trình hoàn thành chuyên đề.
2
3
Mục lục
4
1. Sự cần thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển được hơn 10 năm. Khuyến khích
phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng là chủ
trương mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, nó cũng phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế
tất yếu của Việt Nam khi đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO). Cùng với việc mở cửa nền kinh tế, phát triển thị trường tài chính và thị
trường chứng khoán là việc chúng ta cần tiếp thu kho tàng kiến thức vô tận của thế giới.
Những lý thuyết tài chính cơ bản đã tồn tài và được công nhận từ rất lâu, những ứng dụng
và giá trị mà nó đem lại là không thể phủ nhận. Tuy nhiên sau cuộc khủng hoảng kinh tế
vừa qua, người ta buộc phải xem xét lại tính hợp lý, hiệu lực của các lý thuyết tài chính
cơ bản và đồng thời quan tâm nhiều hơn đến một trường phái khác, tài chính hành vi.
Cũng từ đây, em đã chọn đề tài: “lý thuyết triển vọng và một số ứng dụng đối với nhà đầu
tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của
mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
1.1.2. Lý thuyết thị trường hiệu quả
Việc tiếp cận lý thuyết thị trường hiệu quả phải xuất phát từ khái niệm thị trường
hoàn hảo trong kinh tế học. Một thị trường được coi là hoàn hảo khi thị trường đó hiệu
quả trên ba mặt cơ bản: hiệu quả về mặt phân phối, hiệu quả về mặt hoạt động hay chi
phí, hiệu quả về mặt thông tin. Hay nói cách khác, thị trường hoàn hảo là thị trường có
khả năng phân phối nguồn lực đến người sử dụng tốt nhất với giá cả phản ánh đầy đủ
thông tin có liên quan và chi phí giao dịch được tối thiểu hóa.
Tuy ba mặt cấu thành của một thị trường hoàn hảo có sự gắn bó và phụ thuộc lẫn
nhau, nhưng trong lý thuyết thị trường hiệu quả, chúng ta giả định là thị trường chứng
khoán hiệu quả về mặt thông tin vì điều kiện hiệu quả về mặt thông tin là hết sức quan
trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của thị trường.
Dựa trên cách tiếp cận này, lý thuyết thị trường hiệu quả đưa ra một số các giả
định:
Thứ nhất: Thị trường hiệu quả nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh
tham gia vào thị trường với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định
giá các loại chứng khoán một cách hoàn toàn độc lập với nhau.
Thứ hai: Những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một
cách ngẫu nhiên và tự động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc
lập lẫn nhau.
7
Thứ ba: Các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh
nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Mặc dù sự điều chỉnh của giá có thể
là không hoàn hảo, tuy nhiên nó không hề ưu tiên cho một mặt nào. Có khi sự điều chỉnh
là quá mức, cũng có khi là dưới mức cần thiết, nhưng ta không thể dự đoán được điều gì
sẽ xảy ra ở mỗi thời điểm xác định. Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh
chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với
nhau.
Thứ tư: Vì giá chứng khoán điều chỉnh theo tất cả những thông tin mới nên giá
của những chứng khoán này sẽ phản ánh tất cả các thông tin có sẵn và được công bố rộng
rãi ở mọi thời điểm. Vì thế mà nó sẽ phản ánh không thiên lệch tất cả những thông tin có
Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài
chính.
Đây là ba điều kiện cơ bản để các mô hình trong tài chính hành vi có hiệu lực và
cũng là xuất phát điểm để phát triển các lý thuyết trong đó có lý thuyết lý “thuyết triển
vọng”.
1.1.3.1. Hành vi không hợp lý
Các nhà đầu tư sẽ có những hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và sử lý
“đúng” với những thông tin mà họ có, từ đó sẽ dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương
lai của những công cụ tài chính mà họ đầu tư vào (đây là nguyên nhân góp phần làm cho
các công cụ tài chính bị định giá sai). Tài chính hành vi ứng dụng tâm lý học vào tài
chính để giải thích những “hành vi không hợp lý” này. Phần sau sẽ giới thiệu một số hiện
tượng (hiệu ứng tâm lý) mà đưa ra cho chúng ta những hành vi không hợp lý:
Lý thuyết triển vọng:
Lý thuyết triển vọng là một lý thuyết được sử dụng để thay thế công thức toán học
của lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng. Lý thuyết triển vọng trình bày nghiên cứu về
những quyết định của con người dưới tác động của rủi ro. Lý thuyết triển vọng đưa ra hai
hiện tượng (hành vi không hợp lý) đó là: sự yêu thích những kết quả chắc chắn và sự yêu
thích rủi ro khi đối diện với mất mát.
Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics)
Các kinh nghiệm, hay qui tắc học được thường giúp chúng ta ra quyết định nhanh
chóng và dễ dàng hơn nhiều (chính các trường dạy về kinh tế về mặt nào đó cũng chỉ ra
một số các quy tắc quyết định cho một số trường hợp). Nhưng trong một số trường hợp,
dựa dẫm quá nhiều vào các quy tắc đôi khi cũng dẫn đến sai lầm, đặc biệt khi mà các
điều kiện bên ngoài thay đổi. Và đặc biệt là người ta thường đề cac hiệu quả của các quy
tắc đơn giản, gần gũi dễ nhớ.
9
Shiller (2000) đã đưa ra một ví dụ là khi nhiều người đều dùng Internet thì họ dễ
dàng nghĩ đến những điển hình thành công và những đổi mới hấp dẫn đang sảy ra trên
mạng, thế là họ nghĩ rằng ngành kinh doanh này sẽ thành công, rốt cuộc đã sảy ra nhiều
vụ bùng nổ giá cổ phiếu các công ty công nghệ cao, dot.com vào cuối những năm 90.
nhiều nhà đầu tư ít đa dạng hóa danh mục của mình và đầu tư nhiều vò những công ty mà
mình quen thuộc (một số nghiên cứu tranh cãi rằng có thể vì họ có thông tin nội bộ về
những công ty đó, nhưng những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực quản trị công ty đã
bác bỏ luận cứ này). Như vậy, một cách giải thích khả dĩ là các nhà đầu tư ít đa dạng hóa
này tư tin quá mức vào tầm hiểu biết của mình đối với công ty. Barber và Odean (2001)
còn công bố một kết quả thú vị là những nhà kinh doanh chứng khoán nam thì quá tự tin
nhiều hơn nữ, và nam càng thực hiện nhiều giao dịch thì kết quả càng tệ hơn nữ.
Định nghĩa hẹp (narrow framing)
cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn đề trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách
biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp ấy, thay vì toàn cục.
phương pháp này có thể hữu ích trong một số trường hợp giới hạn về nguồn lực, hay
không đủ thời gian để phân tích nhiều. tuy nhiên, nó cũng có thể đưa đến sai lầm.
Tính toán bất hợp lý (mental accounting)
Đây là một dạng của định nghĩa hẹp. chúng ta có xu hướng tách riêng các quyết
định mà đúng ra phải kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của
chúng ta (mental account) và tối đa hóa lợi ích từng tài khoản. và vì thế, đôi khi chúng ta
đưa ra các quyết định nhìn có vẻ hợp lý, mà thật ra là sai lầm.
Bảng sau đề cập đến một số trường phái tâm lý và một số hiệu ứng tâm lý chính:
Bảng 1: các trường phái tâm lý và ứng dụng trong tài chính hành vi
Trường phái tâm lý
Các hiệu ứng chính
ứng dụng trong tài chinh
Tâm lý hành vi
Do John B. Watson
sáng lập năm1913,
nghiên cứu các điều
kiện khiến con người
hành động theo một
cách nào đó.
Tin vào điều thật ra
dissonance)
Định nghĩa hẹp,
tính toán bất hợp lý
Bù đắp chi phí đã
bỏ ra
Quá tự tin
Lệch lạc trong nhận
thức về qua khứ (hindsight
bias), khẳng định quá mức
(confirmatory bias)
ra, lý thuyết tiếc nuối giúp giải
thích vì sao chúng ta cứ nắm
giữ mãi những khoản lỗ và cứ
lỗ mãi.
Hiệu ứng tự tôn giải thích
chúng ta có xu hướng tự đánh
giá cao cổ phiếu mà mình
chọn đầu tư.
Hiệu ứng lệch lạc trong nhận
thức về qua khứ hay khẳng
định qua mức cũng giống như
hiệu ứng quá tự tin, làm chúng
ta nhận xét rằng chúng ta có
khả năng đánh giá tốt về thị
trường.
Lý thuyết cấu trúc hình
thức (Gestalt theory)
Do Max Wertheirmer
sáng lập năm 1912,
nghiên cứu cách chúng
Do Sihmund Freud
sáng lập đầu thế kỷ 20,
Hội chứng hoang
tưởng
Quá chú ý đến bản
than
Chúng ta qua lo lắng về việc
có thể bị lừa hay có thể sai
lầm, hay có thể thất bại, tất cả
đều có thể ảnh hưởng đến các
12
nghiên cứu các loại
bệnh tâm thần
Hội chứng không
chấp nhận thất bại
Hội chứng phiền
muộn bi quan
quyết định trong đầu tư
1.1.3.2. Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống
Nếu chỉ có một nhà đầu tư riêng lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng của
giao dịch của nhà đầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho dù là
một tổ chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng hạn chế). Chỉ khi nào hành vi không hợp lý là
mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm các nhà đầu tư có cùng hành vi không hợp lý như
nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và kéo dài. Lý thuyết tài chính hành vi cho
rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và
do đó, nó tạo thành một dạng như chúng ta thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho
giá của các công cụ tài chính không phản ánh giá trị thực, “giá trị hợp lý”.
1.1.3.3. Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội
kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ
là
những kết quả tương ứng đạt được khi sự kiện E
i
sảy ra.
Một cách khác, một triển vọng được ký hiệu là (x
1
,p
1
;…;x
n
,p
n
) , trong đó p
i
là
xác suất sảy ra của các x
i
và p
1
+ p
2
+ … + p
n
= 1.
Triển vọng (x, 1) ký hiệu là (x).
triển vọng (x, p; 0, 1-p) ký hiệu là (x, p).
Việc lựa chọn giữa các triển vọng nào phụ thuộc vào lợi ích mà nó mang lại như
thế nào. Để định lượng phần lợi ích mang lại này, ta sử dụng hàm U. u(x
i
) là lợi ích mang
1
,p
1
;…;x
n
,p
n
) là tổng lợi ích của một kỳ vọng.
U(x
1
+w,p
1
;…;x
n
+w,p
n
) > u(w).
U là hàm lõm (u” < 0). Thể hiển sự ngại rủi ro của con người, khi được lựa
chọn giữa một triển vọng chắc chắn và một triển vọng có rủi ro mà có cùng lợi ích kỳ
vọng thì con người có xu hướng lựa chọn triển vọng thứ nhất.
Hình 1: đồ thị hàm lợi ích u(x
i
)
Như vậy, lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng đã đưa ra một hàm U (định lượng
phần lợi ích mang lại), việc lựa chọn giữa các triển vọng được thực hiện bằng cách so
sánh các giá trị của U và lựa chọn U lớn nhất.
u
i
x
i
U).
U(triển vọng A) = 50*0.4 + 100*0.3 + 150*0.3 = 95
U(triển vọng B) = -100*0.4 + 100*0.3 + 300*0.3 = 80
vậy ta lựa chọn triển vọng A(cổ phiếu A).
Lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng giải thích những quyết định của con người
dưới tác động của rủi ro (những điều không chắc chắn) và là nền tảng của lý thuyết tài
chính cơ bản. Nhưng trong một số trường hợp, lý thuyết này không thể giải thích được
những hành vi của con người.
1.2.2. Một số trường hợp mất hiệu lực của lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng
1.2.2.1. Hiệu ứng chắc chắn (centainty effect)
Lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng đưa ra một cách giải thích những quyết định
của con người khi có rủi ro tác động đó là dựa vào hàm lợi ích (U), nhưng trong một số
trường hợp lý thuyết này không thể giải thích được những quyết định của con người. Ta
cùng xem xét một trường hợp trong đó lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng không còn
hiệu quả đó là “hiệu ứng chắc chắn”.
Trong servey phỏng vấn nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam,
nhà đầu tư được hỏi hai tình huống: (câu 1 – bảng phỏng vấn nhà đầu tư cá nhân trên thị
trường việt nam)
Tình huống 1: lựa chọn giữa:
Phương án A: (3.000.000, 0.25); Phương án B: (4.000.000, 0.2)
15
Xác suất lựa chọn: 10% 90%
Tình huống 2: lựa chọn giữa:
Phương án A: (3.000.000); Phương án B: (4.000.000, 0.8)
Xác suất lựa chọn: 82% 18%
Theo lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng thì ở hai tình huống này phải có cùng
một sự lựa chọn (phương án A hoặc B) do:
tình huống 1:
U(A) = 25%*u(3.000.000)
U(B) = 20%*u(4.000.000)
qua đây ta có thể thấy, hai tình huống này phải có cùng một sự lựa chọn.
Hiệu ứng phản chiếu là hiện tượng chúng ta thường ưa thích rủi ro hơn khi phải
lựa chọn giữa các khoản lỗ (triển vọng âm).
1.2.2.3. Hiệu ứng cách ly (the isolation effect)
Khi lựa chọn giữa các triển vọng khác nhau, chúng ta thường không quan tâm đến
những bộ phận giống nhau mà thường tập trung chú ý đến những phần khác nhau giữa
chúng để ra quyết định lựa chọn. Ta cùng xem ví dụ: kết quả điều tra nhà đầu tư cá nhân
trên thị trường chứng khoán việt nam: (câu 4 – bảng phỏng vấn nhà đầu tư cá nhân trên
thị trường chứng khoán việt nam)
Tình huống 1: bạn đã chắc chắn nhận được 1.000.000 VND. Hãy lựa chọn giữa hai
phương án:
phương án A: (1.000.000, 0.5); phương án B: (500.000)
xác suất lựa chọn: 16% 84%
Tình huống 2: bạn đã chắc chắn nhận được 2.000.000 VND. Hãy lựa chọn giữa hai
phương án sau:
phương án A: (-1.000.000, 0.5); phương án B: (-500.000)
xác suất lựa chọn: 72% 28%
Ta có thể viết lại triển vọng của cả hai tình huống như sau:
phương án A: (1.000.000, 0.5)
phương án B: (1.500.000)
Trong cả hai tình huống, ta có thể thấy các triển vọng là không đổi, vì vậy phải cùng có
một sự lựa chọn là phương án A hoặc phương án B. Qua ví dụ này, ta có thể thấy được
một mâu thuẫn và đây cũng là một hạn chế của lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng, hiệu
ứng cách ly.
1.2.2.4 Bảo hiểm theo xác suất (Probabilistic Insurance)
Một hiện tượng được nêu ra là mâu thuẫn với lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng
đó là bảo hiểm theo xác suất.
Ví dụ: (Daniel Kahneman và Amos Tversky (1979))
17
Giả sử bạn được yêu cầu tham gia một chương trình bảo hiểm. Trong chương trình
18
Như đã nói ở trên, lý thuyết phát triển trên cơ sở phân tích những triển vọng đơn
giản, vì vậy bước đầu tiên của quá trình lựa chọn các triển vọng là biến đổi chúng về
dạng đơn giản. Quá trình này dựa trên một số nguyên tắc:
Sự mã hóa: việc ra quyết định của con người phụ thuộc vào việc kết quả đó
đem lại hay là mất đi bao nhiêu, chứ không phụ thuộc vào kết quả đó có tình trạng
hay vị trí như thế nào. Một cách nói đơn giản, quyết định của con người sẽ phụ thuộc
vào việc được hay mất bao nhiêu. Qua đây ta có một cách đơn giản để biểu diễn tất cả
các quyết định của con người, thông qua việc có thể “mã hóa” những quyết định đó
thành việc quyết định lựa chọn giữa các triển vọng.
Ví dụ: (câu 2 – bảng phỏng vấn nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt
nam) Giả định ông bà đã mua 1 chứng khoán 1 tháng trước đây với giá 50.000 đồng.
Hôm nay giá chứng khoán đó là 40.000 đồng . Ông (bà) đang cân nhắc xem có nên
bán chứng khoán đó và chịu lỗ 10.000 đồng hay tiếp tục nắm giữ trong 1 tháng với
giả định vào cuối tháng tới có tình huống sau:
- 50% xác xuất xảy ra giá chứng khoán giảm xuống còn 30.000 đồng
-50% xác xuất xảy ra với giá chứng khoán tăng lên đạt mức 50.000 đồng
* Giả sử không có các chi phí về thuế hay chi phí giao dịch. Với các thông tin trên,
ông (bà) sẽ lựa chọn phương án đầu tư nào trong 2 phương án sau :
Tình huống 5 : Bán chứng khoán ngay và chịu lỗ 10.000 đồng
Tình huống 6 : Nắm giữ chứng khoán trong 1 tháng tới.
Ta có thể mã hóa thành hai triển vọng: (-10.000) và (-20.000, 0.5).
Sự kết hợp: đôi khi chúng ta có thể đơn giản hóa những triển vọng bằng
cách kết hợp những xác suất của những kết quả tương đồng nhau.
Ví dụ: triển vọng (200, 0.25; 200, 0.25) có thể rút gọn thành (200, 0.25).
Sự tách riêng: một số triển vọng ta có thể tách riêng những bộ thận không
rủi ro ra.
Ví dụ: triển vọng (500, 0.8; 200, 0.2) ta có thể tách thành (200) và (300, 0.8).
Sự loại bỏ: như đã thấy ở phần trên, hiệu ứng cô lập là hiện tượng chúng ta
thường không quan tâm đến các bộ phận giống nhau của các triển vọng mà chỉ tập
dương, triển vọng hoàn toàn âm.
Công thức cơ bản:
20
Nếu (x, p; y,q) là triển
vọng thông thường ta có công thức:
V(x, p;y, q) = π(x)v(p) + π(y)v(q) (1)
ở đây ta có, π(0) = 0, π(1) = 1, v(0) = 0
Nếu (x, p; y, q) là
triển vọng hoàn toàn dương hoặc triển vọng hoàn toàn âm:
V(x, p; y, q) = v(y) + π(p)[v(x) – v(y)] (2)
Theo Tversky và Kahnerman (1992):
V = ∑π
i
v
i
(3)
ở đây:
x
α
, nếu x ≥ 0
v =
( -x)
α
, nếu x < 0
và
π
i
= w(P
i
chứng khoán việt nam)
Tình huống 1: lựa chọn giữa hai phương án
A: (6.000.000, 0.25), B: (4.000.000, 0.25; 2.000.000, 0.25)
xác suất lựa chọn: 30% 70%
Tình huống 2: lựa chọn giữa hai phương án
A: ( - 6.000.000, 0.25), B:(-4.000.000, 0.25; -2.000.000, 0.25)
xác suất lựa chọn: 80% 20%
Từ ví dụ trên ta có:
π(0.25)v(6.000.000) < π(0.25)[v(4.000.000) + v(2.000.000)]
π(0.25)v( - 6.000.000) > π(0.25)[v( - 4.000.000) + v( - 2.000.000)].
ở đây thể hiện được tính chất của hàm v: là hàm lõm đối với những khoản nhận được và
là hàm lồi đối với những khoản mất đi.
u’’ < 0,
hàm lõm
u
T
ì
n
h
x
23
Một ví dụ khác thể hiện tính chất của hàm v: đa số mọi người thấy không hấp dẫn
đối với triển vọng đối xứng có dạng (x, 0.5; -x, 0.5). Điều này thể hiện, lợi ích mang lại
của cùng một khoản được (x) và khoản mất (- x) là khác nhau.
Tính chất của hàm v:
v’’ < 0, nếu x > 0;
v’’> 0, nếu x < 0;
v(x) < v(- x), với x>0.
Tính chất của hàm v sẽ được thấy rõ bởi đồ thị:
Đây là một ví dụ cho ta thấy tính chất của hàm π:
đối với những giá trị p nhỏ và x dương thì π(p) là một hàm lõm,
đối với những giá trị p nhỏ và x âm thì π(p) là một hàm lồi.
như ở trên ta có thể thấy một tính chất của hàm π(p) là π(p) + π(1 – p) < 1 vì vây ta có thể
dễ dàng chứng minh đối với những giá trị p còn lại thì hàm π(p) là hàm lồi đối với những
giá trị x dương và là hàm lõm đối với những giá trị x âm.
Tóm lại ta có những tính chất của hàm π(p):
π(p) là hàm tăng dần,
π(0) = 0,
π(1) = 1,
π(p) + π(1 – p) < 1,
π(p) là hàm lõm đối với những giá trị p nhỏ và x dương,
π(p) là hàm lồi đối với những giá trị p nhỏ và x âm.
25
Tổng hợp những tính chất trên bằng đồ thị:
Hình 4: đồ thị hàm tỷ trọng π(x) đối với x dương
1.2.4 Một vài ứng dụng của tài chính hành vi và lý thuyết triển vọng
Tài chính hành vi nói chung và lý thuyết triển vọng nói riêng có những đóng góp
quan trọng trong nhiều lĩnh vực.
Đối với lý thuyết triển vọng, lý thuyết triển vọng đưa ra một công thức mới thay
thế cho công thức trong lý thuyết tối đa hóa lợi ích kỳ vọng, tổng lợi ích của triển vọng
(sử dụng đại lượng V thay thế cho đại lương U). Lý thuyết triển vọng đã đưa ra một câu
trả lời giải thích cho những quyết định của con người khi đối mặt với rủi ro. Lý thuyết đã
cho ta một kết luận: tồn tại hành vi không hợp lý (không hợp lý so với lý thuyết tối đa
hóa lợi ích kỳ vọng nói riêng, lý thuyết tài chính chính thống nói chung), và hành vi
không hợp lý mang tính hệ thống. Đây là một kết luận quan trọng để đưa ra những kết
luận khác của tài chính hành vi.
Đối với tài chính hành vi, như đã nói ở phần trên, lý thuyết tài chính hành vi đưa
ra ba giả định: tồn tại hành vi không hợp lý, hành vi không hợp lý mang tính hệ thống, và
giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính. Một khi trong thị